LUẬN VĂN:
Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam với đội tiên phong là Đảng
Cộng sản Việt Nam quang vinh, luôn nêu cao bản chất cách mạng, là giai cấp lónh đạo
thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí
chất lượng là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Nằm ở phía tây nam của đất nước, thuộc đồng bằng sông Cửu Long tỉnh Kiên
Giang có diện tích tự nhiên 629.905ha, hơn 200 km đường bờ biển với diện tích vùng
biển là 63.000km
2
, có đường biên giới trên bộ với Campuchia, biên giới trên biển với
Campuchia, Thái lan, Malaysia; hơn nữa, Kiên Giang là địa phương có nguồn tài nguyên
- khoáng sản phong phú chủ yếu là các loại mỏ đá vôi vì vậy có tiềm năng to lớn để phát
triển mạnh nông nghiệp và nhiều ngành công nghiệp nhất là công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng, sửa chữa và đóng mới tàu thuyền, công nghiệp chế biến thuỷ sản… cũng như
các ngành nghề dịch vụ - du lịch.
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lónh đạo, kinh tế trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đó cú những chuyển biến theo hướng tích
cực; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ đó, đội
ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang đó cú sự tăng nhanh về số lượng và chất lượng, là lực
lượng có vai trũ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xó hội của tỉnh.
Tuy nhiên, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đội ngũ công nhân tỉnh
Kiên Giang cũn hạn chế về nhiều mặt: trỡnh độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề cũn thấp;
tỡnh trạng thừa lao động giản đơn, thiếu lao động có trỡnh độ chuyên môn cao, tay nghề
giỏi; toàn tỉnh lao động qua đào tạo nghề mới đạt 13%; lũng say mờ nghề nghiệp, ý thức
tổ chức, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp cũn yếu. Tỷ lệ đảng viên, đoàn viên
công đoàn, đoàn viên thanh niên trong công nhân cũn thấp, nhất là khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh; chưa phát huy vai trũ nũng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức nên chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh Kiên Giang .
Từ những vấn đề nêu trên việc nghiên cứu đề tài: “Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên
- PGS, TS. Tạ Ngọc Tấn. GS, TS. Trương Giang Long. Ths. Trần Văn Lợi (2008),
Thực trạng đời sống văn hoá - tinh thần của công nhân ở vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam và vấn đề đặt ra. Nxb công an nhân dân, Hà Nội.
* Các bài báo khoa học:
- PGS, TS. Phan Thanh Khôi (2006), Đại hội X của Đảng với vấn đề liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Tạp chí Lao động và
công đoàn, số 370 tháng 12 (kỳ 2), tr 4-5-35.
- TS. Dương Văn Sao (2007), Xõy dựng, phỏt huy vai trũ giai cấp cụng nhõn,
nhõn tố quyết định thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tạp chí Lao động và công đoàn, số 376 (kỳ 2), tr 2-3-35.
* Các luận văn, luận án:
- Nguyễn Văn Năm (1995), Cụng nhõn Hải Phũng trong cụng cuộc đổi mới những
vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết. Luận văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành chủ
nghĩa xó hội khoa học.
- Trần Ngọc Sơn (2001), Sự phỏt triển của giai cấp cụng nhõn Việt Nam và vai trũ
của nú trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hóa đất nước. Luận án tiến sĩ triết học,
chuyờn ngành chủ nghĩa xó hội khoa học.
- Phạm Hồng Hải (2002), Xây dựng đội ngũ công nhân Đồng Nai đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Luận văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành chủ
nghĩa xó hội khoa học.
- Nguyễn Thị Hường (2005), Đội ngũ cụng nhõn Thỏi Nguyờn với quỏ trỡnh cụng
nghiệp hoỏ, hiện đại hoá, Luận văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xó hội khoa
học.
Kết quả nổi bật của các công trình nghiên cứu nêu trên đây thể hiện ở các nội dung
như sau:
- Đi sâu phân tích khái niệm giai cấp công nhân; những đặc trưng, vai trũ và sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, nhất là trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
vấn đề đặt ra đối với đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đề xuất một số phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội
ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó đặt trọng tâm vào đội ngũ những công nhân trực tiếp
sản xuất và tham gia phục vụ trong các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và công nghiệp hóa, hiện đại
hoá. Đồng thời, luận văn có kế thừa và sử dụng kết quả nghiờn cứu của một số cụng
trỡnh khoa học cú liờn quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như là
phương pháp luận chung.
Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: khảo sát, điều
tra xó hội học, thống kờ, phõn tớch- tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Khẳng định đặc điểm nổi bật của đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang là có quá
trỡnh ra đời sớm nhưng tính chất lao động công nghiệp vẫn đang trong quá trỡnh mới
hỡnh thành, và đội ngũ công nhân của tỉnh chủ yếu là lao động phổ thông sản xuất trong
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TỈNH KIÊN GIANG
1.1.1. Về khái niệm giai cấp công nhân
Trong từ điển tiếng Việt thuật ngữ công nhân được hiểu là những người lao động
chân tay làm việc ăn lương [49, tr.202]. Đây là cách hiểu khái quát, phù hợp với các quan
niệm thường ngày của người dân trong xó hội mà chưa phải là một quan niệm khoa học.
Bởi lẽ, quan niệm này có hạn chế là chưa nêu bật được bản chất, nguồn gốc ra đời giai
cấp công nhân, chưa phân biệt sự đồng nhất và khác biệt giữa giai cấp cụng nhõn trong
xó hội tư bản và trong xó hội xó hội chủ nghĩa. Hơn nữa, nếu quan niệm công nhân chỉ là
những người lao động chân tay để phân biệt với những người trí thức vốn là tầng lớp
những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hoá
thỡ cũng chưa thật sự đúng bởi người công nhân giờ đây không phải chí có lao động chân
tay mà đó lao động bằng máy móc, đồng thời họ cũng là những người công nhân được
“trí thức hoá”, có trí tuệ.
Từ thực tiễn lịch sử cho thấy quan niệm của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác -
Lênin về giai cấp công nhân vẫn là những quan niệm khách quan , khoa học và đúng đắn,
bởi bản thân các ông không chỉ là người đó sống và làm việc trong xó hội tư bản chủ
nghĩa mà cũn là những người đó dành trọn cuộc đời để nghiên cứu về bản chất, nguồn
gốc ra đời, các xu hướng vận động phát triển của hiện tượng xó hội phức tạp này cũng
như đó phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người thủ tiêu giai cấp tư
sản và xây dựng thành cụng chủ nghĩa xó hội, chủ nghĩa cộng sản.
Trong rất nhiều tỏc phẩm của mỡnh, C.Mỏc và Ph.Ăngghen đó xem xột khỏi niệm
giai cấp cụng nhõn trờn tất cả cỏc khía cạnh, các dấu hiệu đặc trưng và các thuộc tính bản
chất nhất của nó. Ngay từ năm 1845, khi bắt tay vào nghiên cứu giai cấp công nhân trong
tác phẩm “Gia đỡnh thần thỏnh” C.Mỏc đó đặt câu hỏi:
Vấn đề không phải ở chỗ hiện nay người vô sản nào đó, thậm chí toàn bộ
giai cấp vô sản, coi cái gì là mục đích của mình. Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô
bao gồm những công nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát
triển cùng với sự phát triển của đại công nghiệp. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng:
“Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công
nghiệp, cũn giai cấp vụ sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [28,
tr.610] hay “công nhân là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc
vậy…Công nhân Anh là đứa con đầu lũng của nền công nghiệp hiện đại…” [31,
tr.11].
Như vậy, giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển
của đại công nghiệp. Chính vỡ thế, giai cấp cụng nhõn là hiện thõn của lực lượng sản
xuất tiên tiến, hiện đại, và mang trong mỡnh những đặc trưng riêng có mà không một giai
tầng nào có được đó là tinh thần cách mạng triệt để, ý thức tổ chức kỷ luật, tỡnh đoàn kết
giai cấp quốc tế vô sảnMặt khác, khi giai cấp công nhân chưa giành được chính quyền
thỡ thõn phận của họ là thõn phận của những người làm thuê. Điều này đó diễn ra
trong thế kỷ XIX khi giai cấp công nhân - giai cấp những người làm thuê, do không
có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư bản
bóc lột giá trị thặng dư. Chính vỡ vậy, C.Mỏc và Ph.Ăngghen đó gọi giai cấp cụng
nhõn là giai cấp vụ sản. Và chớnh điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành
giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản: Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên giai
cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện
là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng
thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mỡnh để
kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ
món hàng nào khác; vỡ thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự
lờn xuống của thị trường [30, tr.605].
Phát triển học thuyết mới của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, thời đại
đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại chủ nghĩa xó hội hiện thực. Lờnin đó
bổ sung, phỏt triển những thuộc tớnh mới của giai cấp công nhân. Theo Ông, giai cấp
cụng nhõn: “Là giai cấp thống trị về chớnh trị, giai cấp lónh đạo toàn xó hội trong cuộc
đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xó hội mới, trong toàn bộ cuộc
người công nhân hiện đại, những người vô sản” [30, tr.695]
Sức thuyết phục trong việc luận giải bản chất, nguồn gốc và sứ mệnh lịch sử toàn
thế giới của giai cấp công nhân của C.Mác và Ph.Ăngghen thể hiện ở chỗ các ông luôn
gắn giai cấp vô sản - giai cấp công nhân “trên quy mô của lịch sử thế giới”. Trong tác
phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông đã từng nêu rõ vấn đề này: “Như vậy là giai cấp vô sản
chỉ có thể tồn tại trên quy mô của lịch sử thế giới, cũng như chủ nghĩa cộng sản, tức là
hoạt động của giai cấp vô sản, hoàn toàn chỉ có thể tồn tại được với tư cách là một tồn tại
“có tính lịch sử thế giới” [29, tr.51].
Vận dụng sáng tạo, phát triển sáng tạo học thuyết Mác trong điều kiện mới,
V.I.Lênin tiếp tục phân tích và khẳng định “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân”, rằng “giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất tiên
tiến nhất” [20, tr.430].
Mặt khác, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh
lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân còn được phân tích, luận giải trong mối quan
hệ giữa giai cấp công nhân với Đảng Cộng sản- là điều kiện chủ quan để giai cấp công
nhân có thể thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trước hết từ quan hệ lợi
ích. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nờu rừ vấn đề này:
Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với
các đảng công nhân khác.
Họ tuyệt nhiên không có lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai
cấp vô sản.
Họ không đặt ra những nguyên tắc riêng biệt nhằm khuôn phong trào vô
sản theo những nguyên tắc ấy [30, tr.614].
Từ đó đã chỉ rõ: “về mặt thực tiễn, những người vô sản là bộ phận kiên quyết nhất
trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở
chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” [30,
Những phần tử “ vô sản” này C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là “công nhân quý tộc”. Đây là
lý do giải thớch tại sao trong các tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đó sử dụng
những hàm nghĩa khỏc nhau khi cùng phản ánh thuật ngữ “giai cấp vô sản”; trong đó,
“cụng nhõn quý tộc” và tầng lớp vụ sản lưu manh không cũn là bộ phận của giai cấp cụng
nhõn nữa mà, hoặc đó trở thành là tầng lớp cặn bó của xó hội, hoặc là một bộ phận của
giai cấp tư sản phản động để nhằm phân biệt với bản chất cỏch mạng của giai cấp cụng
nhõn gắn với vai trũ, sứ mệnh lịch sử của nú.
Như vậy, dựa trên hai tiêu chí cơ bản là 1) dựa vào vị trí vai trũ người công nhân
trong lực lượng sản xuất xó hội; 2) vị trớ người công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa, C.Mác, Ph.Ăngghen đó phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xó hội
khỏc, đồng thời sử dụng khá nhiều cách gọi, cách diễn đạt khác nhau tuỳ từng hoàn cảnh
lịch sử cụ thể để chỉ cùng một đối tượng, đó là giai cấp vô sản, giai cấp công nhân.
Ngày nay mặc dù thế giới có nhiều đổi thay, cơ cấu giai cấp xó hội của giai cấp
công nhân cũng vậy cũng có sự biến đổi, số lượng người công nhân lao động có trí tuệ
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giai cấp công nhân đặc biệt ở các quốc gia
công nghiệp phát triển. Hơn nữa, ngày nay chủ nghĩa tư bản do nắm và làm chủ được
công nghệ sản xuất hiện đại nên đó tạo nờn được những thành tựu to lớn trong sản xuất,
và cũng để điều tiết các mâu thuẫn trong xó hội bản thõn chủ nghĩa tư bản cũng đó tự
điều chỉnh để có thể thích nghi hơn với các cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ những mâu
thuẫn vốn có của nó nên thực hiện cổ phần hoá, người công nhõn vỡ vậy cũng có cổ phần
trong doanh nghiệp, đời sống luôn được cải thiện không ngừng nhưng khụng vỡ thế
những mõu thuẫn vốn cú của CNTB mất đi trái lại vấn cũn đó. Và những cuộc khủng
khoảng vẫn là bản chất của chế độ xó hội này mà hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự
khủng hoảng toàn cầu của CNTB trên qui mô toàn thế giới bắt nguồn từ khủng hoảng tài
chính, nhà đất ở nước Mỹ. Chính vỡ vậy, những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin về giai cấp công nhân đến nay vẫn cũn nguyờn giỏ trị. Những quan điểm đó là
thuật và cụng nghệ cao, cú vai trũ to lớn trong nền sản xuất xó hội, và là một trong những
động lực chủ yếu trong quỏ trỡnh chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xó hội.
Đó là do lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trỡnh độ nhân thức và phương pháp tiếp
cận khác nhau mà dẫn đến có các quan niệm không giống nhau về vấn đề này. Nhưng
quan niệm đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc nhất vẫn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về giai cấp công nhân.
Về giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp cụng nhõn Việt Nam là một bộ phận của giai cấp cụng nhõn thế giới. Vỡ
vậy, giai cấp cụng nhõn nước ta có đầy đủ những đặc trưng cơ bản của giai cấp công
nhân nói chung, đồng thời, có những nét đặc thù riêng có do hoàn cảnh lịch sử đất nước
Việt Nam quy định.
Thực vậy, xột về thời gian lịch sử thỡ giai cấp cụng nhõn Việt Nam ra đời gắn liền
với việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tức là cũng chỉ mới hỡnh thành và phỏt
triển từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây, và đội ngũ công nhân buổi đầu ra đời chủ yếu cũng chỉ
phục vụ cho cuộc sống, sinh hoạt và công việc khai thác thuộc địa của thực dân, đó là các
ngành công nghiệp khai thác mỏ, đồn điền cao su, điện do vậy giai cấp công nhân Việt
Nam chưa có thâm niên lâu đời như đội ngũ công nhân tại các quốc gia công nghiệp
khác. Mặt khác, do bị bóc lột tận xương tủy nên ngay từ khi ra đời và sau đó được Đảng
giác ngộ công nhân Việt Nam sớm nêu cao bản chất là lực lượng tiền phong trong mọi
hoạt động cách mạng, thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và hiện nay đang
cùng với mọi lực lượng xó hội khỏc tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH.
Về định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam cho đến nay cũng đó có khá nhiều
cụng trỡnh đề cập đến, tiêu biểu là: “Đổi mới chính sách xó hội đối với công nhân và thợ
thủ công” của Trung tõm nghiờn cứu thụng tin lý luận, Tổng liờn đoàn lao động Việt
Nam, 1995; “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam” của Giáo sư
Văn Tạo, 1997, trong đó các tác giả đều nhấn mạnh đến đặc điểm giai cấp công nhân
quyền xô viết cộng với điện khí hoá toàn quốc… Chỉ khi nào nước ta đó điện khí hoá, chỉ
khi nào công nghiệp, nôngn ghiệp và vận tải đó đứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại
công nghiệp hiện đại, thỡ lỳc đó, chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn” [23,
tr.195]; đồng thời “ cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của CNXH là nền đại công
nghiệp” [24, tr.60]. Chớnh vỡ vậy, cụng nghiệp hoỏ là quỏ trỡnh mang tớnh quy luật của
cỏc nước quá độ lên chủ nghĩa xó hội từ nền sản xuất nhỏ, tiểu, thủ công lạc hậu.
Đối với nước ta, một nước có nền kinh tế kém phát triển- tiểu nông lạc hậu-
quá độ lên chủ nghĩa xó hội “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa thỡ vấn đề đặt ra là phải
xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xó hội, đảm bảo cho “CNXH có thể
phát triển trên cơ sở của chính mỡnh”. Chớnh vỡ vậy, cụng nghiệp húa, hiện đại hóa
đó được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xó hội.
Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), Đảng ta đó xỏc định nhưng
nội dung cơ bản của công nghiệp hóa là: Thực hiện cụng nghiệp hoỏ xó hội chủ nghĩa
bằng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đồng thời phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ. Văn kiện Đại hội nờu rừ:
Nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công
nghiệp hóa xó hội chủ nghĩa, mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng.
Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp và nông nghiệp là hai bộ phận
chủ yếu quan hệ mật thiết với nhau: công nghiệp, trước hết là công nghiệp
nặng, giữ vai trũ chủ đạo, và nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp.
Vỡ vậy, chủ trương của Đảng ta về công nghiệp hóa xó hội chủ nghĩa ở miền
Bắc là: xõy dựng một nền kinh tế xó hội chủ nghĩa cõn đối và hiện đại kết hợp
công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông
Trong bối cảnh hiện nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa. Bởi lẽ,
hiện đại hóa là quá trỡnh chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xó hội từ chỗ theo những quy trỡnh cụng nghệ thủ
cụng là chớnh sang sử dụng một cỏch phổ biến những quy trỡnh cụng nghệ, phương tiện
và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo
ra năng suất lao động, hiệu quả và trỡnh độ văn minh kinh tế - xó hội cao. Điều này cũng lý
giải tại sao nếu CNH khụng gắn liền với hiện đại hoá thỡ Việt Nam khú trỏnh khỏi tỡnh
trạng sẽ là bói rỏc thải cụng nghiệp của cỏc quốc gia cụng nghiệp phỏt triển, và việc tụt hậu
ngày càng xa so với các quốc gia phát triển sẽ là điều hiện thực.
Rừ ràng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai quỏ trỡnh khỏc nhau, nhưng lại đan
xen, lồng ghép, bổ sung tạo nên sự phát triển toàn diện cả về kinh tế và xó hội.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có lợi thế của các quốc gia đi sau, nếu chúng
ta biết học tập kinh nghiệm của các quốc gia đi trước như Nhật Bản, Hàn quốc, tranh thủ
được lợi thế này và có quan hệ thân thiện trên cơ sở “đôi bên cùng có lợi” với các đối tác
nước ngoài thỡ hoàn toàn cú thể cho phộp “đi tắt đón đầu”, đi ngay vào công nghệ hiện
đại mà không cần các bước công nghiệp hoá tuần tự vừa mất nhiều thời gian, công sức
vừa tốn kém tiền bạc như vốn đây một thời chúng ta đó quan niệm truyền thống giản đơn,
máy móc rằng việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ có thể từ việc tích luỹ từ
nội bộ nền kinh tế cũng như chỉ có thể dựa vào sự hỗ trợ quớ bỏu từ cỏc quốc gia xó hội
chủ nghĩa anh em.
Lẽ dĩ nhiên, đẩy mạnh CNH, HĐH chúng ta không thể đánh đổi bằng mọi giá,
không thể chỉ chạy theo số lượng đất nước có bao nhiêu khu công nghiệp, có bao nhiêu
dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, số vốn đầu tư trực tiếp FDI là bao nhiêu, mà
phải trên cơ sở thực hiện đúng đắn, nghiêm ngặt các nguyên tắc: giữ vững độc lập tự chủ
đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn
dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo; lấy việc phát huy
của đất nước và của tỉnh. Vỡ vậy, chỉ cú thể hiểu rừ được đội ngũ này từ đó có giải pháp phát
huy vai trũ của họ khi chỳng ta làm rừ cỏc đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xó hội
của tỉnh.
1.2.1. Về điều kiện tự nhiên, tỡnh hỡnh kinh tế - xó hội tỉnh Kiờn Giang
* Về điều kiện tự nhiên tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là vùng đất tận cùng ở phía Tây Nam của Tổ quốc. Phía Đông và
Đông Nam giáp với tỉnh An Giang và Cần Thơ, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu,
phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp vương quốc Campuchia. Kiên Giang có
14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: Thành phố Rạch Giá, thị Xó Hà Tiờn, huyện Kiờn
Lương, huyện Hũn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện
Gũ Quao, huyện An Biờn, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phỳ Quốc, huyện
Kiên Hải và huyện U Minh Thượng.
Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.269 km
2
, dân số gần 1,7 triệu người. Trong đó
dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,23%; Hoa: 2,97%. Dân số của tỉnh phân bố không đều,
thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sụng ngũi và một số đảo. Theo kế
hoạch dân số, phấn đấu hạ tỷ lệ sinh hàng năm từ 0,5-0,6‰ giai đoạn 2001-2005 và giảm
0,4‰ giai đoạn 2006-2010 thỡ qui mụ dõn số toàn tỉnh đến 2005 là 1.689.745 người và
đến năm 2010 hơn 1.834.000 người [50].
Với diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 629.905 ha, trong đó đất nông nghiệp
411.974 ha chiếm 65,72% đất tự nhiên, riêng đất lúa 317.019 ha chiếm 76,95% đất nông
nghiệp, bỡnh quõn một hộ cú hơn 1 ha đất trồng lúa, đất lâm nghiệp có 120.027ha chiếm
19,15% diện tích đất tự nhiên màu mỡ rất thích hợp với các cây công nghiệp như: đậu
phộng (lạc), đậu nành (đỗ tương), khóm (dứa), mía và nhiều loại cây ăn quả hứa hẹn cho
ngành chế biến có nhiều thuận lợi về nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, qui mô
diện tích và sản lượng thu hoạch đủ để đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp chế
biến nông sản của tỉnh như: chế biến gạo, chế biến đường, chế biến khóm, các loại cây ăn
trái khác.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: năm 2007 sản lượng lúa của tỉnh đạt 2,977
triệu tấn, tăng 233.000 tấn so năm trước (đạt 103,5% kế hoạch), trong đó lúa chất lượng
cao chiếm 68% tổng sản lượng. Các cấp, các ngành trong tỉnh đó tập trung chỉ đạo
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chuyển diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng
thủy sản; nhiều mô hỡnh luõn canh, xen canh màu và nuụi trồng thủy sản cú hiệu quả, thu
nhập bỡnh quõn đạt 30 triệu đồng/ha đất nông nghiệp.
Đó hoàn thành quy hoạch chi tiết thủy lợi vựng U Minh Thượng và nuôi trồng
thủy sản ven biển. Hỗ trợ cho nông dân vay 12,5 tỷ đồng và lói suất 1,2 tỷ đồng mua 100
máy gặt đập liên hợp phục vụ sản xuất. Hoàn thành việc quy hoạch phát triển chăn nuôi
gia súc, gia cầm và điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2006 - 2015, diện
tích rừng hiện cũn 85.778 ha, đạt tỷ lệ che phủ 13% [51, tr.1].
Khai thác và nuôi trồng thủy sản, sản lượng 410.801 tấn, đạt 105,8% kế hoạch,
tăng 8,7% so năm trước, trong đó nuôi tôm phát triển khá (sản lượng 28.350 tấn, đạt
105% kế hoạch, tăng 24%). Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cấp các cơ sở dịch vụ hậu
cần nghề cá; tăng cường các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kiểm tra chất lượng
giống, hướng dẫn kỹ thuật cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung [51, tr.2].
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp - xây dựng: giá trị sản xuất công nghiệp năm
2007 ước đạt 102% kế hoạch, tăng 13% so năm trước, chủ yếu do đóng góp của công
nghiệp ngoài quốc doanh tăng trưởng cao (đạt 119% kế hoạch, tăng 28,2%). Đó hoàn
thành quy hoạch chi tiết và giao các nhà đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công
nghiệp Tắc Cậu (giai đoạn II), Thạnh Lộc - Châu Thành; Thuận Yờn - Hà Tiờn; cụm
cụng nghiệp Vĩnh Hũa Hưng Nam - Gũ Quao và Thứ Bảy - An Biên; xúc tiến quy hoạch
cụm công nghiệp Vĩnh Phong - Vĩnh Thuận, Dương Đông và Vịnh Đầm - Phú Quốc.
Huy động vốn đầu tư phát triển 8.362,6 tỷ đồng, đạt 89,2% kế hoạch, trong đó vốn
nhà nước do địa phương quản lý 1.556 tỷ đồng, gần đạt kế hoạch, giải ngân đạt 87,5%.
Tập trung đầu tư cho các công trỡnh giao thông, thủy lợi, điện, giáo dục, y tế Một số
đầu tư phát triển Phú Quốc và đi vào hoạt động [51, tr.3].
* Về phát triển các thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển. Đó hoàn thành phương án sắp xếp,
đổi mới doanh nghiệp nhà nước của tỉnh giai đoạn 2002 - 2006 và xây dựng kế hoạch
sắp xếp và cổ phần hóa giai đoạn 2007 - 2009; qua sắp xếp đó giảm từ 23 cũn lại 11
cụng ty nhà nước (trong đó có 2 công ty hoạt động theo mô hỡnh cụng ty mẹ - cụng ty
con) và 21 cụng ty cổ phần cú vốn nhà nước; từng bước chấn chỉnh nâng cao hiệu quả
hoạt động.