HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: “Phân tích nhận định: Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương pháp
luận của khoa học hiện đại, là công cụ để nhận thức, cải tạo thế giới và định
hướng cho sự phát triển của khoa học”
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng Vân
Nhóm SV thực hiện: 1. Nguyễn Ngọc Tú
2. Trần Văn Hiệu
3. Quách Văn Phi
4. Vanhnarlak Soulignavong
Lớp : Cao học viễn thông đợt 2 năm 2014
Tiểu luận triết học Mục lục
Hà nội, năm 2015
Nhóm 1: Hiệu – Tú – Phi – Vanhnarlak Page 2
Mục lục
3
Tiểu luận triết học Lời mở đầu
Lời mở đầu
Để đạt được những thành quả cao trong công việc cũng như trong mọi hoạt động
của cuộc sống thì điều kiện quyết định là ở con người, với trí tuệ và năng lực cao. Đặc
biệt là phải có một cơ sở lý luận khoa học, lấy đó làm cơ sở phương pháp luận để xây
dựng và tổ chức công việc có hiệu quả.
Phép biện chứng duy vật là khoa học và là một trong những đỉnh cao của trí tuệ
loài người. Không một ai có thể phủ nhận vai trò to lớn và những đóng góp tích cực
của việc vận dụng đúng đắn lý luận khoa học này vào mọi hoạt động của thế giới nói
chung và của từng con người nói riêng.
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, phép biện chứng duy
vật ngày càng khẳng định rõ vai trò của nó với con người ngày càng linh hoạt, sáng
tạo hơn trong việc áp dụng những lý luận đó vào từng hoạt động của mình. Đó cũng là
hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận
thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không
ngừng". Hồ Chí Minh đánh giá: "Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc
biện chứng". Có thể hiểu phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
và sự phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự
nhiên, xã hội và tư duy.
Phép biện chứng duy vật được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật
khoa học. Với đặc trưng này, phép biện chứng chẳng những có sự khác biệt căn bản
với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của
Hêghen (là phép biện chứng được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy tâm) mà
còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có
trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng
trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ
trực quan, ngây thơ và chất phác).
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với
phương pháp biện chứng, giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng. Sự ra đời của
phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là
phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó, là "phương
pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong
tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận
động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng".
Phép biện chứng duy vật có khả năng đem lại cho con người tính tự giác cao trong
mọi hoạt động. Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của sự nghiên
cứu rút ra từ giới tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người. Mỗi nguyên lý, quy
luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khái quát và luận giải trên cơ sở khoa
học. Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự
giác. Theo Ph.Ăngghen, "Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự
nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự
chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập,
tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa
giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có
hình thức, vai trò khác nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, con người rút ra
được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt dộng nhận thức và hoạt động thực
tiễn.
Nguyên lý về sự phát triển: Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái
quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ dơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự
vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự thân.
Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện
tượng. Phát triển đi theo đường "xoáy ốc", cái mới dường như lặp lại một số đặc
Tiểu luận triết học Chương I: Cơ sở lý luận triết học
trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co, phức tạp,
có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển.
Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát triển, sự
vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn, làm cho cơ cấu tổ
chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn. Phát
triển có tính khách quan, phổ biến, đa dạng. Từ nguyên lý về sự phát triển, con người
rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn.
b) Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy
vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất, tất
nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và
hiện thực, nội dung và hình thức V.V Chúng được hình thành và phát triển trong quá
trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội, Các phạm trù cái riêng,
cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở
phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp;
khái quát hoá, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ
thống. Các phạm trù nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực là cơ sỏ phương
pháp luận chỉ ra các mối liên hệ và sự phát triển giũa các sự vật, hiện tượng là một quá
tượng với nhau.
Giữa nguyên nhân, kết quả có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau. Nguyên
nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước kết quả, sau khi xuất hiện, kết quả có ảnh
hưởng tích cực trở lại đối với nguyên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân, kết quả có tính
tương đối. Một sự vật, hiện tượng ở trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng lại
là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên chuỗi nhân - quả vô tận. Do
vậy, nguyên nhân, kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể.
Tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người
nhận thức được tính không một nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ
khác nhau của sự vật, hiện tượng nên phân chia chúng thành nhóm các mối liên hệ
nhất định phải xảy ra đúng như thế và nhóm các mối liên hệ có thể xảy ra, cũng có thể
không xảy ra, cũng có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất nhiên do mối liên hệ bản
chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và
trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu
nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài
quy định, có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc có
thể xuất hiện thế khác.
Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau. Tất nhiên bao
giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua vô số ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là hình
thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất nhiên. Tất nhiên đóng vai trò chi phối sự
phát triển, còn ngẫu nhiên chỉ có thể làm cho sự phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm,
trong hình thức này hay hình thức khác. Sự phân biệt tất nhiên, ngẫu nhiên có tính
tương đối, trong những điểu kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn nhau.
Nội dung và hình thức. Việc nhận thức nội dung và hình thức gắn liền với việc
nghiên cứu các yếu tố quy định sự tồn tại của sự vật và phương thức tồn tại của nó.
Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng. Hình
thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, là hệ thống các mối
liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật, hiện tượng.
Tiểu luận triết học Chương I: Cơ sở lý luận triết học
Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó
khả năng nhất định, ngược lại, khả năng lại nằm trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ
biến thành hiện thực mới. Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực diễn ra rất phức
tạp. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật thường xuất hiện nhiều khả năng. Khả
năng nào biến thành hiện thực là tuỳ thuộc vào điểu kiện cụ thể. Trong hoạt động thực
tiễn phải dự báo các khả năng và tạo điều kiện cho khả năng tốt thành hiện thực và
ngăn ngừa khả năng xấu.
Tiểu luận triết học Chương I: Cơ sở lý luận triết học
Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến,
mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối quan hệ giữa các
phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng duy vật là
mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng. Do vậy, khi nghiên cứu các phạm trù cần
liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, bởi
dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các phạm trù hoặc các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật cũng không phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới.
c) Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Bên cạnh các cặp phạm trù, phép biện chứng duy vật còn bao hàm ba quy luật
phổ biến vể sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là quy luật
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vể chất và ngược
lại, quy luật thống nhất và đấu tranh củạ các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ
định.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất
và ngược lại chỉ rà cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Trong đó,
chất là tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ giữa các
thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác. Lượng là tính quy định vốn có
của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển
của sự vật cũng như các thuộc tính của nó. Mỗi sự vật đểu là sự thống nhất giữa chất
và lượng. Giới hạn, trong đó những thay đổi về lượng của sự vật chưa gây ra những
thay đổi căn bản về chất được gọi là độ. Những thay đổi về lượng vượt quá giới hạn
độ sẽ làm cho chất cùa sự vật biến căn bản. Điểm mà tại đó sự thay đổi căn bản về
chất được thực hiện gọi là điểm nút. Bước nhảy là bước thay đổi căn bản về chất của
phát triển sáng tạo những cái tích cực đã đạt được từ cái cũ; đồng thời phải thấy được
tính chất quanh co, phức tạp trong quá trình ra đời cái mới.
1.2. Khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học
Bài tiểu luận yêu cầu phân tích nhận định “Phép biện chứng duy vật là cơ sở
phương pháp luận của khoa học hiện đại, …, định hướng cho sự phát triển của khoa
học. Vậy khoa học là gì và nhiệm vụ của nó là như thế nào?
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học
thuyết mới,… về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn,
có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như vậy, khoa học bao gồm
một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui
luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và
không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra hai hệ thống tri thức:
tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng
ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên
nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên
và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm
được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy
nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các
thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri
thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức
kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt
động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng
phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa
Tiểu luận triết học Chương I: Cơ sở lý luận triết học
trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra
ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của nhà nghiên cứu nhằm nhận thức
thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào việc quản lý thế giới bền
chứng duy vật góp phần phản ánh đúng đắn hiện thực và trở thành hạt nhân của thế
giới quan và phương pháp luận khoa học. Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương
pháp luận của khoa học hiện đại, là công cụ để nhận thức, cải tạo thế giới và định
hướng cho sự phát triển của khoa học. Dựa trên nội dung của phép biện chứng duy vật
Tiểu luận triết học Chương I: Cơ sở lý luận triết học
cùng với việc tìm hiểu về khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, phần tiếp theo
của bài tiểu luận sẽ đi vào phân tích và làm rõ nhận định trên.
Tiểu luận triết học Chương II: ….
Chương II: Phép biện chứng duy vật là công cụ để
nhận thức và cải tạo thế giới
2.1. Phép biện chứng duy vật đặt ra một số nguyên tắc phương pháp luận cho
nhận thức và cải tạo thế giới
Trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự thống nhất giữa
nội dung thế giới quan và phương pháp luận, do đó, nó không chỉ giải thích thế giới
mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyên lý, qui luật
trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ là sự giải thích
đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của
việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự
phát triển, những qui luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy
mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của
chủ nghĩa Mac-Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho
quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận
khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, phương
pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá
trình vận động phát triển,…
2.1.1. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một
trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng
duy vật. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng
nhất định, con người chỉ phản ánh một số mối liên hệ nào đó của sự vật, hiện tượng
phù hợp với nhu cầu nhất định của mình, nên nhận thức của con người về sự vật, hiện
tượng mang tính tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn. Nắm được điều đó sẽ tránh tuyệt
đối hóa những tri thức,đã có về sự vật, hiện tượng và tránh coi những tri thức đã có là
những chân lý bất biến, tuyệt đối, cuối cùng, về sự vật, hiện tượng mà không bổ sung,
phát triển. Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan hệ của
sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của các quan hệ đó. Chỉ có như
vậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá
trình vận động, phát triển của từng mối quan hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng. Theo
V.I.Lênin, phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những
mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó, chứ không phải lấy
một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗ kia. Như vậy xem xét toàn diện nhưng không
"bình quân, dàn đểu" mà có "trọng tâm, trọng điểm", phải tìm ra vị trí từng mặt, từng
yếu tố, từng mối liên hệ ấy trong tổng thể của chúng, phải từ tri thức vể nhiều mặt,
nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để khái quát, rút ra mối liên hệ chủ yếu nhất,
bản chất nhất, quan trọng nhất chi phối sự tồn tại và phát triển của chúng.
Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều, đối lập với
chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện. Chủ nghĩa chiết trung cũng chú ý đến nhiều
mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng nhưng không rút ra được mặt bản chất,
mối liên hệ cơ bản của sự vật, hiện tượng, mà xem xét bình quân, kết hợp vô nguyên
tắc các mối liên hệ khác nhau, tạo thành một mớ hỗn tạp các sự kiện, cuối cùng sẽ
lúng túng, mất phương hướng và bất lực trước chúng. Thuật ngụy biện đưa cái không
cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Cả chủ nghĩa chiết
trung và thuật ngụy biện đều là những biểu hiện của phương pháp luận sai lẩm trong
việc xem xét các sự vật, hiện tượng. Sự khác nhau giữa chủ nghĩa chiết trung và thuật
ngụy biện với phép biện chứng duy vật nằm ở chỗ, nếu thuật ngụy biện và chủ nghĩa
chiết trung áp dụng chủ quan tính linh hoạt toàn diện, phổ biến của các khái niệm, thì
Tiểu luận triết học Chương II: ….
phép biện chứng duy vật phản ánh sự vận động, phát triển trong tính toàn diện của quá
trình vật chất và sự thống nhất của quá trình đó. Từ những phân tích trên cho thấy,
giá đúng tình hình và nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể và do
vậy không đánh giá hết những khó khăn, những thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm
vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
2.1.2. Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ
bản, quan trọng của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cơ sở lý luận của
Tiểu luận triết học Chương II: ….
nguyên tắc phát triển là nguyên lý về sự phát triển của phép hiện chứng duy vật, theo
đó, phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận
động và trong sự phát triển sẽ nảy sinh những tính quy định mới, cao hơn về chất, nhờ
đó, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng
cùng chức năng của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Do vậy, để nhận thức được sự tự
vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chúng ta phải thấy được sự thống nhất giữa
sự biến đổi về lượng với sự biến đổi vế chất trong quá trình phát triển; phải chỉ ra
được nguồn gốc và động lực bên trong, nghĩa là tìm ra và biết cách giải quyết mâu
thuẫn; phải xác định xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng do sự phủ định biện
chứng quy định; coi phủ định là tiền đề cho sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới; sự
vật, hiện tượng mới ra đời phù hợp với quy luật vận động và phát triển thì phải ủng hộ
cái mới, cái tiến bộ.
Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong
trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hóa để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng
trong trạng thái hiện tại, mà còn phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong
tương lai, nghĩa là phải phân tích để làm rõ những biến đổi của sự vật, hiện tượng,
khái quát những hình thức biểu hiện của sự biến đổi đó để tìm ra khuynh hướng biến
đổi chính của nó. Để xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển, để
phát hiện ra các quy luật quy định sự chuyển hóa về chất của nó, để xem xét sự vật,
hiện tượng trong giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác, cần phải chỉ
ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển là mâu thuẫn. Điều quan trọng là phải xem
Vận dụng nguyên tắc phát triển vào việc nhận thức về con đường tiến lên xã-
hội chủ nghĩa ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở phân tích xu hướng
phát triển của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta luôn kiên định con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, vân minh". Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là
sản xuất nhỏ, tụt hậu quá xa so với các nước trên thế giới, vì vậy phải đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, Đảng ta luôn chú ý
đến vấn đề xã hội, từng bước giải quyết vấn đề công bằng xã hội, đồng thời phải bảo
vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển một cách bền vững.
Trong suốt thời kỳ quá độ, cũng như từng giai đoạn phát triển của đất nước,
Đảng ta luôn chú ý phát hiện ra các mâu thuẫn và tìm ra phương hưởng giải quyết
mâu thuẫn để phát triển của đất nưổc. Trong thời kỳ quá độ là một thời kỷ đấu tranh
phức tạp của dân tộc ta với các thế lực thù địch, là thời kỳ đấu tranh giữa cái mới với
cái cũ và cái mới sẽ từng bước chiến thắng cái cũ. Đảng ta cũng xác định động lực
phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Về nội lực, là đại đoàn
kết toàn dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức do
Đảng ta lãnh đạo; là kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy
mọi tiềm năng và các nguồn lực của các thành phần kinh tế. vể ngoại lực, là sức mạnh
của thời đại, sức mạnh đoàn kết quốc tế. Trong đố, nội lực là quyết định, ngoại lực là
quan trọng, gắn kết vói nhau thành sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước.
2.1.3. Nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp
luận cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đặc trưng
cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật,
hiện tượng trong điều kiện, môi trường cụ thể, hoản cảnh lịch sử - cụ thể. Điểm xuất
phát của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật,
hiện tượng diễn ra trong không gian, thời gian cụ thể. Không gian, thời gian, điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì các mối liên hệ và hình thức phát triển của sự
Tiểu luận triết học Chương II: ….
vật, hiện tượng cũng khác nhau, bởi vậy không chỉ nghiên cứu chúng trong suốt quá
hiện tượng để qua đó, nhận thức được bản chất của nó.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ
biến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động
làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình
thức của vận động quyết định bản chất của nó, phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ
thể mà nó đã trải qua trong quá trinh phát triển của mình, phải biết phân tích mỗi tình
hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thì mới có thể hiểu, giải
thích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, nhũng đặc trưng chất và
lượng vốn có của sự vật, hiện tượng.
Tiểu luận triết học Chương II: ….
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ra
trong sự vật, hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà còn
yêu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự
vật, hiện tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hóa thành sự vật,
hiện tượng mới thông qua sự phủ định, chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủ
định, sự vật, hiện tượng mới là sự kế tục sự vật, hiện tượng cũ; là sự bảo tồn sự vật,
hiện tương cũ trong dạng đã được lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượng
mới. Như vậy, chỉ khi đã tìm được mối liên hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái
chất lượng, tạo nên lịch sử hình thành và phát triển cùa sự vật, hiện tượng đang nghiên
cứu, tạo nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hóa của nó, quy định giai đoạn
phát triển này sang giai đoạn phát triển khác cho tới trạng thái chín muồi và chuyển
hóa thành trạng thái khác, hay thành các mặt đôi lập của nó, thì mới có thể giải thích
các đặc trưng chất lượng và số lượng đặc thù của nó, nhận thớc được bản chất của nó.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượng
trong các mối liên hệ cụ thể của chúng. Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ thể
của sự vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như diệt vong của
chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất các sự vật, hiện tượng và từ đó mới có
định hướng đúng cho hoạt động thực tiễn của con người. Đối với việc nghiên cứu quá
trình nhận thức, nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phụ thuộc
của quá trình đó vào trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất và
thống chính trị vững mạnh.
2.2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật tác động tới hoạt động
nhận thức và thực tiễn
Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con
người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện
tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật”.
Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm
của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ của các sự vật và tính chỉnh thể của chúng.
V.I. Lênin viết: “ Khái niệm là một quy luật trong những giai đoạn của sự nhận thức
của con người về tính thống nhất và về liên hệ, về sự phụ thuộc lẫn nhau và tính chỉnh
thể của quá trình thế giới”.
Các quy luật hết sức đa dạng, muôn vẻ: có quy luật xã hội, quy luật tự nhiên, quy
luật của tư duy, các quy luật riêng, những quy luật phổ biến, Chúng khác nhau về
mức độ phổ biến, về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá
trình vận động và phát triển của sự vật. Trong đó, các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật là những quy luật phổ biến, những quy luật tác động trong mọi lĩnh vực
tự nhiên, xã hội và tư duy.
Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật phản ánh quá trình vận động và
phát triển từ những phương diện cơ bản của nó: quy luật chuyển hóa từ những thay
đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức của sự
vận động và phát triển, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làm sáng
tỏ nguồn gốc của sự vận động và phát triển, quy luật phủ định của phủ định cho biết
khuynh hướng của quá trình phát triển qua việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những
nấc thang khác nhau của quá trình đó.
2.2.1. Yêu cầu của quy luật chuyển hóa lượng – chất đối với hoạt động nhận thức
và thực tiễn
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần
dần về lượng đến một giới hạn nhất định thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do
đó trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết từng bước tích
luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật. Trong hoạt động của mình, ông
2.2.2. Yêu cầu của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập với hoạt
động nhận thức và thực tiễn
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp
luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng
cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật.
Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những
khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó. V.I.Lênin viết: “ Sự phân đôi
của cái thống nhất và sự nhận thức của các bộ phận của nó, đó là thực chất…của phép
Tiểu luận triết học Chương II: ….
biện chứng”.
Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng
mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn, phải
xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác
động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng. Chỉ có như thế
mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển
và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn.
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không
được điều hoà mâu thuẫn.Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình
độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để
giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi. Một
mặt phải chống thái độ chủ quan, nóng vội, mặt khác phải tích cực thúc đẩy các điều
kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi.
Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra các hình
thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn,
vừa phù hợp với điều kiện cụ thể
2.2.3. Yêu cầu của quy luật phủ định của phủ định với hoạt động nhận thức và
thực tiễn
Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng
phải biết kế thừa có chọn lọc những cái vốn là tinh hoa của cái cũ, sử dụng chúng như
là tiền đề của sự nảy sinh cái mới tiến bộ hơn, biết giữ hình thức và cải tạo nội dung
cho phù hợp như ông cha ta đã nói: “bình cũ rượu mới”. Hơn nữa chúng ta phải biết
lựa chọn để tiếp thu cái mới cho phù hợp chống cả tư tưởng “cũ người mới ta” trong
đời sống xã hội và cuộc sống của con người.
Mỗi quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật mà chúng ta nghiên cứu trên
dây, đề cập đến những phương diện khác nhau của quá trình vận động và phát triển
của sự vật. Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất cứ sự vật nào cũng là sự
tác động tổng hợp của tất cả những quy luật cơ bản do phép biện chứng duy vật trừu
tượng hoá và khái quát hoá. Do đó trong hoạt động của mình, cả hoạt động nhận thức
lẫn hoạt động thực tiễn, chúng ta phải vận dụng tổng hợp những quy luật đó một cách
đầy đủ, sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể. Chỉ có như vậy,
hoạt động của chúng ta, kể cả hoạt động học tập mới đạt được chất lượng và hiệu quả
cao.
2.3. Chủ nghĩa duy vật biện chứng mang tính thực tiễn – cách mạng, nó hướng
dẫn con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản. Sức mạnh vật
chất của giai cấp kết hợp nhuần nhuyễn với sức mạnh tinh thần của triết học tạo nên
sức mạnh tổng hợp của thời đại. Chỉ có sức mạnh tổng hợp này mới làm thay đổi trật
tự của thế giới.
"Giống như triết học tìm thấy vũ khí vật chất của mình trong giai cấp vô sản, giai
cấp vô sản tìm thấy vũ khí của mình trong triết học".C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định:
giống như chủ nghĩa duy vật biện chứng thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của
mình, giai cấp vô sản cũng thấy chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí tinh thần của
mình nên ngay từ đầu, khuynh hướng mới, coi lịch sử phát triển của lao động là chìa
khoá để hiểu toàn bộ lịch sử của xã hội, đã chủ yếu hướng về giai cấp vô sản và đã
được giai cấp vô sản dành cho một sự hưởng ứng mà nó không tìm thấy và không
mong chờ có được ở một nơi nào khác.
Tiểu luận triết học Chương II: ….
Lợi ích của giai cấp vô sản phù hợp với lợi ích của nhân loại tiến bộ. Cuộc đấu
Trung Quốc, Đổi mới ở Việt Nam là một thí dụ sinh động. Với bản chất bóc lột không
hề thay đổi và những hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được do nó gây ra,
chủ nghĩa tư bản dù vẫn tiếp tục tồn tại nhưng nó không thể là tương lai của nhân loại.
Tương lai loài người thuộc về chủ nghĩa cộng sản.
Là một hệ thống các quy luật phổ biến, chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành
công cụ tinh thần để xoá bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới tiến bộ.