MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài. ......................................................................................................... 3
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. ............................................................... 3
2.1. Đối tượng nghiên cứu. ................................................................................................ 3
2.2. Phạm vi nghiên cứu. ................................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. ................................................................................ 4
4. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................................. 4
5. Đóng góp của đề tài (ý nghĩa thực tiễn): ......................................................................... 4
6. Cấu trúc của đề tài. ....................................................................................................... 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG NHƯ
XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG ............... 5
1.1. Lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống ...................................................... 5
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống .................................................................................. 5
1.1.2. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống.................................................................. 7
1.2. Lễ hội truyền thống đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang ............................................................................................................................ 10
1.2.1. Quá trình hình thành lễ hội đình làng Như Xuyên ................................................... 10
1.2.2. Quá trình phát triển của lễ hội đình làng Như Xuyên ............................................... 11
1.2.3. Nội dung và ý nghĩa của lễ hội đình làng Như Xuyên.............................................. 12
1.2.3.1. Nội dung lễ hội đình làng Như Xuyên ................................................................. 12
1.2.3.2. Ý nghĩa và giá trị của lễ hội đình làng Như Xuyên ............................................... 12
Chương 2: CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG
NHƯ XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG ... 14
2.1. Thực trạng công tác tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang ............................................................................................... 14
2.1.1. Công tác chuẩn bị .................................................................................................. 14
2.1.2. Diễn trình tổ chức lễ hội ........................................................................................ 15
2.2. Thực trạng công tác quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang ............................................................................................... 17
2.2.1. Tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội ................................................... 17
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể của dân
tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứa đựng trong nó cả tín ngưỡng,
tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và văn nghệ dân gian. Bên cạnh đó, Giáo sư
Trần Quốc Vượng trong Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm thì “Lễ hội còn là một sản
phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa”.
Ngày nay, lễ hội đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong
đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân. Việc tham dự các lễ hội truyền thống
là nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn,
đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa. Lễ hội truyền thống tồn tại đến hôm nay đều
là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài. Quá trình tiếp biến ấy khiến cho lễ hội luôn
mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và
hội của nó.
Hiện nay, người dân đã có khả năng và điều kiện làm chủ bản thân thì niềm tin vào sự
linh thiêng của thần thánh chuyển hóa dần nhường chỗ cho những tình cảm thiêng liêng nhớ về
cội nguồn, lòng tôn kính và biết ơn tổ tiên, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước trở
thành cảm hứng chủ đạo của lễ hội truyền thống. Vì vậy, chức năng tín ngưỡng của lễ hội có
phần giảm thiểu, chức năng vui chơi, giải trí của phần hội được tăng lên. Các trò chơi dân gian,
những làn điệu dân ca, dân vũ được khai thác thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân
tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền
thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa. Do đó, cần phải
nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm
kho di sản văn hóa Việt Nam trong thời hiện nay.
- Phân tích
5. Đóng góp của đề tài (ý nghĩa thực tiễn).
Đóng góp về tư liệu nghiên cứu: Đề tài góp phần là một nguồn tư liệu, dẫn chứng để
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa ứng xử trong lễ hội nói riêng.
Đồng thời, làm phong phú và đa dạng thêm cho kho tàng tư liệu văn hóa dân tộc về các lễ hội.
Các giải pháp đề xuất trong nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và
quản lý lễ hội trong thời gian tới.
6. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài có bố cục gồm 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về quản lý lễ hội truyền thống đình làng Như Xuyên, xã Đồng
Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng
Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng
Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG
NHƯ XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ, HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG
1.1. Lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
Lễ hội là một từ ghép và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán – Việt là lễ và hội. Do đó, lễ hội
gồm hai phần là lễ và hội.
Theo Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điển thì lễ là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ
cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào
dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của
công chúng dự lễ.
Ở khía cạnh dân gian, trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại, Ngô Đức Thịnh
và Frank Proscha đưa ra định nghĩa “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới
quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng , nghi lễ và trò chơi
truyền thống”.
Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn
giáo. Lễ hội bao gồm hai thành tố là lễ và hội kết hợp giữa tín ngưỡng và vui chơi, giữa con
người và thần linh, giữa thế giới âm và dương... để thông qua đó, con người có thể bày tỏ niềm
mong ước của mình vào các vị thần linh trên trời. Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội
nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa
cộng đồng.
Trước đây, con người chưa có đủ khả năng chinh phục, chế ngự và làm chủ thiên nhiên
cũng như làm chủ xã hội nên bị bất lực và chi phối bởi những thiên tai bất trắc, may rủi hay bất
công do thiên nhiên hay con người gây nên. Vì thế, thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như:
thần linh trời đất, thần linh núi sông... Vậy nên, xưa kia có nhiều làng xã đã xây dựng đình,
miếu... để thờ các vị thần linh tại địa phương và thường tổ chức lễ hội tại những nơi đó, nhằm
thể hiện sự biết ơn đối với các vị thần linh đã ban cho người dân nơi đó sức khỏe, mùa màng
bội thu, vật nuôi sinh sôi phát triển. Hơn thế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che
chở, bảo vệ và ban phúc lành may mắn, thịnh vượng cho họ. Các lễ hội truyền thống thể hiện
rõ nhất điều này. Trong lễ hội truyền thống có sự tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo,
tín ngưỡng. Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội
thông qua tôn giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục.
Liên quan đến khái niệm “Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội cổ truyền” dùng
với nghĩa gần như tương đương với nhau. Truyền thống hay cổ truyền thật ra chỉ là hai thuật ngữ
Hán – Việt dùng để nói về cùng một đối tượng.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ truyền của dân
tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn và phát huy
theo hướng tích cực trong đời sống xã hội. Như vậy, lễ hội truyền thống được coi như là một
ngưỡng thờ cúng các vị thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh
thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất.
Như vậy, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo
phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại
trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán.
1.1.2. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều
phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc
gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó. Như vậy, quản lý là một khái
niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học, điều khiển học...
Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.
7
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc.
Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với
nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các
nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức.
- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối
hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác.
- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng,
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ - nxb Đà Nẵng năm 2002) thì quản lý là tổ
chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
- Theo điều khiển học thì: Quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một hệ thống
hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật định tương ứng để
cho quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định
ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hóa.
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình theo quy định của pháp luật. Các
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc tỉnh, thành phố, các Phòng Văn hóa Thông tin cấp
huyện, các Ban Văn hóa các xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư
vấn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa. Chính sách
pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về
chủ trương đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu
phát triển chung của đất nước. Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý
văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác
dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của
con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu. Quản lý văn hóa bằng
pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan. Cùng với việc banh hành các văn bản pháp
luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc. Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa.
Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực
hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội
của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung”.
Tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng: “Quản lý lễ hội bao gồm quản lý nhà nước và
những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội. Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu
cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huy động các nguồn lực. Nói cách khác thì quản lý lễ hội
nhằm các mục tiêu lợi ích công cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước”.
Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói
riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý: chính sách, pháp luật, các nghị định,
chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động
của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì
9
Như Xuyên thuộc xã Đồng Quý, huyện sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình khai
hoang lập nghiệp họ đã gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống không mấy thuận lợi, mùa màng
liên tục bị thất thu, vật nuôi hay bị dịch bệnh. Tại nơi đây, trên một khu đất bằng phẳng có đến
bốn cây Đa to lớn nhưng lại có một cây mọc ngược rất kỳ quái, những người dân ở đây cho
rằng có thần linh ở vùng đất này, nếu muốn định cư và lập nghiệp được thì phải lập đền thờ
thần linh. Do đó, họ đã bàn nhau và thống nhất lập đình thờ thần linh tại khu vực bốn cây Đa
vào năm 1938 và tổ chức rước ba vị vua là Lịch Sơn, U Sơn, Út Sơn từ Đền Hùng (Phú Thọ)
về thờ. Từ đó, cuộc sống của những người dân nơi đây luôn gặp may mắn, con người mạnh
khỏe, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển. Để tỏ lòng biết ơn các vị thần linh, hàng năm,
10
họ tổ chức dâng lễ vật lên để cúng tạ ơn các vị thần linh và cầu mong cho nhân khang, vật
thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
-
Không gian của hội:
Quần thể di tích của hội gồm có khu vực đình làng với một mái đình và bốn cây đa cổ
thụ nhưng hiện nay chỉ còn hai cây. Đây là khu vực cử hành lễ tạ ơn các vị thần linh và cầu
mong đạt được ước vọng của người dân; Cách đình khoảng 100m lên phía trên là một cái hồ
lớn nằm uốn lượn giữa hai dãy núi cao đồ sộ. Khu vực này để tổ chức phần hội sau khi tiến
hành xong phần lễ. Đình làng nằm ngay dưới chân dòng nước chảy của hồ tạo thành một hệ
thống nối liền nhau rất đẹp. Đến đây du khách được thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm
linh nơi đình làng và hòa mình vào tất cả các trò chơi dân gian tại khu vực hồ và xung quanh hồ
như: Du thuyền trên hồ, đi bộ quanh hồ ngắm cảnh núi non hung vĩ, leo núi thưởng thức những
đặc sản thiên nhiên nơi đây như chuối rừng, sung, sẹ mo....từ trên đỉnh núi còn có dòng nước
chảy róc rách tạo thành một dòng suối giữa núi chảy xuống hồ, du khách có thể men theo dòng
nước để ngồi nghỉ trên những tảng đá bằng phẳng và to lớn rồi vui đùa trong nước, tận hưởng
Trong giai đoạn này là thời kỳ khôi phục và tạo dựng lại đình và lễ hội đình làng Như
Xuyên. Tuy nhiên, ngôi đình không còn nguyên sơ như trước nữa, do bỏ hoang nhiều năm nên
đình gần như là không còn, đồ vật thờ cúng trong đình bị mất hết; Bốn cây đa cổ thụ nay chỉ
còn lại hai cây, một phần do thời tiết và do già cỗi, một phần do những người dân gần đó
không có hiểu biết nên đã chặt bán để kiếm lời. Chính những khó khăn trong cuộc sống đã làm
một số những người dân thiếu hiểu biết làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc. Suốt thời gian này, đình làng và lễ hội hầu như vẫn chưa được phục dựng lại, dù có được
khôi phục lại chỉ 1- 2 năm lại không tổ chức được nữa. Bởi vì, chính quyền địa phương không
quan tâm cùng người dân tổ chức mà tất cả chỉ là do những người dân trong làng tự tổ chức.
Nhưng cuộc sống của những người dân làng Như Xuyên lại rơi vào tình trạng khó khăn, mùa
màng liên tục bị mất mùa, hầu như không thuận lợi. Do đó, đến năm 2008, họ đã tổ chức khôi
phục lại đình và phục dựng lại lễ hội theo nghi lễ xưa kia. Từ đó, cuộc sống của họ được bình
yên, ấm no, hạnh phúc và thuận lợi. Hiện nay, lễ hội vẫn tồn tại và được tổ chưc hàng năm thu
hút đông đảo nhân dân trong và ngoài xã tham gia.
1.2.3. Nội dung và ý nghĩa của lễ hội đình làng Như Xuyên
1.2.3.1. Nội dung lễ hội đình làng Như Xuyên
Lễ hội đình làng Như Xuyên cũng giống như những lễ hội truyền thống khác gồm hai
phần là lễ và hội, mang những nét đặc trưng của các lễ hội truyền thống của cư dân Bắc Bộ.
Giống như những lễ hội ở các vùng khác Lễ hội đình làng Như Xuyên gắn liền với các di tích
lịch sử - văn hóa là ngôi đình làng và tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ thành hoàng.
Hàng năm vào mùng 06 Tết âm lịch, lễ hội đình làng Như Xuyên lại được tổ chức trong không
khí tưng bừng, nô nức của mọi nguời dân nơi đây. Thông qua phần lễ được tổ chức tại đình
làng với các nghi lễ tâm linh, thể hiện sự tôn kính của nhân dân với các vị Vương tổ của người
Cao Lan, với Thành Hoàng làng và các vị thần, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa
màng tươi tốt, nhân dân được mạnh khỏe, bình yên, no ấm. Để tỏ lòng biết ơn các vị thần linh
những người dân nơi đây dâng lễ vật cúng tế gồm có: lợn, gà, xôi, oản, hoa quả....
Phần hội được tổ chức tại sân đình, trên bờ và dưới mặt nước hồ Như Xuyên với các tiết
mục diễn xướng dân gian: múa trống sành, tra mộ nương, giã cốm và các tiết mụ hát Sình Ca
của dân tộc Cao Lan, các trò chơi dân gian: tung còn, đua thuyền, chọi gà, vật truyền thống, bịt
địa phương và rộng hơn là quốc gia dân tộc. Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn
kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo
và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân khi tham
gia lễ hội; Là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu
tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí...
Lễ hội đình làng Như Xuyên cũng là dịp con người được giải tỏa, dãi bày phiền muộn,
lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che vượt qua những thử thách của cuộc sống.
13
Chương 2
CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG
NHƯ XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ, HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG
Thực trạng công tác tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên, xã Đồng Quý, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang
2.1.1. Công tác chuẩn bị
- Thành lập Ban tổ chức:
2.1.
Ban tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên được thành lập theo cơ cấu thành phần quy
định tại Chương II, Điều 13 trong Quy chế tổ chức lễ hội năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, cụ thể như sau: Ông Hoàng Văn Thiên – Phó Chủ tịch ủy ban nhân
dân xã Đồng Quý làm Trưởng Ban tổ chức, Ông Sầm Văn Thịnh – Trưởng Ban Văn hóa xã
Đồng Quý làm Phó Trưởng Ban tổ chức và 12 đồng chí là Trưởng các ban ngành, đoàn thể
trong xã là ủy viên Ban tổ chức.
Ban tổ chức lễ hội có trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động lễ hội theo đúng
chương trình đã báo cáo và xin phép, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, tổ chức dịch vụ ăn nghỉ
vậy, đội văn nghệ của thôn đã phải tập luyện hàng tháng trời trước khi lễ hội bắt đầu.
Các Tiểu ban giúp việc chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện tích cực, bám sát các
mặt về nội dung các hoạt động của lễ hội; công tác thông tin tuyên truyền; công tác bảo đảm an
ninh, trât tự - giao thông - môi trường; công tác Lễ tân – y tế... Trước ngày lễ hội bắt đầu các
công tác chuẩn bị đều phải hoàn tất đảm bảo lễ hội diễn ra theo đúng kế hoạch đã định.
2.1.2. Diễn trình tổ chức lễ hội
Phần lễ:
Phần lễ được tổ chức tại đình làng với các nghi lễ tâm linh, thể hiện sự tôn kính của
nhân dân với các vị Vương tổ của người Cao Lan, với Thành Hoàng làng và các vị thần, cầu
cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân dân được mạnh khỏe, bình yên,
no ấm. …
Cũng giống như các lễ hội truyền thống khác, lễ hội đình làng Như Xuyên có kết cấu
phần lễ như sau:
- Lễ rước nước: Trước khi mở hội vào đám một ngày, cộng đồng làng cử hành lễ lấy
nước từ giữa hồ của làng về đình, nước được đựng trong bình xứ đã lau chùi sạch sẽ. Nước
được múc bằng gáo đồng và được lọc qua lớp vải để trên miệng bình rồi đưa lên kiệu rước về
đình - nơi thần linh án ngự.
- Lễ mộc dục: Kiệu rước nước về cộng đồng làng cử hành luôn lễ mộc dục (tức là lễ tắm
rửa tượng thánh thần), công việc này giao cho những người có uy tín do cộng đồng làng tín
nhiệm và lựa chọn. Họ thắp hương dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách nghiêm trang, thận
trọng. Tượng thần linh được tắm rửa hai lần, lần thứ nhất là bằng nước ở kiệu rước về, lần thứ
hai là bằng nước ngũ vị hương đã chuẩn bị từ trước. Lễ mộc dục được gọi là tắm rửa nhưng thực
chất là lấy khăn, vải sạch nhúng vào nước rồi lau chùi nhẹ nhàng lên tượng thánh thần.
- Lễ tế gia quan: Là lễ mặc áo, đội mũ cho tượng thần. Tất cả những đồ: trang phục,
mũ... được chuẩn bị niêm phong trước ngày mở hội.
- Lễ đại tế: Là nghi thức trang trọng nhất, lễ địa tế thường dâng 6 tuần rượu và lễ vật
gồm: lợn, gà, xôi, oản, bánh kẹo, hoa quả để cúng thần linh. Đại tế do ban tế lễ thực hiện gồm
17 người. Nội dung của lễ đại tế là đón rượu thỉnh mời thần linh về dự hội hưởng lễ vật, đồng
thời là dịp dân làng kính ý chúc tụng, bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong thần linh bảo trợ phù hộ
cho cộng đồng dân làng.
hai quả còn để mang đến góp trước ngày mở hội. Ở giữa sân đình và bãi đất trống trên bờ hồ,
người ta chôn một cây tre cao 9 - 10m, đầu trên cao có gắn một cái vòng tròn đường kính
khoảng 50 – 60cm theo phương thẳng đứng. Sau đó gắn vải đỏ, phần trên khâu chắc vào mép
vòng, ở dưới thả buông để khi ai đó tung trúng vào trong vòng còn dễ phát hiện ra. Mọi người
cùng tham gia, nếu ai ném lọt tâm vòng thì người đó đạt thành tích, giải thưởng là 200.000 đồng,
một cái sỏ lợn và một ván xôi. Trò chơi tung còn vừa mang tính văn hóa lại vừa mang tính thể
thao, rèn luyện sự tinh tế, khéo léo, tài tình, ước lệ và duyên dáng, nhẹ nhàng khi tung, khi bắt;
vừa kết hợp các động tác toàn thân, vừa sảng khoái tinh thần, vừa được giao lưu, tỏ tình, đoàn
kết, vui vẻ. Trò ném còn có ý nghĩa cầu mong sự sinh sôi, phát triển và mùa màng bội thu.
16
Sau trò ném còn là đến hội vật truyền thống, tất cả những nam giới đều có thể đăng ký
với Ban tổ chức để tham gia. Đây là trò chơi dân gian, mỗi ván đấu có hai người dùng sức để
làm sao vật ngửa được đối phương thì sẽ dành chiến thắng. Những người xung quanh đánh
trống reo hò, cổ vũ để khuyến khích tinh thần thi đấu cho các đấu vật. Phần thưởng cho người
chiến thắng là 300.000 đồng. Đấu vật có ý nghĩa rèn luyện sức khỏe, củng cố tinh thần thể thao
cho mọi người.
Sau hội đấu vật là hội chọi gà. Chọi gà (còn gọi là đá gà) là một thú chơi dân gian mang
đậm nét văn hóa truyền thống từ lâu đời. Chọi gà là thú chơi để giải trí, xem về đấu pháp, tài
nghệ của gà, nhưng còn một ý nghĩa khác đó là bói lộc đầu năm. Chọi gà là một thú chơi tao
nhã, vừa có tính tiêu khiển lại vừa khuyến khích việc chăn nuôi của nhà nông xưa. Đặc biệt,
trò chơi chọi gà có một sức hút rất đông đảo quần chúng, vừa mang tính chất giải trí, vừa mang
tinh thần thượng võ, là chất keo sơn gắn kết tinh thần cộng đồng đã từng tồn tại trong một thời
gian dài ở các hội làng xưa. Hai con gà chọi người đỏ gay lừa mổ nhau, đập cánh vào nhau,
nhảy lên đá móc vào nách, vào cổ họng, vào ức của đối phương quyết liệt hoặc ghì nhau đè
cánh đạp chân như những đấu thủ trên sàn đấu. Những cú mổ hiểm hóc vào mắt, vào cổ đối
phương đến chảy máu, những cú đá móc với những chiếc móc sắc nhọn đến toác ngực làm
người xem xung quanh thán phục. Chú gà nào dành chiến thắng sẽ nhận được phần thưởng là
300.000 đồng.
tổng kết lễ hội với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin... thuộc Chương II,
Điều 4; Thời gian thực hiện tổ chức lễ hội thuộc Chương II, Điều 12. Đến nay, lễ hội đình làng
Như xuyên đã thành lập Ban Tổ chức lễ hội, điều hành theo chương trình đã được xin phép với
cơ cấu thành phần theo quy định của Nhà nước.
Bên cạnh đó, còn tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và
Nhà nước như: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành Quy
chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; Nghị định số 75/2010/NĐCP ngày 12/7/2010 của Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động văn hóa; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ ban hành quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật di sản văn hóa.
Nhìn chung, công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên đảm bảo Quy chế
tổ chức lễ hội của Nhà nước, đảm bảo các yếu tố: tôn vinh, bảo tồn, phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc, tổ chức lễ hội đảm bảo tính trang nghiêm, tiết kiệm, an ninh trật
tự - an toàn xã hội, thu hút được nhiều người tham gia hòa mình vào không khí chung của lễ
hội, tạo nên động lực tinh thần to lớn và khơi dậy lòng tự hào về quê hương đất nước qua các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Trong dịp tổ chức lễ hội đình làng Như Xuyên, ủy ban nhân dân xã đã tập trung chỉ đạo
dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Sơn Dương để đảm bảo
phần lễ được tổ chức theo đúng nghi lễ truyền thống, phần hội vui tươi, lành mạnh, trong đó có
sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, tạo sự phong phú, đa dạng, thu hút đông đảo
nhân dân trong và ngoài xã tham gia, góp phần phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng tiêu biểu
của xã Đồng Quý nói chung và của người Cao Lan nói riêng. Trong những năm qua, lễ hội
đình làng Như Xuyên đã thực sự trở thành nơi quy tụ sức mạnh cộng đồng, là biểu tượng của
tinh thần đại đoàn kết dân tộc và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
Có thể nói những văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cho
công tác quản lý văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng; Cụ thể hóa những nội dung của Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã trở thành công cụ đòn bẩy
18
trên các quy định của Hiến pháp, các văn bản Nghị định, Chế tài, các Quy định của Bộ Văn
hóa - Thể thao và Du lịch và Luật Di sản văn hóa do Nhà nước ban hành nhằm mục đích đảm
bảo quyền tự do sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, giữ gìn truyền thống
văn hóa tốt đẹp, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc. Đưa các hoạt động tổ chức lễ hội
đi vào nề nếp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của quần chúng nhân dân,
19
góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân thêm đa dạng, phong phú, vui
tươi, lành mạnh trên cơ sở đó tăng thêm tinh thần đoàn kết gắn bó cộng đồng của người dân.
Thông qua sinh hoạt lễ hội giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tính tự hào dân tộc và tình
yêu quê hương đất nước của mỗi người dân, tạo ra môi trường bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa – nghệ thuật truyền thống và trò chơi dân gian, từ đó biến lễ hội truyền thống trở thành
động lực phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và quảng bá hình ảnh của địa phương. Khai thác
và phát huy tiềm năng sáng tạo, ý thức và vai trò của quần chúng nhân dân trong việc tổ chức
và quản lý lễ hội truyền thống.
Trong những năm qua các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và lễ hội đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật và có đóng góp không nhỏ vào việc lập lại trật tự trong tổ
chức và quản lý lễ hội trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế quản lý lễ hội trong những
năm qua cho thấy: Yêu cầu thực tế cần được quan tâm quản lý trong các lễ hội thường đa dạng
hơn, phong phú hơn, phức tạp hơn so với những gì chứa đựng trong các văn bản quản lý.
Di tích đình làng Như Xuyên là không gian tổ chức lễ hội, nội dung của đình làng chính
là nội dung của lễ hội và lý do tồn tại lễ hội. Vì thế, Ủy ban nhân dân xã Đồng Quý đã tích cực
chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, tôn tạo đình làng Như Xuyên, đầu tư chống xuống cấp cho di
tích. Đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất để lễ hội hàng năm được tổ chức trang trọng, thành kính.
Công tác quản lý bảo vệ di tích đình làng Như Xuyên từ năm 2008 đến nay đã được
thực hiện có hiệu quả hơn so với trước đây. Những năm 90 trở về trước, đình làng chưa có
người trông coi nên đã xảy ra hiện tượng mất cắp đồ vật thờ cúng như:lư hương, đỉnh đồng,
ấm chén cổ... nhưng đến nay nhờ có hệ thống văn bản pháp quy: Luật di sản văn hóa và văn
bản về quản lý lễ hội, công tác quản lý lễ hội đã đi vào nề nếp hơn.
phạm vi toàn xã; Quy định và hướng dẫn hoạt động giao thông trong khu vực tổ chức lễ
hội.Đảm bảo an toàn tuyệt đối về an ninh trật tự trong những ngày lễ hội và khu vực đình làng.
2.2.5. Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức lễ hội
Ủy ban nhân dân xã Đồng Quý đã duy trì công tác tổ chức, chỉ đạo khen thưởng kịp
thời cho các cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá
trị lễ hội, đồng thời, có những hình thức kỷ luật xử lý nghiêm minh đối với những cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm quy định trong hoạt động lễ hội.
Hàng năm, ủy ban nhân dân xã Đồng Quý đã thành lập Ban Thanh tra giúp Ban Tổ
chức lễ hội đảm bảo công tác trật tự an toàn, duy trì nội quy tổ chưc lễ hội trên địa bàn xã
trước, trong và sau thời gian tổ chức lễ hội. Đặc biệt tăng cường kiểm tra khu vực tổ chức lễ
hội. Ban Thanh tra hoạt động có hiệu quả, bố trí lực lượng tiến hành kiểm tra, xử lý và kịp thời
ngăn chặn các vi phạm gây mất trật tự trong khu vực tổ chức lễ hội. Theo kết quả khảo sát lễ
hội trong những năm qua cho thấy các hiện tượng tiêu cực như: hoạt động mê tín dị đoan, tăng
giá đột biến tại các cơ sở trông giữ xe, dịch vụ ăn uống..., các hành vi đánh bạc núp dưới hình
thức vui chơi có thưởng, chèo kéo khách, bán hàng rong, băng đĩa hình không tem nhãn, dịch
vụ trông giữ xe tự phát... đã giảm đáng kể. Tình trạng mất cắp tài sản, người ăn xin, lang thang
đã giảm hẳn, không có cơ sở nào bày bán đồ chơi trẻ em bạo lực, nguy hiểm. Nhưng bên cạnh
đó, lại xuất hiện một số hiện tượng lều quán bán hàng không đúng quy định tại khu vực lễ hội.
21
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI
ĐÌNH LÀNG NHƯ XUYÊN, XÃ ĐỒNG QUÝ,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
3.1.
Đánh giá thực trạng công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên, xã
chặt chẽ, đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật và có hiệu quả.
Ban tổ chức lễ hội đã xây dựng phương án để quản lý bảo vệ môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội mang lại bầu không khí trong lành, linh thiêng và tôn kính cho không gian
lễ hội, đảm bảo an toàn tuyệt đối, hạn chế được những tiêu cực xảy ra tại nơi tổ chức lễ hội.
Công tác an ninh trật tự, an toàn tại lễ hội đình làng Như Xuyên đến nay đã được đẩy
mạnh, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho nhân dân về người và tài sản khi tham gia lễ hội. Đồng
thời, công tác kiểm tra hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa trong lễ hội đã được tăng cường và
chặt chẽ hơn, do đó, các hiện tượng tiêu cực đã giảm xuống đáng kể so với những năm về
trước, góp phần lành mạnh môi trường văn hóa tại khu vực lễ hội trước, trong và sau thời gian
tổ chức lễ hội.
Nhìn chung, công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng Như Xuyên trong những năm
qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát triển các ngành dịch
vụ, du lịch. Thông qua việc tổ chức lễ hội góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, giáo dục
truyền thống văn hóa, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tổ chức lễ hội đã tạo điều
kiện tốt cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích, đồng thời phát huy được giá trị của di tích cũng
như lễ hội trong đời sống của nguời dân.
3.1.2. Những hạn chế tồn đọng
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác tổ chức và quản lý lễ hội đình làng
Như Xuyên vẫn còn những hạn chế cần khắc phục như sau:
Trong công tác chỉ đạo phục dựng lễ hội nhất là phần lễ còn lung túng, chưa đúng trình
tự truyền thống. Trong phần hội chưa có sự kết hợp được các trò chơi dân gian và các trò chơi
hiện đại nên lễ hội vẫn kém hấp dẫn, thiếu sức lôi cuốn.
Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện nghiêm túc các quy định
về giữ gìn Di tích lịch sử - văn hóa và bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội còn chưa
được thường xuyên. Đây là lễ hội cấp xã nên chưa tích cực huy động được các nguồn lực xã
hội hóa tham gia vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến lễ hội.
Công tác đào tạo còn nhiều bất cập, cán bộ làm văn hóa của xã mới chỉ được đào tạo ở
bậc trung cấp. Đặc biệt là người quản lý đình làng mới chỉ làm tròn nhiệm vụ bảo vệ, vệ sinh
và hương khói chưa thực hiện được nhiệm vụ tuyên truyền, quảng bá giá trị của đình làng vì đó
Cơ sở hạ tầng, vật chất của khu di tích và tổ chức lễ hội đang được quan tâm đầu tư
nâng cao, quy hoạch và tổ chức quản lý các dịch vụ có tiến bộ. Công tác tổ chức lễ hội diễn ra
theo đúng kế hoạch, thể hiện được lòng thành kính của nhân dân đối với các vị thần linh, tạo
không khí trang nghiêm, đảm bảo an toàn, từng bước xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn
xã Đồng Quý.
Sự phân cấp, phân quyền trong Ban tổ chức lễ hội đã tạo được sự rạch ròi trong việc
quy trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên khi khâu nào đó có sự cố, đùn đẩy trách
nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh trong lễ hội.
Nhận thức của nhân dân về thực hiện nếp sống văn hóa khi tham gia lễ hội đã có chuyển
biến tích cực trong ý thức và hành động. Các hình thức tự quản của nhân dân ở khu vực tổ
chức lễ hội đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành công của công tác quản lý lễ hội.
Như vậy, sự kết hợp giữa công tác quản lý nhà nước về lễ hội và ý thức tự quản của
nhân dân tham gia lễ hội đã làm thay đổi diện mạo của lễ hội truyền thống trên địa bàn xã và
24
đạt được các mục tiêu vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế được nhiều hiện tượng tiêu cực
xảy ra trong lễ hội.
-
Nguyên nhân của những hạn chế:
Mặc dù lễ hội đình làng Như Xuyên đã thành công và đạt được những thành tựu đáng
kể song vẫn còn nhiều hạn chế do các nguyên nhân sau:
Đồng Quý là một xã nằm ở hạ huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang có nhiều khó khăn
về kinh tế nên chỉ chú trọng đầu tư và tập trung vào sản xuất kinh tế, chưa quan tâm nhiều đến
việc đầu tư cho lĩnh vực văn hóa cũng như đầu tư cho công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá
trị các di sản văn hóa.
Đội ngũ cán bộ làm văn hóa trên địa bàn xã còn mỏng, năng lực, trình độ chuyên môn