ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––
LÊ THỊ THU
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TƢỚI ẨM
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT
CỦA 2 LOÀI CỎ VOI VÀ CỎ GHINÊ TẠI XÃ PHÚC
ỨNG HUYỆN SƠN DƢƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––
LÊ THỊ THU
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TƢỚI ẨM
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT
CỦA 2 LOÀI CỎ VOI VÀ CỎ GHINÊ TẠI XÃ PHÚC
ỨNG HUYỆN SƠN DƢƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS - TS Hoàng Chung đã
tận tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cám ơn Tiến sỹ Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo,
các cán bộ, nhân viên khoa Sinh trường Đại học sư phạm Thái Nguyên. Xin
cám ơn cán bộ, nhân viên phòng thí nghiệm Trung tâm - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên và bạn bè đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian học tập, nghiên cứu khoa học.
Tôi xin cảm ơn chú Trần Quốc Sơn - nhà cung cấp cỏ xanh cho công ty
TNHH Sữa cho Tương Lai đã hướng dẫn tôi tận tình, tạo điều kiện cho tôi
được thí nghiệm trên đồng cỏ và công ty TNHH Sữa cho Tương Lai tại xã
Phúc Ứng – huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ tận tình, tạo
điều kiện để chúng tôi hoàn thành được luận văn này.
Cuối cùng , tôi bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế về thời gian, kinh phí cũng
như chuyên môn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn
bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
2.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................ 32
2.2.2. Giao thông, thủy lợi ................................................................................. 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
iii
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chƣơng 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................. 34
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................. 34
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 34
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu................................................................................ 34
3.1.3.Thời gian nghiên cứu ................................................................................ 34
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ....................................................... 34
3.2.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................... 34
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 34
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 40
4.1. Tính chất lý, hóa học của đất trồng ............................................................ 40
4.2. Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất .................................... 41
4.2.1. Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước ........................................................... 42
4.2.2. Năng suất và biến động mùa của cỏ Ghine và cỏ Voi ............................. 44
4.2.3. Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghinê ................. 48
4.3. Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần
trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghi nê .................................................................. 55
4.4. Đề xuất biện pháp tác động ........................................................................ 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 61
: Tổng số
7. UBND
: Uỷ ban nhân dân
8. VCK
: Vật chất khô
9. DSKĐ
: Dẫn suất không đạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
iv
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh trong họ hoà thảo ....... 5
Bảng 1.2. Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng thấp vào
45 ngày cắt ........................................................................................... 9
Bảng 1.3. Sản lượng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày .................................. 10
Bảng 1.4. Năng suất cỏ Voi theo mùa ............................................................... 22
Bảng 1.5. Năng suất cỏ Voi theo tuần tuổi ........................................................ 22
Bảng 1.6. Giá trị dinh dưỡng của cỏ Voi........................................................... 23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
vi
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở nước ta nhu cầu sinh hoạt của con
người ngày càng cần nhiều thịt sữa. Trong chăn nuôi gia súc như trâu, bò,
ngựa,… thì cỏ là thức ăn chính, trong khi đó diện tích cỏ tự nhiên ngày càng bị
thu hẹp, lượng cỏ giàu đạm như cây họ Đậu, cỏ hỗn hợp … có rất ít. Với nền
nông nghiệp ngày càng phát triển, quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, số lượng
đàn gia súc tăng lên nên hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp
ứng được. Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách
tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến
phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm, năng lượng tối đa
trên đơn vị diện tích đồng cỏ tự nhiên cũng như cỏ trồng.
Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của cỏ, các
yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất và nghiên cứu cỏ tạo
ra các giống cỏ mới cho năng suất và chất lượng cao đã được chú trọng nhiều
hơn khi quy mô chăn nuôi được mở rộng và phát triển theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vì cỏ là thức ăn chăn nuôi gia súc. Trong những năm gần đây
với các thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật, hợp tác chăn nuôi với tổ chức
Quốc tế, nước ta đã nhập nhiều giống cây thức ăn họ hòa thảo và họ đậu có
nguồn gốc nhiệt đới từ Philippin, Indonexia, Thái Lan… Một số giống cỏ nhập
nội đã được đánh giá ban đầu là có năng suất cao và thích hợp với điều kiện tự
nhiên của nước ta. Trong số đó phải kể đến các giống cỏ Voi, cỏ Ghi nê.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá phát
cỏ Voi và cỏ Ghinê tại đây.
3. Ý nghĩa và khoa học thực tiễn
Hiện nay, do nhu cầu sử dụng đất đai của con người phục vụ cho sinh
hoạt và phát triển công nghiệp tăng mạnh nên diện tích đồng cỏ tự nhiên bị thu
hẹp về diện tích, việc chăn thả gia súc của người dân không theo quy mô dẫn
đến nhiều loài cỏ tốt có giá trị trong chăn nuôi bị suy giảm dần. Từ thực tế đó,
để đảm bảo đủ thức ăn cho gia súc nhập nội, nước ta đã tiến hành nhập và trồng
một số giống cỏ trên nhiều địa phương trong cả nước. Để cây trồng sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao thì cần có biện pháp chăm sóc hợp lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
2
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong đó có yếu tố độ ẩm là yếu tố môi trường có ảnh hưởng quan trọng đến
tăng trưởng và cấu trúc năng suất của cỏ.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ Voi và
cỏ Ghinê tại xã Phúc Ứng-huyện Sơn Dương- tỉnh Tuyên Quang”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
3
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh
trong họ hoà thảo
Protein
Mỡ thô Xơ thô
thô
Thân lá
ngô non
Cỏ
Ghinê
Cỏ
Ruzi
Cỏ Voi
DSKĐ
Khoáng
Tổng số
Canxi
Photpho
13,1
10,8
3,1
26,2
0,5
0,3
15,8
12,7
2,5
31,9
12,5
0,5
0,3
(Nguồn: Viện Chăn nuôi, 1995)
Như vậy, thức ăn xanh vô cùng quan trọng đối với gia súc và là nguồn
thức ăn được chú trọng trong chăn nuôi gia súc ở những nước phát triển và
đang phát triển. Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi mà
còn cung cấp thức ăn dự trữ cho gia súc vào mùa khô.
Theo Meilroy (1972), cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu
hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi thu
hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1974)[27], cũng có những đề nghị
khác nhau: Danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng cỏ (vĩnh viễn hay
tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật (có người đề nghị là
chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi chăn .
Theo Hoàng Chung (2006)[8]: Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc, thảm
thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán lớn hay nhỏ
và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh, có sự ngừng sinh
trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự giảm sút rõ rệt, đất đa
dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề
thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin, … Chăn
nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng
Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
6
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tác giả T.Kanno và M.C.M. Macedo, 2001 [59] đã tiến hành thí nghiệm
gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha, B.dictyoneura, B.
humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào
đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy. Các tác giả thấy rằng
không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy. Còn khi gieo
hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào
cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa.
Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là
được nhiều nước quan tâm. Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi
đại gia súc phát triển.
1.1.1.3. Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súc
trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Tại Purertorico, Vieente - Chandler Silva và Figarella (1959) [60] thông
báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha
với mức bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ.
Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết
quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria
mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [39].
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là
15.000 kg VCK (Davies J.G, 1970) [44].
Tại Fiji với điều kiện khắc nghiệt hơn năng suất trung bình là 5.313 kg
VCK/ha với mức prôtein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm (Roberts,
1970) [56].
Tại Redland Bay, Queensland (Riveros và Wilson, 1970) [50] thông báo
năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm
ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ.
Middleton và Micosker, (1975) [50] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại
miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv
Makueni đã sản xuất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
8
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Pangola
15 - 20
7 – 11
Paspalum atratum
Cỏ đắng
18 – 25
6–7
6 – 10
5–6
Paspalum plicatulum
(Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon, 2000 [37])
Trong đó, giống cỏ đắng Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là
những loài cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha. Do vậy,
hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan.
Theo M.D. Hare và cộng sự [49], cho biết các cỏ Brachiaria mutica và
Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm
thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung
bình là 20tạ/ha VCK. Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai
loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45 ngày và 65
ngày ở mùa mưa đầu tiên. Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất
11/11/2000
6,8
11/12/2000
4,6
11/01/2001
2,6
11/02/2001
4,1
11/03/2001
4,3
11/04/2001
5,8
11/05/2001
3,7
(Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division, 2000, [36])
trồng có tới 5.000 – 6.000 ha, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ, Đồng Giao,
Phú Mãn,… đã xây dựng được hàng nghìn ha đồng cỏ chăn thả luân phiên (Báo
cáo của tổng cục chăn nuôi, 1976).
Do cỏ ở nước ta hàm lượng dinh dưỡng và cho năng suất kém nên nước
ta đã tiến hành nhập khẩu một số cỏ đậu và cỏ hoà thảo ở những nước như
Australia , Cuba… và tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa phương. Một số
giống cỏ được đưa vào trồng thí nghiệm là cỏ Pangalo (Digitaria decumbes), cỏ
đậu Stylo (Stylosathes)… kết quả thu hoạch các loại cỏ cho biết , mỗi năm cắt 3
- 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 - 60tấn/ha, trồng qua 3 - 4 năm vẫn phát triển
tốt (Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976)[2].
Trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác
Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta nhập trên 100 giống cây thức ăn
hoà thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT, Philippin,
Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi,
cụ thể như:
Năm 1990, chương trình cho bò thịt VIE86/608 nhập 17 giống cây thức
ăn họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Australia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
11
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Năm 1995 chương trình cây thức ăn cho nông hộ nhập 70 giống từ
CRISO và CIAT, chương trình cây keo dậu nhập 22 giống keo dậu từ Australia.
Năm 1997, thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10giống Stylo
từ Trung Quốc và Philippin.
Năm 1998, chương trình “phát triển bò thịt một cách hiệu quả ở Việt
Nam ACIR Projeet as 9/97/18” nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ
- Tại Ba Vì hai giống ghine là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn
trong đó nổi bật là Liconi. Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương
18,93 tấn VCK/ha/năm.
Như vậy, trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa
các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác.
Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh, 1997 [5]
đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 - 98
tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước.
Nguyễn Tuấn Hảo, (1999) [14] đã trồng thử nghiệm một số loài cây thức
ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại
cây họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức
ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu
vùng trung du Bắc Bộ. Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm
của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex.
Thái lan là hai loài cỏ mọc khỏe nhất, cho sinh khối cao (năng suất khoảng 30 40 tấn/ha) và có khả năng chịu hạn.
Ngoài ra, tác giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum atratum
BRA 9610 và Paspalum guenoarum BRA 3824.
Phan Thị Phần và CTV (1999) [23]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh
(2001) [28] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc
cho kết quả:
- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương
với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm. Lượng
phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha/năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum
TD 58 đạt 64,59 - 83,33 tấn/ha/năm. Tỷ lệ lá cao 51,48 - 60,44%, năng suất hạt
287 - 323 kg/ha/năm. Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa.
- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi
trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
13
nhau. Thấp nhất là cây P. glaucum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo đậu 60,4 tấn/ha và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
14
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cao nhất là các giống cỏ sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 365,3 tấn/ha; 349,3
tấn/ha; 362,5 tấn/ha.
- Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại
Sơn La như: Một Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã. Tuy nhiên việc nghiên
cứu để tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu
thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều.
Hoàng Chung, Giàng thị Hương (2006) [9] tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến
hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1 - 2 lứa/năm,
năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120 tấn/ha).
Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc bộ
Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập
đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu
Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ voi chiếm ưu
thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt 29,04
tấn/ha/lứa; trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái là 25 - 27
tấn/ha. Đứng thứ hai là cỏ sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen
vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4 - 21,4 tấn/ha. Tiếp
theo là cỏ Ruzi, cỏ sả lá nhỏ và cỏ lông tây... (Báo Lao động, 2005) [3]
1.2. Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hoà thảo
Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Poaceae) và có 28 họ
phụ, 563 chi, 6802 loài(Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7]. Cỏ hoà
thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ( khoảng 95- 98%) và trong khẩu
thường mỗi hoa có 4 mày, nhưng trong thực tế số lượng này có khi không đầy
đủ. Nhị thường là 3 (đôi khi 6), chỉ nhị dài bao phấn đính lưng, hai bao phấn
khi chín thường xòe ra thành hình chữ X. Bầu trên có 1 ô, 1 noãn, 2 vòi nhụy
ngắn và 2 đầu nhụy dài mang chùm lông quét, thường màu nâu hoặc tím.
1.2.2. Đặc tính sinh lý
1.2.2.1. Nhu cầu về nước
Nước đóng góp vào sự hô hấp, quang hợp của cây, giữ vai trò quan trọng
cho sự phát triển của thực vật cũng như các vi sinh vật đất. Cỏ hoà thảo yêu cầu
nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước của
cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi của cỏ họ đậu 214 - 216 gram.
Theo Nguyễn Văn Thiện, 2005[26], với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng
70%, một tháng 10m2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
16
http://www.lrc-tnu.edu.vn/