Tài liệu luyện thi đại học - chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu doc - Pdf 15

TÀI LIỆU LUYỆN THI ĐẠI HỌC
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – Nguyễn Minh Châu
1. Giải thích ý nghĩa nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”.
- Nghĩa thực: Hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm.
- Nghĩa tượng trưng:“Chiếc thuyền ngoài xa” là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và
nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật giữa cuộc đời, là không gian sinh hoạt của người đàn bà
hàng chài. Ở đó, ngoài vợ chồng họ còn có cả một đàn con. Cuộc sống khó khăn, đói kém, nơi
ở chật chội Điều đó đã làm cho người chồng thay đổi bản tính, anh ta trở nên cộc cằn, thô lỗ
và dữ dằn, biến vợ thành nơi trút giận và đối tượng của những trận đòn, những cảnh tượng đó,
nếu nhìn từ xa sẽ không thể thấy được.
Cũng chính vì ở ngoài xa nên con thuyền mới cô đơn. Đó là sự đơn độc của con thuyền
nghệ thuật trên đại dương cuộc sống, sự đơn độc của con người trong cuộc đời. Chính sự thiếu
gần gũi và chia sẻ là nguyên nhân của bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc
thuyền ngoài xa trong sương sớm- một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của sự
hoàn thiện. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng nhận ra rằng, cái đẹp ngoài xa kia cũng ẩn
chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lí . Nếu không đến gần thì chẳng bao giờ anh có thể
phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và thẳm sâu đó cũng là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ
thuật chân chính.
Nhan đề tác phẩm đã góp phần thể hiện quan điểm của nhà văn trong nghệ thuật cũng
như trong cuộc sống: Mỗi nhà văn cũng như mỗi con người cần có cái nhìn đa diện để hiểu sâu
sắc bản chất của vấn đề, không nên có cái nhìn từ xa, một chiều, phiến diện.
2. Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn"Chiếc thuyền ngoài xa"
A . Mở bài
Như nhà danh họa Pháp Henri Matisse đã từng nói: “Đối với người nghệ sĩ thì sáng
tạo bắt đầu từ cái nhìn…”. Câu nói ấy có lẽ cũng là tâm niệm chung cho tất cả các nhà văn
chân chính, những con người trên hình trình sáng tạo văn chương luôn khao khát đến với Chân
- Thiện - Mỹ. Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn như thế. Là một trong những
cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, ông đã bắt đầu bằng cái nhìn sâu
thẳm để phát hiện ra vẻ đẹp của những con người bình thường trong cuộc sống còn nhiều đau
khổ, ngang trái. Để làm nên những tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo và thể hiện những
chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời, về nghệ thuật. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong

Ý 3: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm:
Đầu vào năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền
Bắc. “Rừng xà nu” được viết đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ.
Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.Thông qua
câu chuyện về những con người anh hùng ở một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà
nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời
đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn
là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí đứng chống lại kẻ thù tàn ác. - Ý nghĩa nhan đề: Có
thể nói đặt tên cho tác phẩm của mình là “ Rừng xà nu”, Nguyễn Trung Thành đã tạo ra một
nhan đề mang ý nghĩa biểu tượng so sánh có giá trị nêu bật chủ đề của tác phẩm: đó là phẩm
chất anh hùng sức sống bất tử kỳ diệu, khát vọng tự do, khát vọng giải phóng của đồng bào
Tây Nguyên trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhan đề này không
những thể hiện khuynh hướng sử thi, chủ đề của tác phẩm mà còn gợi ra phong vị Tây Nguyên
cũng như vẻ đẹp giàu chất thơ, chất lãng mạn của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ .
Ý 2: Phân tích tính sử thi trong tác phẩm:
a. Khái niệm khuynh hướng sử thi: Trước hết nên hiểu thế nào là khuynh hướng sử
thi trong văn học. Đó là một khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh
những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Nhân vật trung tâm trong những tác
phẩm viết theo khuynh hướng sử thi thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân
tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đồng. Và khi khẳng
định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói , người nghệ sĩ không nhân danh cá
nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh cộng đồng. Khuynh hướng sử thi thường gắn liền với
cảm hứng lãng mạn .
b. Khuynh hướng sử thi thể hiện trong tác phẩm:
Trang 2
Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, khuynh hướng sử thi được thể hiện khá rõ ở việc
lựa chọn đề tài, việc xây dựng nhân vật, việc sử dụng hình ảnh lẫn giọng điệu của tác
phẩm
- Đề tài của truyện “Rừng xà nu” nói đến vấn đề sinh tử hết sức hệ trọng không chỉ của
người dân làng Xô Man hay của mảnh đất Tây Nguyên mà của cả dân tộc Việt Nam. Truyện

Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể
được xác định rõ: "nằm trong tầm đại bác của đồn giặc", nằm trong sự hủy diệt bạo tàn của
kẻ thù.Truyện mở ra một cuộc đụng độ lịch sử quyết liệt giữa làng Xô Man với bọn Mĩ- Diệm.
Rừng xà nu cũng nằm trong cuộc đụng độ ấy. Xà nu hiện ra với tư thế của sự sống đang đối
diện với cái chết, sự sinh tồn đối diện với sự hủy diệt. Cách mở của câu chuyện thật gọn gàng,
cô đúc mà vẫn đầy uy nghi tầm vóc.Với kĩ thuật quay toàn cảnh, Nguyễn Trung Thành đã phát
hiện ra những đau thương mất mát mà cây xà nu phải gánh chịu. Trong bom đạn chiến tranh,
thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên ngang vươn lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên
kiên cường bất khuất, không khuất phục trước kẻ thù. Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời
Trang 3
tựa như người Xô Man chân thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do. Rừng xà nu
tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức
mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ.
* Rừng xà nu đau thương trong chiến tranh huỷ diệt
Trong phần đâu của tác phẩm, rừng xà nu đã hiện lên với những đau thương trong mưa
bom bão đạn của quân thù. Rừng xà nu đã trở thành đôi tượng của sự huỷ diệt tàn khốc. “Hầu
hết đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây
không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ
ào ào như một trận bão. Ơ chỗ những vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt,
long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.”
Nguyễn Trung Thành đã tỏ ra đặc biệt tinh tế khi miêu tả sự chuyển hoá của nhựa xà nu. Đó là
quá trình chuyển hoá từ đau thương tới căm thù và uất hận của cây rừng Tây Nguyên. Những
đau thương mà rừng xà nu phải gánh chịu ngoài ý nghĩa tả thực còn mang ý nghĩa tượng trưng
đậm nét. Nó gợi ra những đau thương tang tóc của ngưòi dân làng Xô Man. Có thể nói, lịch sử
của làng Xô Man trứơc ngày đồng khởi là những trang đầy máu và nước mắt. Trong những
ngày đen tối ấy, bao quần chúng trung kiên bị kẻ thù giết hại, anh Xút bị treo cổ trên cây vả
đầu làng, Bà Nhan bị chặt đầu cột tóc treo trên đầu súng, mẹ con Mai bị chết bởi những trận
mưa đòn của lũ giặc hung tàn
* Sức sống bất tử kỳ diệu của rừng xà nu.
Bất chấp sự huỷ diệt của kẻ thù, RXN vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt.

Đặt trong hệ thống chủ đề của tác phẩm thì những cây xà nu ham ánh nắng mặt trời
tượng trưng cho những nhân vật như Cụ Mết, Tnú, Mai , Dít, bé Heng những người dân Tây
Nguyên bất khuất kiên cường gắn bó máu thịt với cách mạng và lớn lên trong niềm say mê lý
tưởng cách mạng. Với họ lý tưởng cách mạng cũng có tầm quan trọng như ánh sáng mặt trời
với cây xanh. Duới ánh sáng của lý tưởng cách mạng vẻ đẹp rực rỡ tiềm ẩn với những người
con của núi rừng mới có dịp bộc lộ toả sáng, hoà chung vào vầng sáng của cả dân tộc, dám
sống vì lý tưởng độc lập tự do.
* Trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành, rừng xà nu còn giữ vai trò nhân
chứng của lịch sử. Rừng xà nu cũng tham dự vào cuộc sống sinh hoạt, chiến đấu của dân làng
Xô Man. Đã bao đêm dưới ánh lửa xà nu bập bùng dân làng đã tụ tập nghe Cụ Mết kể về lịch
sử của làng, về chiến công của Tnú. Khi dân làng khởi nghĩa thì cả cánh rừng xà nu ào ào rung
động và lửa cháy khắp rừng, phong vị Tây nguyên giọng điệu sử thi của tác phẩm cũng được
gợi lên từ những hình ảnh thiên nhiên này.
*Sơ kết: Nguyễn trung Thành đã sử dụng nhân hóa như một phép tu từ chủ đạo trên
suốt trang văn đặc tả rừng xà nu. Để làm cho hình tượng xà nu trở lên sống động, nhà văn đã
đăt cây xà nu và con người đã đan cài vào nhau, soi chiếu vẻ đẹp cho nhau. Rừng xà nu chính
là ẩn dụ của con người, những con người sống dưới tầm đại bác. Cũng như cây xà nu, thân thể
và trái tim họ đầy thương tích. Và cũng có đời người giống như những cây xà nu nào đó, “bị
chặt đứt ngang nửa thân người”. Song cũng như cây xà nu, con người Xô Man, con người Tây
Nguyên, con người Việt Nam trong những ngày đánh giặc vẫn sống , bền bỉ, kiêu hùng, đầy
khao khát hướng đến ánh sáng mặt trời. Biện pháp miêu tả tượng trưng lãng mạn đã được huy
động khiến cho tác phẩm có dáng dấp một áng thơ văn xuôi.
+ Hình tượng các thế hệ người dân làng Xô Man:
Truyện còn xây dựng thành công một tập thể những người dân anh hùng của núi rừng
Tây Nguyên. Những nhân vật trong tác phẩm, tiêu biểu như: cụ Mết, anh Quyết, Tnú, Mai, Dít,
bé Heng thực chất là những kết tinh cao độ những phẩm chất tiêu biểu của cả cộng đồng (gắn
bó với dân làng, trung thành với cách mạng, căm thù giặc sâu sắc, kiên cường bất khuất, dũng
cảm chiến đấu hi sinh ). Lí tưởng sống của những nhân vật này luôn gắn liền với vận mệnh
của cả cộng đồng. Hơn nữa, các nhân vật ở đây cũng được xây dựng thể hiện sự tiếp nối giữa
các thế hệ cách mạng làng Xô Man. Cụ Mết đại diện cho thế hệ cách mạng từ thời kháng chiến

Cụ Mết luôn giáo dục ý thức cách mạng cho dân làng bên ánh lửa xà nu bập bùng. Với
một giọng nói trầm ấm trang nghiêm, cụ đã kể cho dân làng nghe về cuộc đời của Tnú. Trong
lời kể của cụ có một cái gì đó thật thiêng liêng hệt như một câu chuyện lịch sử, một huyền
thoại của thời đại. Từ những câu chuyện ấy, cụ Mết đã khơi dậy trong tâm hồn mỗi người lòng
yêu thương buôn làng, yêu quê hương đất nước, lòng trung thành tuyệt đối vào Đảng, vào cách
mạng.
Cụ Mết cũng chính là người chỉ huy trực tiếp cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Đó
là sự chỉ huy sáng suốt giàu kinh nghiệm và uy lực. Cụ đã bình tĩnh chỉ huy dân làng vùng dậy
tự trang bị vũ khí mài bằng đá núi Ngọc Linh, chém chết tiểu đội lính nguỵ, giải thoát cho Tnú,
đốt lên ngọn lửa đồng khởi cháy khắp núi rừng Tây Nguyên. Hình ảnh cụ Mết chống giáo chỉ
huy dân làng trong ánh lửa xà nu bừng bừng khiến cho ta nhớ đến các nhân vật trong sử thi
Tây Nguyên. Có thể nói nhân vật cụ Mết đã trở thành một cơ sở quan trọng tạo nên vẻ đẹp sử
thi hùng tráng trong truyện ngắn đặc sắc này.
Xây dựng nhân vật cụ Mết như một nhân vật huyền thoại, kết tinh những phẩm chất tốt
đẹp của con người Tây Nguyên, phải chăng Nguyễn trung Thành muốn khẳng định vai trò của
thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ. Cụ Mết vừa là người nối kết thế hệ với truyền thống, với lịch
sử quê hương, vừa là người dẫn dắt thế hệ thanh niên trong cuộc chiến đấu hiện tại. Chính vì
có một thế hệ cha ông như cụ Mết mà thế hệ của Tnú, của Dít, của bé Heng có sự trưởng thành
lớn lao.
* Tnú: Ta biết rằng nội dung chủ yếu của tác phẩm là kể về cuộc chiến đấu kiên cường
của làng Xô Man. Từ trong máu lửa, dân làng đã kết thành một khối vững chắc đứng lên làm
cách mạng bảo vệ cho cuộc sống tự do cho buôn làng. Các thế hệ khác nhau của làng đều có
những đóng góp xứng đáng cho cuộc chiến đấu chung. Trong mỗi sự tích anh hùng đều có
công lao của tập thể và trong mỗi chiến công chung đều có những đóng góp xứng đáng cuả
Trang 6
mỗi thành viên anh hùng. Trong tập thể anh hùng đó ta không thể quên hình ảnh Tnú không
phải chỉ bởi đây là nhân vật trọng tâm của tác phẩm mà còn bởi những tính cách mạnh mẽ
ngoan cường của anh. Tnú là nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng của tuổi trẻ Tây Nguyên anh
hùng trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ.
Là ngưòi con ưu tú của làng Xô Man, Tnú đã lớn lên trong máu lửa của cuộc chiến

Học chữ hay quên nhưng Tnú lại rất thông minh và nhanh trí khi làm nhiệm vụ. Lúc đi
liên lạc, Tnú không bao giờ đi đường mòn, bị giặc bao vây khắp các ngả đưòng anh leo lên cây
cao giữa rừng tìm quanh một lượt rồi sau đó xé rừng mà đi. Khi qua sông, Tnú thường chọn
những đoạn có thác dữ cho địch khỏi phát hiện. Hình ảnh chú bé cưỡi lên con thác băng như
một con cá kình là một hình ảnh tuyệt đẹp cho thấy khí phách và bản lĩnh của một thiếu niên
Tây Nguyên ngoan cường, dũng cảm. Có lần khi vựơt qua thác sông Đắc Năng, Tnú đã bị kẻ
thù phục kích bắt được, cậu chỉ kịp nuốt là thư vào bụng để bảo toàn bí mật cho cách mạng.
Thế nhưng Tnú vẫn bị giặc bắt và tra tấn rất dã man. Những vết dao chém dọc ngang trên tấm
lưng Tnú như những vết thương trên thân cây xà nu. Sự tra tấn của kẻ thù không thể hủy diệt
Trang 7
được sức sống bất diệt trong anh mà còn nung nấu thêm ngọn lửa căm thù, ngọn lửa đấu tranh
trong trái tim sục sôi yêu nước ấy. Khi kẻ thù hỏi cộng sản ở đâu, Tnú đã can đảm chỉ tay vào
bụng mà nói : “Cộng sản ở đây ”. Đó không phải là câu trả lời mà là một lời thách thức. Hành
động quả cảm của Tnú đã cho thấy lòng trung thành tuyệt đối của người dân Tây Nguyên đối
với Đảng. Trong những gian khổ hy sinh thử thách tàn khốc thì lòng trung thành ấy càng toả
sáng. Đảng đã ỏ trong tâm hồn những người dân Tây Nguyên bất khuất kiên cường như Tnú .
Hình ảnh Tnú thời thơ âú với tất cả sự ngộ nghĩnh, gan dạ, trung thành, kiên cường, sẵn sang
hy sinh thân mình cho cách mạng cũng chính là hình ảnh của những thiếu niên Việt Nam như
Lê Văn Tám, Kim Đồng…- những anh hùng mà nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi:
“ Ôi Việt Nam xứ sở lạ lùng
Đến em thơ cũng hóa nhưng anh hùng
Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ
Và hoa trái cũng biến thành vũ khí…”
Và một Tnú gan góc, dũng cảm, được tôi luyện ý chí cách mạng từ thuở nhỏ ấy là tiền đề
để tạo nên một Tnú anh hùng về sau.
Giống như một cây xà nu vươn lên một cách kiêu dũng trong đau thương mất mát, sau
những năm bị tù đầy, Tnú đã vượt ngục trở về làng. Anh thực sự đã trưởng thành, trở thành
một chàng trai khỏe mạnh, kiên cường. Nguyễn Trung Thành đã xây dựng hình tượng nhân vật
Tnú với những vẻ đẹp của một con người lí tưởng: một chàng trai với bộ ngực rộng và hai cánh
tay khỏe chắc như lim, như một cây xà nu trưởng thành, cường tráng. Lúc này cán bộ Quyết

triệu, kêu gọi dân làng cầm vũ khí đứng lên, “tiếng thét của anh vang dội thành nhiều tiếng
thét dữ dội hơn” Tiếng chân người đạp trên sàn nhà ưng ào ào. Cụ Mết đã chỉ huy dân làng trang
bị giáo mác chém chết tiểu đội lính nguỵ giải thoát cho Tnú. Một khi kẻ thù đã cầm súng thì chúng
ta phải cầm giáo. Chân lý của cuộc đấu tranh cách mạng đã được tổng kết bằng cuộc đời Tnú.
Rừng Xô Man ào ào rung chuyển và ngọn lửa đã bùng cháy khắp núi rừng.
Sự vùng dậy của dân làng đã cứu thoát Tnú, để rồi sau đó anh trở thành anh giải phóng
quân để giải phóng buôn làng, giải phóng quê hương, đất nước với một nhận thức sâu sắc hơn.
Với anh, thằng giặc nào “cũng là thằng Dục”- kẻ đã giết vợ con anh, kẻ đã gieo bao đau
thương cho dân làng Xô man. Với Tnú, mối thù chung của Tây Nguyên, của đất nước cũng là
mối thù của gia đình, của quê hương anh. Đó là một nhận thức sâu sắc- nhận thức mà Tnú rút
ra từ nỗi đau của bản thân, của buôn làng, của đất nước và từ cuộc chiến đấu của quê hương.
Câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú không dừng lại ở số phận cá nhân mà còn mang ý
nghĩa tiêu biểu cho cuộc sống chiến đấu của cả một dân tộc. Rõ ràng nhân vật Tnú là một nhân
vật sử thi, nhân vật mang số phận lịch sử của cả một dân tộc.
Cùng thế hệ với Tnú còn có Mai và Dít. Mai là một cô gái duyên dáng, linh lợi, giọng
nói trong lanh lảnh. Cô có một trái tim thắm thiết, thủy chung. Tuy Mai đã ra đi, nhưng hình
ảnh của cô vẫn còn mãi bởi có Dít- em gái Mai. Có thể nói đây là hình ảnh mang ý nghĩa tiêu
biểu điển hình cho các cô gái Tây Nguyên thời đánh Mỹ.
Cũng như nhân vật Tnú, Dít đã được tái hiện trong một quá trình phát triển của tính
cách. Trong những ngày đen tối trước đồng khởi, Dít vẫn còn là một cô bé. Khi kẻ thù bao vây
làng Xô Man, quyết tâm bắt được Tnú, thì chỉ có Dít lặng lẽ bò theo máng nước đem gạo ra
rừng tiếp tế cho cụ Mết, Tnú và thanh niên.
Cô bé đã bị địch bắt. Bọn giặc để Dít đứng ở giữa sân lên đạn và bắn, những viên đạn nổ
bay sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân nhỏ của Dít. Váy của cô bé rách tượt từng
mảng. Lúc đầu sự tra tấn về mặt tinh thần của giặc đã khiến Dít khóc thét nhưng viên đạn thứ
mười thì Dít nín bặt. Cô bé chùi nước mắt đứng lặng giữa bọn lính. Cứ mỗi viên đạn nổ thì
thân hình nhỏ bé của Dít lại quật lên một cái nhưng đôi mắt của cô bé thì vẫn mở to, "nhìn bọn
giặc bình thản lạ lùng". Đôi mắt của cô bé Tây Nguyên đã biểu lộ sự quả cảm phi thường. Nó
là một tín hiệu giúp chúng ta nhận ra vẻ đẹp ngoan cường của những người dân Tây Nguyên
chưa bao giờ biết sợ hãi . Đôi mắt ấy cũng bộc lộ sự trưởng thành nhanh chóng của con người

riêng của cảnh vật và con người, truyền thống văn hoá Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ đau thương mà anh dũng.
3. Phân tích hình tượng CÂY XÀ NU .
A.Mở bài:
Nguyễn Trung Thành được mệnh danh là nhà văn của Tây Nguyên bởi ông đã gắn
bó máu thịt với mảnh đất này trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Sự am
tường về Tây Nguyên, niềm ngưỡng mộ những phẩm chất cao quý của đồng bào nơi đây đã
giúp cho nhà văn gặt hái được những thành công rực rỡ về đề tài Tây nguyên. Truyện ngắn
“Rừng xà nu” được viết khi Nguyễn Trung Thành đang ở vào độ chín của tài năng. Trong tác
phẩm này nhà văn đã phản ánh một cách chân thực cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ hy sinh
nhưng cũng rất hào hùng của đồng bào Tây Nguyên. Mở đầu tác phẩm là hình tượng cây xà
nu- biểu tượng của sức sống bất diệt.
B.Thân bài
Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền
Bắc. “Rừng xà nu” được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh
Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ, in lần
đầu trên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung bộ, sau đó in trong tập “Trên quê
Trang 10
hương những anh hùng Điện Ngọc”. Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở
một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra
một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân
dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí
đứng chống lại kẻ thù tàn ác.
Hình tượng cây Xà nu và hình tượng tập thể những nguời anh hùng ở Làng Xô man là
hai hình tượng trọng tâm nổi bật xuyên suốt toàn bộ truyện ngắn. Trong đó hình tượng cây xà
nu đã tạo nên một cái nền đặc biệt hùng vĩ và phóng khoáng để trên đó tác giả khắc hoạ một
cách đậm nét hình tượng những người anh hùng trong chiến đấu.
Tây nguyên vốn là vùng núi rừng rộng lớn và hùng vĩ. Trên mảnh đất ấy có không ít loài
thực vật đa dạng, nhiều tầng nhưng NTT lại chọn cây xà nu làm biểu tượng nghệ thuật cho sức
sống bất khuất và những phẩm chất anh hùng của nhân dân Tây nguyên những ngày đầu của

Sức sống bất tử của RXN đựoc thể hịên ở nhiều phương diện khác nhau:
Trang 11
Trước hết nó thể hiện ở khả năng sinh sôi theo cấp số nhân Nguyễn Trung Thành thật sự
hào hứng khi miêu tả sức sống bất khuất của loài cây này: “Cạnh một cây xà nu mới ngã
gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu
trời.” Sự sinh sản của rừng cây xà nu như thách thức sự huỷ diệt của bom đạn giặc.
Cùng với khả năng sinh sôi theo cấp số nhân, rừng xà nu còn có một khả năng tự chữa
lành những vết thương. Nhà văn đặc biệt chú ý đến những cây xà nu đã trưởng thành. Với
những cây xà nu vượt lên cao quá đầu người, “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết
thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất
nhanh, thay thế những cây đã ngã”. Cứ như vậy rừng xà nu đã ưỡn tấm ngực lớn của mình
ra che chở cho dân làng. Rừng xà nu đã vươn lên với một sức sống diệu kỳ. Sức sống của cây
rừng thiên nhiên không chỉ tương phản gay gắt với sự huỷ diệt mà còn thách thức sự huỷ diệt.
Dường như qua đó Nguyễn Trung Thành muốn khẳng định: ở một mảnh đất như Tây Nguyên
sự sống vẫn bất diệt ngay trong sự huỷ diệt. Chỉ cần nhìn vào làng Xôman bé nhỏ, ta cũng đủ
thấy điều đó. Kẻ thù đã gieo bao đau thương tang tóc cho dân làng. Nuôi lớn lòng căm thù giặc
các thế hệ người dân Tây Nguyên đã đứng lên chiến đấu chống giặc. Thế hệ trước ngã xuống
đã có thế hệ sau trưởng thành, anh Quyết hy sinh đã có Tnú lớn lên thay anh làm cán bộ. Tnú
đi lực lượng thì bé Heng lại tiếp tục trưởng thành. Mai ngã xuống thì em gái của chị đã lớn lên
trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội đầy uy tín. Hình ảnh các thế hệ của làng
Xôman tiếp nối nhau cũng chính là biểu hiện cụ thể sống động nhất của sức sống Tây Nguyên
thời đánh Mỹ mà không một thế lực cường bạo nào có thể tiêu diệt được
c) Rừng xà nu ham ánh mặt trời :
Rừng xà nu đựơc miêu tả trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành có đặc tính là rất
ham ánh sáng mặt trời đương nhiên loại cây nào cũng cần ánh sáng mặt trời nhưng cần phải
thấy rằng ở đây nhà văn không đơn giản chỉ miêu tả đặc tính tự nhiên của xà nu mà còn muốn
gửi gắm vào đó ý nghĩa tượng trưng so sánh. “Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời
đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ
trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, long lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra,
thơm mỡ màng”.

gắn bó máu thịt với mảnh đất này trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Sự am
tường về Tây Nguyên, niềm ngưỡng mộ những phẩm chất cao quý của đồng bào nơi đây đã
giúp cho nhà văn gặt hái được những thành công rực rỡ về đề tài Tây Nguyên. Truyện ngắn
“Rừng xà nu” được viết khi Nguyễn Trung Thành đang ở vào độ chín của tài năng. Trong tác
phẩm này, nhà văn không chỉ xây dựng một biểu tượng nghệ thuật tuyệt đẹp- rừng xà nu-
nhằm tôn vinh sức sống bất tử kỳ diệu của mảnh đất Tây Nguyên những ngày đánh Mỹ mà còn
xây dựng thành công hình tượng tập thể những ngưòi anh hùng.
B.Thân bài
Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền
Bắc. “Rừng xà nu” được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh
Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ, in lần
đầu trên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung bộ, sau đó in trong tập “Trên quê
hương những anh hùng Điện Ngọc”. Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở
một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra
một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân
dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí
đứng chống lại kẻ thù tàn ác.
Ta biết rằng nội dung chủ yếu của tác phẩm là kể về cuộc chiến đấu kiên cường của
làng Xôman. Từ trong máu lửa dân làng đã kết thành một khối vững chắc đứng lên làm cách
mạng bảo vệ cho cuộc sống tự do cho buôn làng. Các thế hệ khác nhau của làng đều có những
đóng góp xứng đáng cho cuộc chiến đấu chung. Trong mỗi sự tích anh hùng đều có công lao
của tập thể và trong mỗi chiến công chung đều có những đóng góp xứng đáng cuả mỗi thành
viên anh hùng.
Trong tập thể anh hùng đó ta có thể cảm nhận những nét chung của họ: Họ đều là những
con người Tây nguyên bất khuất thời chống Mỹ. Ở họ đều cháy lên lòng yêu nước, yêu thương
buôn làng, lòng căm thù giặc cao độ. Tuy vậy, mỗi một nhân vật để lại trong trái tim độc giả
những ấn tượng riêng. Phẩm chất kiên cường của họ cũng được biểu hiện khác nhau. Điều này
đã làm cho bức chân dung của tập thể của những người anh hùng thêm đa dạng và phong phú.
Đứng đầu tập thể anh hùng ấy là Cụ Mết. Cụ Mết là hiện thân của truyền thống, là
pho sử sống của làng Xôman. Cụ là biểu tượng cho sức quật khởi của một truyền thống lịch

Cụ Mết cũng chính là người chỉ huy trực tiếp cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Đó
là sự chỉ huy sáng suốt giàu kinh nghiệm và uy lực. Cụ đã bình tĩnh chỉ huy dân làng vùng dậy
tự trang bị vũ khí mài bằng đá núi Ngọc Linh, chém chết tiểu đội lính nguỵ, giải thoát cho Tnú,
đốt lên ngọn lửa đồng khởi cháy khắp núi rừng Tây Nguyên. Hình ảnh cụ Mết chống giáo chỉ
huy dân làng trong ánh lửa xà nu bừng bừng khiến cho ta nhớ đến các nhân vật trong sử thi
Tây Nguyên. Có thể nói nhân vật cụ Mết đã trở thành một cơ sở quan trọng tạo nên vẻ đẹp sử
thi hùng tráng trong truyện ngắn đặc sắc này.
Xây dựng nhân vật cụ Mết như một nhân vật huyền thoại, kết tinh những phẩm chất tốt
đẹp của con người Tây Nguyên, phải chăng Nguyễn trung Thành muốn khẳng định vai trò của
thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ. Cụ Mết vừa là người nối kết thế hệ với truyền thống, với lịch
sử quê hương, vừa là người dẫn dắt thế hệ thanh niên trong cuộc chiến đấu hiện tại. Chính vì
có một thế hệ cha ông như cụ Mết mà thế hệ của Tnú, của Dít, của bé Heng có sự trưởng thành
lớn lao.
Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, độc giả không thể quên hình ảnh Tnú không phải
chỉ bởi đây là nhân vật trọng tâm của tác phẩm mà còn bởi những tính cách mạnh mẽ ngoan
Trang 14
cường của anh. Tnú là ngưòi con ưu tú của làng Xô Man đã lớn lên trong máu lửa của cuộc
chiến tranh , đã vượt qua những mất mát đau thương của cuộc đời để chiến đấu và trở thành
một chiến sĩ giải phóng. Nét tính cách chủ yếu của anh là sự mạnh mẽ quyết liệt mang đặc
trưng tính cách của người dân Tây Nguyên. Tnú vốn là một đứa trẻ mồ côi, anh đã lớn lên bằng
sự cưu mang đùm bọc của dân làng Xô Man. Anh sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và đã theo
bước dân làng hoà mình vào con dường do Đảng đã vạch ra. Sự can đảm ngoan cường của Tnú
cùng với sự dữ dội quyết liệt của anh dã được thể hiện từ những ngày thơ ấu. Khi cách mạng
bị địch khủng bố ráo riết , chúng treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan treo
đầu súng, Tnú đã không nhụt chí, anh đã tiếp tế cho bộ đội, nuôi giấu cán bộ với một niềm tin:
“Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nứoc này còn.”. Niềm tin giản dị ngây thơ mà cũng rất chân
thành mãnh liệt.
Học chữ hay quên nhưng Tnú lại rất thông minh và nhanh trí khi làm nhiệm vụ. Lúc đi liên
lạc, Tnú không bao giờ đi đường mòn, bị giặc bao vây khắp các ngả đưòng Tnú leo lên cây cao
giữa rừng tìm quanh một lượt rồi sau đó xé rừng mà đi. Khi qua song, Tnú thường chọn những

đấu tranh cách mạng đã được tổng kết bằng cuộc đời Tnú. Rừng Xô Man ào ào rung chuyển và
ngọn lửa đã bùng cháy khắp núi rừng.
Sự vùng dậy của dân làng đã cứu thoát Tnú, để rồi sau đó anh trở thành anh giải phóng
quân để giải phóng buôn làng, giải phóng quê hương, đất nước với một nhận thức sâu sắc hơn.
Với anh, thằng giặc nào “cũng là thằng Dục”- kẻ đã giết vợ con anh, kẻ đã gieo bao đau
thương cho dân làng Xô man. Với Tnú, mối thù chung của Tây Nguyên, của đất nước cũng là
mối thù của gia đình, của quê hương anh. Đó là một nhận thức sâu sắc- nhận thức mà Tnú rút
ra từ nỗi đau của bản thân, của buôn làng, của đất nước và từ cuộc chiến đấu của quê hương.
Khi xây dựng hình tượng Tnú, NTT đặc biệt chú ý đến việc khắc hoạ hình ảnh đôi bàn
tay. Hình ảnh bàn tay Tnú là một nghệ thuật có sức ám ảnh lớn, đó là đôi bàn tay trung thực và
tình nghĩa từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho, từng cầm đá đập đầu, từng hiên ngang
đặt lên bụng mà khẳng định “Cộng sản ở đây”. Đó còn là bàn tay yêu thương, bàn tay căm thù,
đôi bàn tay chiến đấu và chiến thắng. Khi lũ giặc đốt mười đầu ngón tay của Tnú thì đôi bàn
tay là chứng tích hùng hồn về tội ác của kẻ thù, lòng căm thù đã khiến đôi bàn tay của Tnú
thành ngọn lửa. Với đôi bàn tay đầy thương tích Tnú vẫn tiếp tục cầm giáo, cầm súng để chiến
đấu, với đôi bàn tay ấy, Tnú đã chiến đấu để giải phóng quê hương. Câu chuyện bi tráng của
cuộc đời Tnú không dừng lại ở số phận cá nhân mà còn mang ý nghĩa tiêu biểu cho cuộc sống
chiến đấu của cả một dân tộc. Rõ ràng nhân vật Tnú là một nhân vật sử thi, nhân vật mang số
phận lịch sử của cả một dân tộc.
Cùng thế hệ với Tnú còn có Mai và Dít. Mai là một cô gái duyên dáng, linh lợi, giọng
nói trong lanh lảnh. Cô có một trái tim thắm thiết, thủy chung. Tuy Mai đã ra đi, nhưng hình
ảnh của cô vẫn còn mãi bởi có Dít- em gái Mai. Có thể nói đây là hình ảnh mang ý nghĩa tiêu
biểu điển hình cho các cô gái Tây Nguyên thời đánh Mỹ.
Cũng như nhân vật Tnú, Dít đã được tái hiện trong một quá trình phát triển của tính
cách. Trong những ngày đen tối trước đồng khởi, Dít vẫn còn là một cô bé. Khi kẻ thù bao vây
làng Xô Man, quyết tâm bắt được Tnú, thì chỉ có Dít lặng lẽ bò theo máng nước đem gạo ra
rừng tiếp tế cho cụ Mết, Tnú và thanh niên.
Cô bé đã bị địch bắt. Bọn giặc để Dít đứng ở giữa sân lên đạn và bắn, những viên đạn nổ
bay sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân nhỏ của Dít. Váy của cô bé rách tượt từng
mảng. Lúc đầu sự tra tấn về mặt tinh thần của giặc đã khiến Dít khóc thét nhưng viên đạn thứ

thời kỳ đánh Mỹ. Tác phẩm là một khúc ca hùng tráng về cuộc sống chiến đấu của đồng bào
Tây Nguyên trong những năm tháng đau thương nhưng vô cùng vĩ đại.
4. Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm RỪNG XÀ NU – Nguyễn Trung
Thành.
Mở bài: Nguyễn Trung Thành được mệnh danh là nhà văn của Tây Nguyên bởi ông đã
gắn bó máu thịt với mảnh đất này trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Sự am
tường về Tây Nguyên, niềm ngưỡng mộ những phẩm chất cao quý của đồng bào nơi đây đã
giúp cho nhà văn gặt hái được những thành công rực rỡ về đề tài Tây Nguyên. Truyện ngắn
“Rừng xà nu” được viết khi Nguyễn Trung Thành đang ở vào độ chín của tài năng. Trong tác
phẩm này, nhà văn không chỉ xây dựng một biểu tượng nghệ thuật tuyệt đẹp nhằm tôn vinh sức
sống bất tử kỳ diệu của mảnh đất Tây Nguyên những ngày đánh Mỹ mà còn xây dựng thành
công hình tượng tập thể những người anh hùng, trong đó tiêu biểu nhất là nhân vật Tnú.
B.Thân bài
Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền
Bắc. “Rừng xà nu” được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh
Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ, in lần
đầu trên tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung bộ, sau đó in trong tập “Trên quê
hương những anh hùng Điện Ngọc”. Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở
một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra
một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân
dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí
đứng chống lại kẻ thù tàn ác.
Có thể nói đặt tên cho tác phẩm của mình là “ Rừng xà nu”, Nguyễn Trung Thành đã tạo ra
một nhan đề mang ý nghĩa biểu tượng so sánh có giá trị nêu bật chủ đề của tác phẩm: đó là
phẩm chất anh hùng sức sống bất tử kỳ diệu, khát vọng tự do, khát vọng giải phóng của đồng
Trang 17
bào Tây Nguyên trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhan đề này không
những thể hiện khuynh hướng sử thi, chủ đề của tác phẩm mà còn gợi ra phong vị Tây Nguyên
cũng như vẻ đẹp giàu chất thơ, chất lãng mạn của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ .
.

anh đã cùng với Mai bất chấp mọi nguy hiểm, vào rừng nuôi giấu cán bộ, làm liên lạc đưa thư
cho cán bộ từ xã lên huyện. Có khi Tnú ở luôn ngoài rừng ban đêm vì “ Để cán bộ ngủ ngoài
rừng một đêm, bụng dạ không yên được. Lỡ giặc lùng, ai dẫn cán bộ chạy”. Tnú làm tất cả
những điều đó với một niềm tin: “cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn.”. Niềm tin
giản dị, ngây thơ mà cũng rất chân thành, mãnh liệt.
Sự gan góc của Tnú còn thể hiện ở việc học chữ. Khi học không nhớ chữ, Tnú đã “cầm hòn
đá tự đập vào đầu máu chảy ròng ròng”, nhưng sau khi nghe những lời khuyên của anh Quyết
“ không học chữ sao làm được cán bộ”, Tnú đã sượng sùng gọi riêng Mai ra phía sau hốc đá
để hỏi xem “Chữ O có móc là chữ chi.”Hành động đó là biểu hiện của niềm tin vào cách
mạng, của sự trung thực trong trái tim một con người tự nhận thức được bản thân.
Trang 18
Học chữ hay quên nhưng Tnú lại rất thông minh và nhanh trí khi làm nhiệm vụ. Lúc đi
liên lạc, Tnú không bao giờ đi đường mòn, bị giặc bao vây khắp các ngả đưòng anh leo lên cây
cao giữa rừng tìm quanh một lượt rồi sau đó xé rừng mà đi. Khi qua sông, Tnú thường chọn
những đoạn có thác dữ cho địch khỏi phát hiện. Hình ảnh chú bé cưỡi lên con thác băng như
một con cá kình là một hình ảnh tuyệt đẹp cho thấy khí phách và bản lĩnh của một thiếu niên
Tây Nguyên ngoan cường, dũng cảm. Có lần khi vựơt qua thác sông Đắc Năng, Tnú đã bị kẻ
thù phục kích bắt được, cậu chỉ kịp nuốt là thư vào bụng để bảo toàn bí mật cho cách mạng.
Thế nhưng Tnú vẫn bị giặc bắt và tra tấn rất dã man. Những vết dao chém dọc ngang trên tấm
lưng Tnú như những vết thương trên thân cây xà nu. Sự tra tấn của kẻ thù không thể hủy diệt
được sức sống bất diệt trong anh mà còn nung nấu thêm ngọn lửa căm thù, ngọn lửa đấu tranh
trong trái tim sục sôi yêu nước ấy. Khi kẻ thù hỏi cộng sản ở đâu, Tnú đã can đảm chỉ tay vào
bụng mà nói : “Cộng sản ở đây ”. Đó không phải là câu trả lời mà là một lời thách thức. Hành
động quả cảm của Tnú đã cho thấy lòng trung thành tuyệt đối của người dân Tây Nguyên đối
với Đảng. Trong những gian khổ hy sinh thử thách tàn khốc thì lòng trung thành ấy càng toả
sáng. Đảng đã ỏ trong tâm hồn những người dân Tây Nguyên bất khuất kiên cường như Tnú .
Hình ảnh Tnú thời thơ âú với tất cả sự ngộ nghĩnh, gan dạ, trung thành, kiên cường, sẵn sang
hy sinh thân mình cho cách mạng cũng chính là hình ảnh của những thiếu niên Việt Nam như
Lê Văn Tám, Kim Đồng…- những anh hùng mà nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi:
“ Ôi Việt Nam xứ sở lạ lùng

Phần chính của câu chuyện bắt đầu khi quân giặc đã bao vây làng Xô Man quyết bóp chết
mầm CM từ trong trứng nước. Hiểu được vai trò của Tnú, chúng đã tìm mọi cách để bắt anh. Ban
đầu chúng bắt Dít khi cô bé ở ngoài rừng về. Chúng để Dít đứng giữa sân, lên đạn rồi bắn từ từ
từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân của Dít. Cô
bé khóc thét lên nhưng rồi đến viên thứ mười, Dít chùi nước mắt và im bặt. Đôi mắt Dít nhìn bọn
giặc “bình thản lạ lùng”. Không làm gì được cô bé, kẻ thù đã giở ngón đòn hiểm độc là tra tấn
mẹ con Mai. Từ chỗ nấp, Tnú nhìn thấy rõ mồn một. Hai bàn tay anh bíu chặt lấy gốc cây khi bọn
lính dẫn Mai ra giữa sân. Lòng căm thù, nỗi đau khi chứng kiến cảnh vợ con bị địch tra tấn đã
biến đôi mắt anh thành hai cục lửa lớn. Anh đã xông vào quân giặc nhưng anh đã không giành lại
được vợ con từ tay tử thần.
“ Tnú không cứu sống được Mai”, “Ừ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai”; Tnú
không cứu được vợ con”; “Nhớ không, Tnú , mày cũng không cứu song được vợ mày” . Tác
giả đã để cho những lời ấy trở đi trở lại bốn lần nhấn mạnh nỗi day dứt như một điệp khúc
thương đau. Tnú phải trải qua những đau đớn tột cùng .Mẹ con Mai chết, anh bị kẻ thù bắt trói,
chúng đã tẩm nhựa xà nu và đốt mười đầu ngón tay anh. “ Mười ngón tay anh đã thành mười
ngọn đuốc”. Tnú không kêu van một tiếng nào, bởi cho đến lúc cận kề cái chết, trong Tnú vẫn
sống mãi câu nói của anh Quyết :“Người cộng sản không them kêu van”. “ Anh không cảm
thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu
anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”. Bằng những câu văn dồn dập,
giàu xúc cảm, với nhịp điệu mạnh mẽ quyết liệt: “Tnú không thèm, không thèm kêu van.
Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không
kêu! Không!” nhà văn đã làm sống dậy phút giây đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của
nhân vật. Kẻ thù thật độc ác. Chúng đã gieo rắc bao đau thương trên quê hương, trên đất nước
này, nhưng chúng không thể hủy diệt được lòng yêu nước của dân tộc ta. Nói như Tố Hữu:
“ Chúng muốn đốt ta thành tro bụi
Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm
Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơn ngát giữa đầm”
Hãy suy ngẫm nguyên nhân bi kịch của Tnú , tác giả để cho lịch sử phán truyền qua lời
cụ Mết. Cụ đã nhắc lại cho Tnú và mọi người: Tnú không cứu được vợ con và bị bắt vì

đầu làng. Nơi ấy ngày xưa anh đã nắm lấy bàn tay của Mai. Trái tim ấy đã lặng đi khi nghe
tiếng chày giã gạo sau ba năm đi lực lượng, tiếng chày của Mai, của những người phụ nữ Strá,
tiếng chày đã nuôi anh lớn lên, đó là tiếng chày của tình nghĩa. Trái tim ấy đã đau tận cùng với
nỗi đau của quê hương, của gia đình khi chứng kiến trận đòn dã man của kẻ thù giáng xuống
vợ con anh. Nỗi đau ấy đã biến đôi mắt anh thành “hai cục lửa lớn” và anh đã xông vào giữa
bọn giặc để ôm lấy mẹ con Mai bằng “hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc”. Tnú là
biểu tượng của con người Việt Nam, những con người “Sống hiên ngang mà nhân ái, chan
hòa”. Chính bởi vẻ đẹp ấy mà nhân vật này trở nên rất thân thương, gần gũi.
Khi xây dựng hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành đặc biệt chú ý đến việc khắc hoạ
hình ảnh đôi bàn tay. Hình ảnh bàn tay Tnú là một nghệ thuật có sức ám ảnh lớn, đó là đôi bàn
tay trung thực và tình nghĩa từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho, từng cầm đá đập đầu
khi học không nhớ chữ, từng mang công văn đi làm liên lạc hiên ngang đặt lên bụng mà khẳng
định “Cộng sản ở đây”. Đó còn là bàn tay yêu thương, bàn tay nguyên vẹn mà Mai đã cầm lấy
khi Tnú thoát ngục Kon Tum, bàn tay ấy đã ôm lấy vợ con trong giây phút đau thương nhất.
Lúc đó Tnú chỉ có hai bàn tay trắng. Sau giây phút ấy bàn tay nguyên vẹn của Tnú không
còn nữa. Khi lũ giặc đốt mười đầu ngón tay của Tnú thì đôi bàn tay là chứng tích hùng hồn về
tội ác của kẻ thù, lòng căm thù đã khiến đôi bàn tay của Tnú thành ngọn lửa. Với đôi bàn tay
đầy thương tích Tnú vẫn tiếp tục cầm giáo, cầm súng để chiến đấu, với đôi bàn tay ấy, Tnú đã
chiến đấu để giải phóng quê hương.
Câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú không dừng lại ở số phận cá nhân mà còn mang ý
nghĩa tiêu biểu cho cuộc sống chiến đấu của cả một dân tộc. Rõ ràng Tnú là một nhân vật sử
thi, mang số phận lịch sử của cả một dân tộc. Để khắc họa tính cách nhân vật này, nhà văn đã
sử dụng giọng điệu trần thuật mang màu sắc anh hùng ca; cách trần thuật khéo léo, linh hoạt;
Trang 21
cùng với việc lựa chọn những chi tiết tiêu biểu có ý nghĩa khái quát cao, những chi tiết giàu
chất tạo hình. Chính vì thế mà Tnú không chỉ tạo nên những rung cảm sâu sắc trong lòng
người đọc ở sự vượt lên hoàn cảnh khốc liệt, ở tư thế hiên ngang bất khuất, kiên cường, anh
dũng gan góc, mà còn ở những xúc động, những tình cảm thầm kín, sâu sắc trong trái tim anh.
Bên cạnh đó là nghệ thuật tạo tình huống: Tnú về thăm làng , hai bàn tay anh gợi nhắc lại quá
khứ đau thương. Tác giả kể về cuộc đời Tnú nhưng lồng vào đó là lịch sử anh hùng của dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status