LUẬN VĂN: Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới
trên địa bàn Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế tập thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển
Với những lý do nêu trên, “Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn
Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” được tác giả chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài
Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả HTX nông nghiệp là một trong những vấn
đề được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong suốt quá trình cách mạng XHCN ở nước ta,
vấn đề HTX nông nghiệp là chủ đề được nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu
xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau. Có thể nêu một số công trình
tiêu biểu như:
- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã, “Đổi mới tổ chức và quản lý HTX trong
nông nghiệp nông thôn”, Nxb Nông nghiệp, 1999. Các tác giả đã khái quát tòan bộ quá
trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các HTX trong nông thôn Việt Nam từ
trước đến khi chuyển sang kinh tế thị trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản
lý các HTX ở một số địa phương tiêu biểu. Trên cơ sở đó phác họa một số phương hướng
và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX.
- Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lưu Văn Sùng, “ Kinh tế hợp tác, hợp tác xã
ở Việt Nam- Thực trạng và định hướng phát triển”, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả
đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các lọai hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã
trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó nêu lên định hướng
phát triển phù hợp đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
- Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ, “Kinh tế hợp tác trong nông
nghiệp nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, 2003. Các tác giả tập trung trình bày
những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX; sự cần thiết khách quan phải
lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với đặc điểm, điều kiện nông nghiệp,
nông thôn nước ta, đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, HTX
trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Minh Tâm, năm 2000, về “ Phát triển
kinh tế hợp tác ở ngọai thành thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”. Tác giả
nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động của kinh tế hợp tác xã ở thành phố Hồ Chí Minh
và đề xuất các giải pháp phát triển.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là HTX nông nghiệp kiểu mới ở Tuy Hòa, tỉnh Phú
Yên. Thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1997 đến 2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin; tư tưởng Hồ Chí
Minh; đường lối quan điểm, những tổng kết kinh nghiệm của Đảng và chính sách pháp luật
của Nhà nước; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần
với đề tài.
- Về phương pháp nghiên cứu; vận dụng phương pháp chung như: phương pháp
trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời
khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát vấn đề.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Phân tích có phê phán cơ sở lý thuyết của mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới ở
nước ta.
- Phác họa bức tranh nhiều chiều về HTX nông nghiệp kiểu mới ở Tuy Hòa, Phú
Yên.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển mạnh hơn nữa HTX nông
nghiệp kiểu mới ở Tuy Hòa, Phú Yên trong thời gian tới.
7. Kết cấu của uận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết. Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP KIỂU MỚI Ở NƯỚC TA
1.1. HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP KIỂU MỚI THEO TINH THẦN LUẬT
PHÁP VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của
pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau
thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải
thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước [36, tr.8].
Theo định nghĩa này, HTX là một tổ chức kinh tế có tổ chức chặt chẽ, có tư cách
pháp nhân, được đăng ký kinh doanh theo qui định của luật pháp. Vì vậy, mục tiêu của
HTX trước hết là phải kinh doanh có hiệu quả, trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu xã
hội, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các xã viên. HTX cũng là phương tiện để kết hợp sức
mạnh của từng xã viên và sức mạnh của cả tập thể, thông qua kết quả kinh doanh của HTX
mà cải thiện đời sống của xã viên và góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Để phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, Luật HTX (năm 2003) đã đưa ra khái
niệm HTX:
HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
(sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn,
góp sức lập ra theo qui định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng
xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển
kinh tế-xã hội của đất nước.
HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vị vốn điều lệ,
vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo qui định của pháp luật [12,
tr.7-8].
Theo khái niệm này, ngoài những tính chất và đặc thù do Luật HTX (năm 1996) qui
định, HTX kiểu mới do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người có ít
vốn và người có nhiều vốn, có thể góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ. HTX được
thừa nhận hoạt động theo điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường như
chức năng và HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX dịch vụ “chuyên ngành”.
+ HTX dịch vụ từng khâu còn gọi là HTX chuyên khâu có nội dung hoạt động tập
trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong quá trình
sản xuất và phục vụ cho sản xuất.
+ HTX dịch vụ tổng hợp- đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều
khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra), dịch vụ
giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu,v.v…
+ Hợp tác xã dịch vụ “ đơn mục đích” hay hợp tác xã dịch vụ “chuyên ngành”. Hợp
tác xã loại này được hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất – kinh
doanh một loại hàng hóa tập trung hoặc cùng làm một nghề giống nhau (HTX trồng rừng,
HTX trồng mía, HTX trồng chè.v.v…). Hợp tác xã thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế
hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển và
tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến, ngân hàng.v.v…
- Hợp tác xã sản xuất kết hợp dịch vụ.
Hợp tác xã loại này có đặc điểm: nội dung hoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là
kết hợp.
- Hợp tác xã sản xuất-kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện.
Đặc điểm cơ bản của mô hình hợp tác xã lọai này là: cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt
động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán, kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc
của Hợp tác xã kiểu mới và tương tự một “ doanh nghiệp” tập thể.
+ Sở hữu tài sản trong hợp tác xã gồm hai phần: sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần.
Xã viên hợp tác xã tham gia lao động trong hợp tác xã được hưởng thu nhập theo nguyên
tắc phân phối theo lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập thể của HTX).
+ Hợp tác xã hoạt động sản xuất- kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển
kinh tế hợp tác xã và đem lại lợi ích cho xã viên.
+ Hợp tác xã lọai này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp xây dựng, khai
thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối, đánh cá [4, tr. 24,
30].
1.1.1.2. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp. Các lọai hình hợp tác xã nông nghiệp
HTX nông nghiệp kiểu mới đăng ký hoạt động theo Luật HTX có sự đổi mới về
chất so với HTX kiểu cũ được thành lập trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Về chi tiết
mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới có nhiều điểm khác biệt so với HTX kiểu cũ.
Dưới đây chỉ nêu lên những khác biệt cơ bản nhất đó là:
- Về cách thức thành lập: HTX kiểu cũ được thành lập theo kiểu áp đặt từ trên
xuống. HTX nông nghiệp kiểu mới được thành lập do các thể nhân và pháp nhân tự
nguyện góp vốn, góp sức lập ra.
- Về tính chất của tổ chức: HTX kiểu cũ vừa là tổ chức kinh tế, vừa là tổ chức xã
hội ở địa phương. HTX nông nghiệp kiểu mới, trước hết là tổ chức kinh tế, vì sự phát triển
của kinh tế hộ xã viên HTX.
Vì nhiều lý do khác nhau, các HTX nông nghiệp trước đây phải gánh vác các nghĩa
vụ xã hội rất nặng. HTX nông nghiệp kiểu mới đăng ký hoạt động theo Luật HTX tuy vẫn
có chức năng xã hội, nhưng trước hết là một tổ chức kinh tế, HTX chỉ thực hiện các nghĩa
vụ xã hội trên cơ sở hoạt động kinh tế có hiệu quả và những chăm lo về mặt xã hội trước
hết cũng dành cho xã viên HTX. Đây cũng là đặc điểm mới mà chính quyền các cấp cần
phải lưu ý trong khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với HTX.
- Về cơ chế hoạt động của HTX: HTX nông nghiệp kiểu cũ hoạt động trong cơ chế kế
hoạch hoá tập trung bao cấp, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như hoạch toán lỗ lãi,
phân phối, giá cả … đều theo kế hoạch nhà nước. Hoạt động mang tính hành chính, độc
quyền. HTX nông nghiệp kiểu mới hoạt động theo quan hệ kinh tế. HTX là một đơn vi kinh
doanh độc lập trong cơ chế thị trường, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng như phân chia lỗ lãi, đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ đối với
Nhà nước và trách nhiệm đối với xã viên. Do vậy, HTX nông nghiệp kiểu mới đòi hỏi đội ngũ
cán bộ quản lý cũng như xã viên phải có tính chủ động cao, trình độ kinh doanh giỏi, năng
động, sáng tạo hơn so với HTX trong cơ chế cũ.
- HTX kiểu cũ nói chung và HTX nông nghiệp cũ nói riêng, một mặt nhằm mục
đích tập hợp lại để đẩy mạnh sản xuất, từng bước xoá bỏ kinh tế cá thể, do đó hình thức
HTX chủ yếu là trong lĩnh vực sản xuất. Phương hướng phát triển chủ yếu của HTX cũ là
từ HTX bậc thấp lên HTX bậc cao để khi có điều kiện sẽ chuyển thành xí nghiệp quốc
Ban kiểm soát, Trưởng Ban quản trị kiêm chủ nhiệm HTX. Công tác cán bộ HTX được
đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ và chính quyền địa phương, các chức danh chủ
chốt của HTX do Đảng uỷ chỉ định và nhất thiết phải do đảng viên và người trong nội bộ
HTX nắm giữ. Đối với HTX nông nghiệp kiểu mới chức năng quản lý và điều hành được
tách biệt rõ ràng. Bộ máy quản lý của HTX bao gồm Ban quản trị, Ban kiểm soát, Ban chủ
nhiệm, Chủ nhiệm HTX có thể do Trưởng Ban quản trị kiêm nhiệm hoặc là người do HTX
thuê. HTX được quyền tự chủ trong công tác cán bộ của mình, các chức danh chủ chốt
không nhất thiết do đảng viên hay người trong nội bộ HTX nắm giữ.
- HTX kiểu mới cũng khác với công ty cổ phần. HTX do các thành viên tự nguyện
tập hợp, liên kết lại để cùng kinh doanh hoặc hỗ trợ nhau kinh doanh. Mỗi thành viên tham
gia dù ít hay nhiều vốn đều bình đẳng với nhau trong quyết định các vấn đề chung của
HTX, với nguyên tắc cơ bản “mỗi người một lá phiếu”. (nguyên tắc “đối nhân”); trong khi
đó, công ty cổ phần do các nhà đầu tư đứng ra thành lập, tổ chức hoạt động lấy mục tiêu là
lợi nhuận, thành viên tham gia (các cổ đông) chỉ có quyền tham gia quyết định các vấn đề
của công ty theo mức độ góp vốn (nguyên tắc “đối vốn”). Công ty cổ phần phân phối theo
tỷ lệ vốn góp; còn HTX phân phối theo tỷ lệ vốn góp, theo lao động và mức độ tham gia
các dịch vụ.
1.1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu
mới
HTX nông nghiệp tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc sau:
- Tự nguyện gia nhập và ra HTX; tất cả nông dân và người lao động có điều kiện
theo quy định của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX nông nghiệp đều có thể trở thành xã
viên HTX nông nghiệp; xã viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ từng HTX
nông nghiệp.
- Quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên HTX nông nghiệp có quyền
tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX và có quyền ngang nhau
trong biểu quyết; thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân
phối và những vấn đề khác quy định trong Điều lệ HTX nông nghiệp.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về
người sản xuất nhỏ phát triển marketing, nhờ đó những khả năng mở rộng được thị trường
trong và ngoài nước đảm bảo sự cân bằng và chẳng những có thể trụ vững trong thị trường
cạnh tranh, mà còn không ngừng phát triển, không bị phá sản trở thành gánh nặng lao động
thất nghiệp cho xã hội.
HTX nông nghiệp là mô hình tổ chức sản xuất có tính xã hội chủ nghĩa. Trước hết,
đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vệ tinh của các doanh nghiệp nhà nước; là
đơn vị liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác và có thể là đơn vị xuất nhập
khẩu. Tính xã hội của hợp tác xã nông nghiệp được thể hiện ở chỗ là một tổ chức kinh tế
của những người lao động, tập hợp được đông đảo mọi người tham gia nhằm giúp đỡ lẫn
nhau, tăng thêm sức mạnh trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần tạo công ăn việc
làm và thu nhập chính đáng và ở việc HTX hỗ trợ người nghèo. Trong mọi hoạt động của
mình, HTX còn có nghĩa vụ giáo dục tinh thần hợp tác cho xã viên, khuyến khích sự hợp
tác không chỉ trong nội bộ xã viên của HTX mà còn giữa các HTX. Ngoài chăm lo về mặt
kinh tế, HTX còn chăm lo cả về mặt tinh thần cho xã viên thông qua các hoạt động chung
của HTX. Tuy nhiên tất cả những hoạt động xã hội phải được tiến hành trên cơ sở hoạt
động kinh tế có hiệu quả. Những hoạt động này sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí của
cộng đồng, góp phần dân chủ hoá đời sống xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc
phòng.
Ngoài ra, HTX nông nghiệp còn có vai trò tạo điều kiện thuận lợi đưa tiến bộ khoa
học kỹ thuật, quản lý, công nghệ mới vào sản xuất. Tiến hành chuyên môn hoá, tập trung
hoá, phát triển hợp lý các ngành sản xuất, dịch vụ và thâm canh khoa học. Khai thác tiềm
năng về vốn, lao động và công nghệ, đảm bảo môi trường sinh thái, có khả năng đào tạo và
bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu
của nền kinh tế thị trường.
1.1.4. Những yếu tố tác động đến sự phát triển của hợp tác xã nông nghiệp kiểu
mới ở nước ta
1.1.4.1. Trình độ phát triển nông nghiệp hàng hoá
Lý luận và thực tiễn chứng tỏ là khi nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp, tự
túc, mục tiêu của người nông dân là tối đa hoá lợi ích, chứ không phải tối đa hoá lợi nhuận
của Nhà nước.
Tuy vậy, mô hình HTX này đã bộc lộ nhiều nhược điểm đã kìm hãm sản xuất. Cho
đến khi Chỉ thị số 100/TW, ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư Trung ương ra đời – là một
quyết định mang tính đột phá mở đầu công cuộc đổi mới kinh tế hợp tác, mà trước hết là
HTX nông nghiệp. Và đây chính là điểm mở đầu cho việc ra đời Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị khóa VI (4/1988), đánh dấu một giai đoạn chuyển biến quan trọng của mô hình
HTX kiểu cũ, cũng chính là bước chuẩn bị quan trọng cho sự ra đời của Luật HTX (năm
1996) và sau đó là Luật HTX (năm 2003) tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản để HTX hoạt động
phù hợp với thực tiễn đặt ra.
1.1.4.4. Bối cảnh kinh tế - xã hội
“Sự phát triển các lĩnh vực hợp tác, các hình thức hợp tác và quy mô hợp tác ở
những mức độ khác nhau là xuất phát từ quy luật quan hệ sản xuất nhất thiết phải phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” [30, tr. 24].
Mặt khác, nó còn chịu sự tác động của môi trường, điều kiện đặc thù của
từng địa phương, đó là trình độ dân trí, văn hóa, truyền thống, tâm lý, tính cộng
đồng, sự hiểu biết, tính năng động sáng tạo trong hoạt động sản xuất-kinh
doanh dưới tác động của nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hội nhập
với khu vực và thế giới.v.v… [4, tr. 98].
1.1.4.5. Thị trường đầu vào, đầu ra cho nông nghiệp
Đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, cho nên cần phải theo dõi, chăm
sóc tỉ mỉ, thường xuyên để đáp ứng đúng kỹ thuật, kịp thời các yêu cầu sinh học của cây
trồng, vật nuôi. Điều đó quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông
nghiệp. Chỉ có hình thái kinh tế gia đình với cơ chế “tự thuê mướn sức lao động của chính
mình”, “tự bóc lột mình” và lấy công làm lãi, nhờ gắn trực tiếp lợi ích của mỗi người và cả
cộng đồng gia đình vào kết quả cuối cùng của sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra khả năng lớn
hơn các loại hình doanh nghiệp khác trong việc vượt qua tình huống rủi ro do thiên nhiên
hay do thị trường gây ra.
Mặt khác, kinh tế nông hộ không thể tự thân trở thành một đơn vị kinh tế hàng hóa
vốn tập thể trong HTX. Phát huy quyền tự chủ kinh doanh của mỗi nông hộ: kinh tế tập thể
không thay thế kinh tế hộ mà trái lại coi việc phát triển kinh tế hộ làm mục tiêu hoạt động
và là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của mình.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng
định:
Cần củng cố những tổ hợp tác, HTX hiện có, tiếp tục phát triển kinh tế hợp
tác với nhiều hình thức, qui mô, trình độ khác nhau trong các ngành, lĩnh vực,
địa bàn có điều kiện. Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là các tổ hợp tác và
HTX; trong lĩnh vực nông nghiệp, trước hết tập trung làm dịch vụ đầu vào, đầu
ra phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước mở
rộng ngành nghề sản xuất, kinh doanh tổng hợp; trong lĩnh vực phi nông nghiệp,
vừa tổ chức sản xuất vừa kinh doanh dịch vụ. Mở rộng các hình thức liên doanh,
liên kết giữa tổ hợp tác, HTX với các doanh nghiệp thuộc mỗi thành phần kinh tế,
nhất là với doanh nghiệp nhà nước. Khi HTX phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ
hình thành các doanh nghiệp của HTX, các liên hiệp HTX [12, tr.29].
Mục tiêu từ nay đến năm 2010 là: “đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém
hiện nay. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới tỷ trọng ngày càng lớn hơn
trong GDP của nền kinh tế” [12, tr. 29].
1.2.2. Chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển hợp tác xã nông nghiệp
của Đảng và Nhà nước ta
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện phát triển
HTX trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là các HTX
nông nghiệp, để cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng kinh tế, đó cũng là nền
tảng chính trị - xã hội của đất nước nhằm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Điều 3 Luật HTX (năm 2003) đã khẳng định chính sách của Nhà
nước đối với HTX theo hướng:
- Ban hành và thực hiện các chính sách khuyến khích hợp tác xã phát triển.
- Bảo đảm quyền bình đẳng của HTX trong nền kinh tế nhiều thành phần.
trên vốn hoạt động bình quân đạt 5,62%/năm. HTX nông nghiệp tại Bình Thuận hoạt động
kinh doanh, dịch vụ gồm 4 loại chủ yếu là: thuỷ nông, vật tư nông nghiệp, tín dụng, giống
[28].
Quá trình hình thành, củng cố,đổi mới và phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Bình
Thuận, đã từng bước đáp ứng yêu cầu của ngưòi lao động, kinh tế hộ, khai thác được một
số nguồn nhân lực mới trong các ngành, các lĩnh vực, góp phần vào tăng trưởng kinh tế
của tỉnh. Hoạt động của các HTX đã tạo lập và phát huy các mối quan hệ lành mạnh trong
cộng đồng, góp phần chăm lo đến các mặt đời sống xã hội của dân cư trên địa bàn. Đáng
chú ý là đã xoá được các quan hệ từng cản trở tốc độ phát triển trong HTX kiểu cũ, hạn
chế nạn cho vay nặng lãi, ép giá ép cấp của tư thương. Nhiều HTX là cầu nối trong việc
triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến các
hộ sản xuất. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp được thực hiện
nghiêm túc, có hiệu quả, tạo điều kiện tiếp tục củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả
trong thời gian tới. Tạo lập được môi trường thuận lợi cho kinh tế tập thể phát triển. Nhận
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về kinh tế hợp tác và HTX có chuyển biến tích
cực, rõ nét hơn, xoá bỏ dần mặc cảm hoài nghi do mô hình HTX cũ để lại.
Tuy nhiên, các HTX nông nghiệp tỉnh Bình Thuận còn nhiều khó khăn, yếu kém
như: quy mô hoạt động của HTX nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, thường chỉ phục vụ trong
nội bộ một thôn hay một xã, thậm chí trong một nhóm xã viên; chưa đa dạng sản phẩm và
ngành nghề. Hiệu quả kinh doanh dịch vụ thấp, số HTX hoạt động có lãi từ 8% / năm trở
lên chỉ chiếm 39,6% tổng số HTX nông nghiệp. HTX chỉ thực hiện kinh doanh dịch vụ
đầu vào, chưa quan tâm dịch vụ đầu ra. HTX thiếu vốn để hoạt động. Phần lớn các HTX
không vay được vốn tín dụng do không có tài sản thế chấp hoặc không có phương án sản
xuất kinh doanh dịch vụ khả thi; do mức độ tín nhiệm không cao nên không thể vay tín
chấp. Một số HTX không dám vay vốn vì sau khi vay mua vật tư ứng trước cho xã viên
nhưng khó thu hồi. Quản lý Nhà nước đối với HTX còn hạn chế. Nhiều chính sách khuyến
khích phát triển HTX chưa được triển khai thực hiện.
Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém là:
Nhận thức về vị trí của HTX và kinh tế hợp tác trong một số cán bộ lãnh đạo ở các
so tổng số HTX nông nghiệp đang hoạt động [29].
Nhìn chung, các HTX nông nghiệp đã được thành lập trên cơ sở tự nguyện của
nông dân, không có sự gò ép của chính quyền địa phương. HTX thành lập và hoạt động đã
giúp cho nông dân giải quyết được một phần nhu cầu đầu vào cho sản xuất như vốn, công
nghệ, giống, phân bón… nên bước đầu tạo được niềm tin trong xã viên. Một số HTX có
tích luỹ, tăng vốn tự có, mở rộng lĩnh vực kinh doanh và phân phối lợi nhuận cho xã viên.
Đặc biệt, một số HTX liên kết được với các doanh nghiệp nhà nước thu hút xã viên là các
pháp nhân và các thể nhân có vốn và kinh nghiệm kinh doanh.
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ HTX còn rất yếu so với yêu cầu, đa số các HTX chỉ thực
hiện được vài khâu dịch vụ đầu vào, chưa lo được đầu ra cho xã viên; quy mô vốn nhỏ, cơ
sở vật chất kinh doanh thiếu thốn.
Hướng đến, tỉnh tập trung sức hình thành các HTX ở những vùng chuyên canh sản
xuất nguyên liệu cung ứng cho công nghiệp chế biến nông sản. Đồng thời củng cố hoạt
động của các HTX hiện có theo hướng đổi mới nội dung hoạt động, mở rộng kinh doanh
nhiều lĩnh vực dịch vụ ở nông thôn. Thu hút xã viên có tiềm lực kinh tế, có năng lực kinh
doanh; đảm bảo thật tốt tính tự chủ của xã viên. Tăng cường công tác quản lý đối với
HTX.
1.3.3. Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng
Đến tháng 10 năm 2001, Lâm Đồng chuyển đổi theo Luật HTX được 18 HTX nông
nghiệp và thành lập mới 14 HTX. Do khi chuyển đổi, thành lập mới không tôn trọng
nguyên tắc cơ bản của HTX kiểu mới, phương thức hoạt động và mô hình chưa phù hợp,
phương thức sản xuất kinh doanh thiếu tính khả thi, thiếu dân chủ trong lựa chọn cán bộ,
không huy động được vốn và không tổ chức được hoạt động, nên đã giải thể 8 HTX. Đến
thời điểm gần cuối năm 2001, Lâm Đồng có 26 HTX nông nghiệp (trong đó, có 16 HTX
chuyển đổi và 10 HTX thành lập mới), nhưng chỉ có 18 HTX hoạt động, còn 8 HTX chưa
hoạt động (trong đó 01 HTX chuyển đổi). Tổng vốn của 18 HTX đang hoạt động là 41,8 tỷ
đồng; trong đó vốn lưu động 14,8 tỷ đồng. Có sự chênh lệch rất lớn về vốn của các HTX,
HTX Thiện Lập có tổng vốn cao nhất là 7,7 tỷ, HTX Phước Thành có tổng vốn thấp nhất
là 91 triệu. Số HTX có vốn lớn hầu hết là những HTX chuyển đổi, ở vùng chuyên canh cây
doanh.
- Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý hợp tác xã.
1.3.4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Tuy Hòa
Qua kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới ở các tỉnh:
Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng; có thể rút ra bài học kinh nghiệm
cho Tuy Hòa như sau:
- Phải tạo cho được sự chuyển biến trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên
từ huyện đến cơ sở về xây dựng HTX kiểu mới theo Luật HTX (năm 2003), nhất là đối với
các HTX nông nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Xây dựng HTX nông nghiệp kiểu mới phải xuất phát từ nhu cầu của nông dân,
bảo đảm nguyên tắc tự nguyện gia nhập và ra HTX. Tránh chủ quan, nóng vội, gò ép, áp
đặt từ trên xuống.