Báo cáo đề tài:" Công tác tổ chức lễ hội và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Qúy, huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang" - Pdf 15

Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
Lời cảm ơn!
Để hoàn thành để tài nghiên cứu khoa học này em xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới các thầy, cô trong khoa Quản lí văn hóa, trường Đai học văn hóa Hà
Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện để em có thể hoàn thành đề tài
nghiên cứu khoa học này.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Trần Thị Thục Quyên -
giảng viên trường đại học Vă hóa Hà Nội. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài
em luôn nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của cô, giúp em hoàn
thành tốt đề tài nghiên cứu của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Kiều
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
1
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
MỤC LỤC
Chương 3 31
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN
LÝ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG NHƯ XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ, 31
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 31
PHỤ LỤC 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật
thể của dân tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứa đựng
trong nó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và
văn nghệ dân gian. Bên cạnh đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng trong Văn hóa Việt
Nam tìm tòi và suy ngẫm thì “Lễ hội còn là một sản phẩm và biểu hiện của một
nền văn hóa”.

thống ở địa phương mình là một việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất
lượng tổ chức lễ hội cũng như bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc.
Trên cơ sở những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Công tác tổ chức
và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
3
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
2.2. Phạm vi nghiên cứu.
Lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang từ năm 1945 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu lễ hội đình làng Như Xuyên nhằm cung cấp một số thông tin
về cơ sở ra đời, quá trình hình thành, những đặc điểm cũng như tìm ra những giá
trị tiêu biểu và thực trạng của công tác tổ chức và quản lý lễ hôi. Từ đó, đề xuất
một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình
làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Quan sát
- Phỏng vấn
- Nghiên cứu tài liệu
- Phân tích
5. Đóng góp của đề tài (ý nghĩa thực tiễn).
Đóng góp về tư liệu nghiên cứu: Đề tài góp phần là một nguồn tư liệu, dẫn

hội là hệ thống phân bố theo không gian: vào mùa xuân và mùa thu, khi công
việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác,
mỗi vùng có lễ hội của riêng mình. Lễ hội có phần lễ và phần hội: Phần lễ mang
ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình. Phần hội
gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn các
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
5
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông
nghiệp”.
Bên cạnh lễ, hội có nghĩa là cuộc vui được tổ chức cho đông đảo người
tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt.
GS. Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là một hiện tượng tổng thể, không
phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học
giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín
ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh
nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn
hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là
phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp”.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam có nhiều cách trình bày
định nghĩa lễ hội như trong Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) có viết: Lễ là hệ
thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với
thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống
mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện, còn hội là sinh hoạt văn hóa, tôn
giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và
phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia
đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu
của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ
“Nhân khang, vật thịnh”.
Trong cuốn Văn hóa học xuất bản năm 1997, Đoàn Văn Chúc còn cho

các vị thần tiếp tục che chở, bảo vệ và ban phúc lành may mắn, thịnh vượng cho
họ. Các lễ hội truyền thống thể hiện rõ nhất điều này. Trong lễ hội truyền thống
có sự tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng. Tôn giáo thông
qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn
giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục.
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
7
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
Liên quan đến khái niệm “Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội
cổ truyền” dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau. Truyền thống hay cổ
truyền thật ra chỉ là hai thuật ngữ Hán – Việt dùng để nói về cùng một đối
tượng.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ
truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng
định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội. Như vậy,
lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình
thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội được tổ chức
theo những giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong Hán – Việt Từ điển bách khoa,
Đào Duy Anh đã định nghĩa truyền thống như sau: “Thống gồm có nghĩa là mối
tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với
nhau mang ý nghĩa “Đời nọ truyền xuống đời kia”.
Ngoài “Lễ hội truyền thống” và “Lễ hội cổ truyền” còn có “Lễ hội dân
gian” là lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của các xã hội truyền thống. Xã
hội truyền thống có thể hiểu là những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị
“cộng đồng”, dựa trên ưu thế của tính chất “cộng đồng”. Hơn nữa, xã hội truyền
thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội truyền thống
là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội tiền công nghiệp
tồn tại trước khi hình thành những dân tộc quốc gia. Từ đó có thể thấy, “Lễ hội
truyền thống”, “Lễ hội cổ truyền” hay “Lễ hội dân gian” là đồng nhất với nhau
nói về lễ hội trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân xưa và nay.

phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một
sự quản lý nào đó. Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi
trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học, điều khiển học Vì thế, các
nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản
lý.
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
9
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc.
Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người
kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm
cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm
người, một tổ chức.
- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc
điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác.
- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó
thấy được rằng, họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ - nxb Đà Nẵng năm 2002) thì
quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định.
- Theo điều khiển học thì: Quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo
một hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên
tắc, luật định tương ứng để cho quá trình ấy vận động theo ý muốn của người
quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước.
Như vậy, một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý theo Mai
Hữu Luân trong cuốn Lý luận quản lý hành chính nhà nước (2003) như sau:
“Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng

tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hóa.
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa
phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình
theo quy định của pháp luật. Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc
tỉnh, thành phố, các Phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện, các Ban Văn hóa các
xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp Ủy
ban nhân dân các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình.
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
11
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn
hóa. Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện
tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương đường lối, phương hướng xây
dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất
nước. Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn
hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm
phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất
lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại
bỏ những hủ tục lạc hậu. Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang
tính tất yếu khách quan. Cùng với việc banh hành các văn bản pháp luật, Nhà
nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc. Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành
văn hóa.
Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước
được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát
việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm
mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng
coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói
riêng, của cả nước nói chung”.
Tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng: “Quản lý lễ hội bao gồm quản lý

chức năng chịu trách nhiệm giải quyết.
1.2. Lễ hội truyền thống đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang
1.2.1. Quá trình hình thành lễ hội đình làng Như Xuyên
- Sự tích của hội:
Theo lời kể của bà Trần Thị Chi – Tổ trưởng Tổ Văn nghệ xã Đồng Quý
và ông Lý Ngọc Hội – Bí Thư chi bộ thôn Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang: Cách đây khoảng hơn 100 năm có một nhóm
người di cư từ phía Bắc Trung Quốc đến vùng đất này để khai hoang lập nghiệp
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
13
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
và định cư ở đây. Lúc đó, vùng đất này vẫn chỉ là vùng đất bỏ hoang. Sau đó,
khi có sự quản lý của nhà nước đối với vùng đất này thì nó được gọi là Như
Xuyên thuộc xã Đồng Quý, huyện sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá
trình khai hoang lập nghiệp họ đã gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống không mấy
thuận lợi, mùa màng liên tục bị thất thu, vật nuôi hay bị dịch bệnh. Tại nơi đây,
trên một khu đất bằng phẳng có đến bốn cây Đa to lớn nhưng lại có một cây mọc
ngược rất kỳ quái, những người dân ở đây cho rằng có thần linh ở vùng đất này,
nếu muốn định cư và lập nghiệp được thì phải lập đền thờ thần linh. Do đó, họ
đã bàn nhau và thống nhất lập đình thờ thần linh tại khu vực bốn cây Đa vào
năm 1938 và tổ chức rước ba vị vua là Lịch Sơn, U Sơn, Út Sơn từ Đền Hùng
(Phú Thọ) về thờ. Từ đó, cuộc sống của những người dân nơi đây luôn gặp may
mắn, con người mạnh khỏe, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển. Để tỏ lòng
biết ơn các vị thần linh, hàng năm, họ tổ chức dâng lễ vật lên để cúng tạ ơn các
vị thần linh và cầu mong cho nhân khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa
màng bội thu.
- Không gian của hội:
Quần thể di tích của hội gồm có khu vực đình làng với một mái đình và
bốn cây đa cổ thụ nhưng hiện nay chỉ còn hai cây. Đây là khu vực cử hành lễ tạ

sơ của nó.
- Giai đoạn từ năm 1945 – 1988:
Đây là thời kỳ có chiến tranh và nạn đói năm 1945 làm cho những người
dân phải sơ tán, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn và không có khả năng duy
trì việc tổ chức lễ hội hàng năm nữa, đình cũng bị xuống cấp do không được
trùng tu. Mặc dù bị chiến tranh song mái đình không hề bị bom đạn và những đồ
vật trong đình còn nguyên vẹn, đình chỉ bị xuống cấp do bị nắng mưa lâu ngày
mà không có ai trông nom, tu sửa. Trong suốt một thời gian dài, lễ hội đình làng
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
15
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
Như xuyên không được tổ chức và mái đình gần như bị mục nát và bỏ hoang. Vì
vậy, lễ hội đình làng Như Xuyên có sự đứt gãy trong quá trình phát triển.
- Giai đoạn từ năm 1988 đến nay:
Trong giai đoạn này là thời kỳ khôi phục và tạo dựng lại đình và lễ hội
đình làng Như Xuyên. Tuy nhiên, ngôi đình không còn nguyên sơ như trước
nữa, do bỏ hoang nhiều năm nên đình gần như là không còn, đồ vật thờ cúng
trong đình bị mất hết; Bốn cây đa cổ thụ nay chỉ còn lại hai cây, một phần do
thời tiết và do già cỗi, một phần do những người dân gần đó không có hiểu biết
nên đã chặt bán để kiếm lời. Chính những khó khăn trong cuộc sống đã làm một
số những người dân thiếu hiểu biết làm mất đi những giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc. Suốt thời gian này, đình làng và lễ hội hầu như vẫn chưa
được phục dựng lại, dù có được khôi phục lại chỉ 1- 2 năm lại không tổ chức
được nữa. Bởi vì, chính quyền địa phương không quan tâm cùng người dân tổ
chức mà tất cả chỉ là do những người dân trong làng tự tổ chức. Nhưng cuộc
sống của những người dân làng Như Xuyên lại rơi vào tình trạng khó khăn, mùa
màng liên tục bị mất mùa, hầu như không thuận lợi. Do đó, đến năm 2008, họ đã
tổ chức khôi phục lại đình và phục dựng lại lễ hội theo nghi lễ xưa kia. Từ đó,
cuộc sống của họ được bình yên, ấm no, hạnh phúc và thuận lợi. Hiện nay, lễ hội
vẫn tồn tại và được tổ chưc hàng năm thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài

hợp với những yếu tố hiện đại. Do đó, lễ hội đình làng Như Xuyên cũng góp
phần tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến đời sống tâm linh, đến việc hun đúc tâm
hồn tính cách con người Việt Nam.
Lễ hội đình làng Như Xuyên cũng như những lễ hội truyền thống khác là
loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành
và phát triển trong quá trình lịch sử. Người Việt Nam từ lâu đã có truyền thống
“Uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của
cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị
“Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Hình tượng
các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó là những
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
17
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng
nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ thú ác; những người
chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi
trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội
đình làng Như Xuyên là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị
thần đối với cộng đồng, dân tộc. Lễ hội còn là dịp con người được trở về với
nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong
tâm trí mỗi người.
Lễ hội đình làng Như Xuyên với các nghi lễ tâm linh, thể hiện sự tôn
kính, lòng biết ơn của nhân dân với các vị Vương tổ của người Cao Lan, với
Thành Hoàng làng và các vị thần, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa
màng tươi tốt, nhân dân được mạnh khỏe, bình yên, ấm no và hạnh phúc.
Bên cạnh đó, lễ hội đình làng Như Xuyên thể hiện được sức mạnh cộng
đồng làng xã, địa phương và rộng hơn là quốc gia dân tộc. Họ thờ chung vị
thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no,
hạnh phúc. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá
vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân khi tham gia lễ hội; Là hình

lễ hội kết thúc. Ban tổ chức có con dấu riêng. Dưới Ban tổ chức thành lập bộ
phận Thường trực để giải quyết những công việc cụ thể từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc lễ hội và các tiểu ban chuyên môn gồm tiểu ban chuyên môn; Tiểu ban
cơ sở vật chất – tài chính - hậu cần; Tiểu ban tuyên truyền; Tiểu ban khánh tiết
– lễ tân; Tiểu ban an ninh trật tự và an toàn giao thông các tiểu ban này có
nhiệm vụ giúp Ban tổ chức điều hành công việc chuẩn bị cũng như khi tổ chức
lễ hội, đồng thời báo cáo Ban tổ chức về việc tổ chức các nội dung chương trình
hoạt động. Nhiệm vụ của từng thành viên trong Bộ phận Thường trực và các tiểu
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
19
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
ban do Trưởng bộ phận Thường trực, Trưởng các tiểu ban phân công. Mỗi tiểu
ban có Trưởng tiểu ban, Phó tiểu ban và các ủy viên. Ban tổ chức, bộ phận
Thường trực và các tiểu ban tự giải thể sau khi lễ hội kết thúc.
- Các công việc chuẩn bị cho lễ hội:
Để đảm bảo lễ hội đình làng Như Xuyên được tổ chức theo đúng mục tiêu
đề ra, các Tiểu ban giúp việc đã thực hiện xây dựng kế hoạch và triển khai hoàn
thiện các hạng mục cơ bản. Đồng thời triển khai hoạt động tuyên truyền cổ động
trực quan trên các tuyến đường thuộc địa bàn xã và tuyên truyền quảng bá qua
hệ thống truyền thanh của xã, chuẩn bị các phương tiện và đạo cụ tổ chức các
hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao tại khu vực diễn ra lễ hội trong
dịp lễ hội cũng như cử các cá nhân, các đội tham gia phần lễ tại đình làng. Do là
lễ hội làng nên mỗi gia đình trong làng chuẩn bị hai quả còn để phục vụ cho trò
ném còn trong lễ hội; Trong lễ hội còn có đua thuyền trên hồ nên phải chuẩn bị
thuyền chắc chắn và an toàn; Ngoài ra, còn có trò đu xà nên yêu cầu phải chuẩn
bị xà đu chắc chắn đảm bảo an toàn cho người tham gia; Chuẩn bị nỏ và tên để
tổ chức thi bắn nỏ trong lễ hội ; Đặc biệt, phần nghi lễ và tất cả các trò chơi
trong phần hội đều có hát sình ca do đội văn nghệ của thôn đảm nhiệm. Do vậy,
đội văn nghệ của thôn đã phải tập luyện hàng tháng trời trước khi lễ hội bắt đầu.
Các Tiểu ban giúp việc chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện tích

rượu và lễ vật gồm: lợn, gà, xôi, oản, bánh kẹo, hoa quả để cúng thần linh. Đại
tế do ban tế lễ thực hiện gồm 17 người. Nội dung của lễ đại tế là đón rượu thỉnh
mời thần linh về dự hội hưởng lễ vật, đồng thời là dịp dân làng kính ý chúc tụng,
bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong thần linh bảo trợ phù hộ cho cộng đồng dân
làng.
- Lễ hèm: Là lễ thể hiện các trò diễn tái hiện lại kỹ thuật canh tác cũng
như cuộc sống hàng ngày của người dân, trong phần lễ có diễn múa Trống Sành
gồm ba phần là múa khai lộ (mở đường cho một vụ mùa làm ăn), múa xúc tép
(cầu cho mưa thuận, gió hòa, quốc thái dân an), múa cờ (mừng cho một vụ mùa
làm ăn bội thu và trả ơn thần linh). Đồng thời, lễ hội có diễn xướng dân gian giã
cốm và tra mộ nương. Trò giã cốm có bốn đôi trai gái cầm chày dài khoảng hơn
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
21
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
1m cùng giã vào một chiếc máng dài 1,5m theo nhịp tạo ra những điệu nhạc làm
cho người xem thích thú, cũng như thể hiện sinh hoạt hàng ngày của con người.
Diễn xướng tra mộ nương cũng có bốn đôi trai gái, trai cầm mỗi người một cái
cây để đâm lỗ, nữ mỗi người đeo một cái giỏ đựng thóc để tra vào lỗ do những
người con trai đi trước đâm sẵn. Cùng với đó là những câu hát Sình Ca đi vào
lòng người của đội văn nghệ xã đảm nhiệm gồm các bài có nội dung được dịch
ra như sau: Mở đầu là hát dâng hương: “Tay cầm một nén hương thơm, vào đình
kính lễ dâng lên thánh thần, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho đất nước ngày
càng phồn vinh” và “Tháng giêng mùng sáu đình Như Xuyên, khách lạ gần xa
đến hội đình, đồng tâm cung kính dâng hương thánh, cầu tài cầu lộc hưởng bình
an”. Tiếp đến là hát ca ngợi đình làng, ca ngợi quê hương đất nước: “Mở lời
kính lễ thần hoàng, hai là kính lễ bốn phương thổ thần, thứ ba kính chúc hội
đình, người người mạnh khỏe làm ăn phát tài”. Nhiều bài hát mang nhiều nội
dung khác nhau được hát trong phần lễ.
• Phần hội:
Hội là dịp để người dân vui chơi thỏa thích sau những ngày làm việc vất

đồng. Đấu vật có ý nghĩa rèn luyện sức khỏe, củng cố tinh thần thể thao cho mọi
người.
Sau hội đấu vật là hội chọi gà. Chọi gà (còn gọi là đá gà) là một thú chơi
dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống từ lâu đời. Chọi gà là thú chơi để
giải trí, xem về đấu pháp, tài nghệ của gà, nhưng còn một ý nghĩa khác đó là bói
lộc đầu năm. Chọi gà là một thú chơi tao nhã, vừa có tính tiêu khiển lại vừa
khuyến khích việc chăn nuôi của nhà nông xưa. Đặc biệt, trò chơi chọi gà có
một sức hút rất đông đảo quần chúng, vừa mang tính chất giải trí, vừa mang tinh
thần thượng võ, là chất keo sơn gắn kết tinh thần cộng đồng đã từng tồn tại trong
một thời gian dài ở các hội làng xưa. Hai con gà chọi người đỏ gay lừa mổ nhau,
đập cánh vào nhau, nhảy lên đá móc vào nách, vào cổ họng, vào ức của đối
phương quyết liệt hoặc ghì nhau đè cánh đạp chân như những đấu thủ trên sàn
đấu. Những cú mổ hiểm hóc vào mắt, vào cổ đối phương đến chảy máu, những
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
23
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa: Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật
cú đá móc với những chiếc móc sắc nhọn đến toác ngực làm người xem xung
quanh thán phục. Chú gà nào dành chiến thắng sẽ nhận được phần thưởng là
300.000 đồng.
Đua thuyền là một trò chơi đòi hỏi sự nhanh nhẹn, khéo léo và can đảm.
Trong hội đua thuyền, mỗi thuyền có bốn người nhưng chỉ có một người bơi
thuyền bằng chân những người còn lại chỉ hỗ trợ và cổ vũ. Mọi người đều cố
gắng dùng hết sức để đưa thuyền của mình về đích sớm nhất. Thuyền nào về
đích sớm nhất sẽ dành phần thắng và đạt phần thưởng trị giá 500.000 đồng.
Ngoài các phần chơi có giải thưởng còn có các trò chơi vui, giải trí như:
Bắn nỏ, bịt mắt đánh trống, đu xà thể hiện sự khéo léo, tinh tế và nhanh nhẹn
của mọi người làm tăng thêm tinh thần cố kết cộng đồng.
2.2. Thực trạng công tác quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng
Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
2.2.1. Tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội

tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật di sản văn hóa.
Nhìn chung, công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên đảm
bảo Quy chế tổ chức lễ hội của Nhà nước, đảm bảo các yếu tố: tôn vinh, bảo tồn,
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tổ chức lễ hội đảm bảo
tính trang nghiêm, tiết kiệm, an ninh trật tự - an toàn xã hội, thu hút được nhiều
người tham gia hòa mình vào không khí chung của lễ hội, tạo nên động lực tinh
thần to lớn và khơi dậy lòng tự hào về quê hương đất nước qua các giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc.
Trong dịp tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên, ủy ban nhân dân xã đã tập
trung chỉ đạo dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của Phòng Văn hóa Thông tin huyện
Sơn Dương để đảm bảo phần lễ được tổ chức theo đúng nghi lễ truyền thống,
phần hội vui tươi, lành mạnh, trong đó có sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống
và hiện đại, tạo sự phong phú, đa dạng, thu hút đông đảo nhân dân trong và
ngoài xã tham gia, góp phần phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng tiêu biểu của
SV: Vũ Thị Kiều Lớp: LT – QLVH2B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status