LUẬN VĂN:
Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư
xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên
địa bàn tỉnh Thanh Hoá Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với môi trường chính trị ổn định, nền kinh tế nước ta
phát triển khá mạnh, GDP hàng năm tăng từ 7,5-8%. Một trong những yếu tố góp phần
đạt được những thành tựu đó là tăng đầu tư xây dựng (ĐTXD). Tuy nhiên, cùng với
những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế thì ĐTXD ở nước ta, nhất là ĐTXD từ vốn ngân
sách Nhà nước (NSNN), đang gặp phải nhiều vấn đề nan giải, trong đó có tình trạng thất
thoát, lãng phí (TTLP).
Thực tế những năm vừa qua đã cho thấy, nhiều nơi, nhiều lúc tình trạng thất
Xuân Lĩnh, năm 2006; luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý “Phòng, chống thất
thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước ở nước ta
hiện nay” của tác giả Ngô Văn Quý; bài “Thất thoát vốn đầu tư XDCB và giải
pháp ngăn chặn” của tác giả Trần Lưu Dung, đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự
báo, số 8/2004; bài “Tham nhũng, tiêu cực trong đầu tư XDCB, tiền thất thoát đủ
trả lương cho bộ máy hành chính, sự nghiệp cả nước” của tác giả Trần Công
Hùng, đăng trên Báo Tiền phong số 225 ngày 11/11/2005; bài “Tập trung chỉ đạo
tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực đầu tư XDCB” của tác giả Võ Hồng
Phúc, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, đăng trên Tạp chí Thời báo Kinh tế số 1/2005; bài
“Phát triển kinh tế – xã hội và cuộc đấu tranh chống TTLP” của tác giả Trương
Giang Long, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 22 tháng 11/2005; bài “Những
nguyên nhân chủ yếu và biện pháp nhằm giảm thiểu TTLP trong đầu tư và xây
dựng” của tác giả Hoàng Xuân Hoà, Ban Kinh tế Trung ương, đăng trên Tạp chí
Khu công nghiệp Việt Nam số 9/2005;
Ngoài ra còn còn có một số công trình khác đã công bố cũng liên quan đến
TTLP, quản lý kiểm tra, kiểm soát hoạt động ĐTXD. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu đề tài này dưới dạng luận văn, luận án khoa học trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá nhằm giúp cho địa phương chống TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN có
hiệu quả hơn. Thực hiện đề tài, luận văn sẽ tham khảo, lựa chọn, kế thừa những ý
tưởng của các công trình đã nghiên cứu và công bố, đồng thời đi sâu nghiên cứu lý luận để đề ra những giải pháp chống TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn
tỉnh Thanh Hoá.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nhận dạng và phân tích thực trạng TTLP trong ĐTXD
từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá và đề xuất các giải pháp chống TTLP hiệu
quả hơn
Phù hợp với mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở khoa học của việc chống TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN.
- Đề xuất giải pháp chống TTLP trong ĐTXD từ nguồn vốn NSNN ở Thanh
Hoá trong thời gian tới để có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng
của tỉnh trong việc xây dựng chương trình công tác trong lĩnh vực phòng, chống tham
nhũng, TTLP trên địa bàn tỉnh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương ba (khoá X) của
Đảng
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
được trình bày trong 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
Một số vấn đề chung về thất thoát, lãng phí
và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư
xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
1.1. một số vấn đề chung về đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
1.1.1. Đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư xây dựng
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm thu được kết
quả lớn hơn trong tương lai.
Nếu xét về tính mục đích, thì đầu tư là hoạt động không chỉ nhằm bảo toàn giá
trị đầu tư, mà còn phải sinh lời. Mức độ sinh lời càng cao thì càng khuyến khích nhà
đầu tư bỏ vốn đầu tư. Tuy nhiên, với nhà đầu tư là các cơ quan nhà nước thì, ngoài các
dự án đầu tư buộc phải sinh lời, nhiều dự án đầu tư hướng tới phúc lợi xã hội hơn là lợi
nhuận cá biệt của dự án.
Nếu xét về phương diện hoạt động thực tiễn, đầu tư là một quá trình lâu dài từ
khâu chuẩn bị đầu tư, khâu thực hiện đầu tư đến khâu khai thác kết quả đầu tư. Nhưng
trong thực tiễn kinh tế, nhiều khi người ta chỉ chú trọng quá trình chuẩn bị và thực
hiện đầu tư, tách rời khâu khai thác kết quả đầu tư ra khỏi quá trình đầu tư.
thành vốn chủ sở hữu (vốn góp thêm, vốn huy động từ phát hành cổ phiếu, vốn hình
thành từ lợi nhuận không chia, từ các quỹ của doanh nghiệp…) và vốn vay (vay các tổ
chức tín dụng, vay nước ngoài, vay chính phủ, vay thông qua phát hành trái phiếu …)
* Nếu căn cứ vào tiêu chí ai tài trợ vốn cho đầu tư thì người ta chia vốn đầu tư
thành:
+ Vốn ĐTXD do khu vực tư nhân trong nước tài trợ. Đây là nguồn vốn đầu tư
hình thành từ vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn vay của các tổ chức tài chính trong
nước, vốn huy động trong dân cư…
+ Vốn ĐTXD do tư nhân nước ngoài tài trợ gồm vốn của tư nhân, của doanh
nghiệp và của các tổ chức tài chính nước ngoài. + Vốn ĐTXD do Chính phủ và các tổ chức tài chính nước ngoài tài trợ trực tiếp
không qua NSNN bao gồm các khoản vốn hỗ trợ trực tiếp các tổ chức và cá nhân trong
nước đầu tư.
+ Vốn ĐTXD do Nhà nước tài trợ gồm vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước và vốn ĐTXD được cấp trực tiếp từ NSNN (từ đây gọi là vốn ĐTXD từ NSNN).
ở nước ta, vốn ĐTXD từ NSNN có tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng, thường
chiếm tỷ trọng từ 40-50% tổng đầu tư xã hội. Xét trên tổng thể nền kinh tế, vốn ĐTXD
từ NSNN được hình thành từ 2 kênh (i) từ khoản tích luỹ của NSNN: là phần còn lại
của tổng thu NSNN sau khi trừ chi phí thường xuyên, chi trả nợ, chi lập quỹ dự trữ tài
chính và một số khoản chi đầu tư phát triển khác; (ii) là khoản vay trong nước (tín phiếu,
công trái, trái phiếu Chính phủ) và vay nước ngoài thông qua các dự án ODA được đưa
vào cân đối NSNN.
Theo phân cấp quản lý của Luật Ngân sách nhà nước, vốn ĐTXD từ NSNN bao
gồm (i) vốn ĐTXD do trung ương quản lý và (ii) vốn ĐTXD do địa phương quản lý.
- Vốn ĐTXD do trung ương quản lý là số vốn đầu tư từ ngân sách trung ương
được cân đối cho các chương trình, dự án đầu tư của các Bộ, ngành trung ương theo kế
hoạch đầu tư xây dựng hàng năm, nằm trong quy hoạch và kế hoạch 5 năm do Quốc
hội thông qua.
hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư… Bên cạnh đó, quá trình đầu tư các công trình hình
thành bằng vốn ĐTXD từ NSNN, từ khâu kế hoạch, thiết kế, thi công, giám sát thi
công, đấu thầu, mua sắm thiết bị đến nghiệm thu công trình, thường được thực hiện
theo một dây chuyền kép kín trong nội bộ các cơ quan nhà nước, do đó thường xảy ra
tình trạng các chủ đầu tư và các nhà thầu chia chác nhau tiền của Nhà nước.
Một đặc điểm nữa của vốn ĐTXD từ NSNN là quy mô vốn lớn nên vừa đòi hỏi
quá trình chuẩn bị đầu tư phức tạp, kéo dài (thậm chí còn bị thói quan liêu của cán bộ
nhà nước làm cho dài hơn), đòi hỏi sự phê chuẩn của nhiều cơ quan nhà nước nên càng
tạo cơ hội cho nạn tham ô, tham nhũng. Ngoài ra, quy chế và kỷ luật đấu thầu các công
trình xây dựng bằng tiền NSNN thường chịu sức ép của các cơ quan, tổ chức có thế
lực trong lĩnh vực quyết định đầu tư của Nhà nước.
c. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ĐTXD từ vốn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác
động đến các quá trình kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ
vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Bằng việc cung cấp những dịch vụ công
cộng như hạ tầng kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng mà các thành phần kinh tế
khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư, các dự án đầu tư từ NSNN
được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã
hội phát triển ổn định theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
ĐTXD từ vốn NSNN được coi là một công cụ để Nhà nước chủ động điều tiết,
điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế như điều chỉnh
cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ thông qua các chương trình, dự án đầu tư lớn như
chương trình 135, dự án xây dựng các tuyến đường ô tô vào trung tâm các xã, dự án
xây dựng các hồ đập thuỷ lợi lớn như Hồ Cửa Đạt, chương trình kiên cố hoá kênh
mương, chương trình kiên cố hoá lớp học Nhà nước đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để
đầu tư phát triển kinh tế ở những vùng sâu, vùng xa nhằm thực hiện chủ trương xoá
đói giảm nghèo, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng các thành quả của tăng
trưởng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định, vững chắc.
Bước 10: Nghiệm thu, quyết toán và bàn giao đưa vào khai thác sử dụng
Theo tuần tự, bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau. Tuy nhiên, do tính chất
và quy mô của dự án mà một vài bước có thể gộp vào nhau như: Đối với dự án vừa và
nhỏ thì có thể không cần phải có bước lập quy hoạch chi tiết, lập hồ sơ xin chủ trương
đầu tư mà lập luôn báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình. Khi bước trước đã
thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện các bước tiếp theo phải kiểm tra để đánh
giá đầy đủ các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về
các tiêu chuẩn, quy phạm đã quy định (nếu có) cho bước đó được cấp có thẩm quyền
chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo. Đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo
các bước phải được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt nghiêm túc.
Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về trình tự nêu trên là cơ sở để khắc phục những
khó khăn, tồn tại do đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm của sản xuất xây dựng gây ra.
Vì vậy, những quy định về trình tự ĐTXD có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng công trình, chi phí xây dựng công trình trong quá trình thi công xây dựng, tác
động của công trình sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng đối với nền kinh tế
của vùng, của khu vực cũng như đối với cả nước. Do đó, việc chấp hành trình tự đầu tư
và xây dựng có ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định không những đối với chất
lượng công trình, dự án đầu tư mà còn ảnh hưởng rất lớn đến TTLP, có hay không tạo
sơ hở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động ĐTXD
Như vậy, việc thực hiện nghiêm túc trình tự ĐTXD là một đặc trưng cơ bản trong
hoạt động đầu tư, có tác động trực tiếp và gián tiếp đến tình trạng TTLP, tham nhũng
trong hoạt động ĐTXD. Vì vậy, quá trình ĐTXD phải có giải pháp quản lý thích hợp để
ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực làm cho TTLP, tham nhũng có thể xảy ra.
1.2. thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước
1.2.1. Nhận diện thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân
sách nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng
Hiện nay chưa có tài liệu, văn bản quy phạm nào đưa ra một định nghĩa hay
Lãng phí biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau: lãng phí sức lao động, thời
gian, tiền của. Song việc đo lường mức độ lãng phí lại rất khó khăn, khó định lượng
chính xác. Cùng một sự vật, một hiện tượng ở góc độ này là lãng phí, nhưng ở góc độ
khác lại không lãng phí. Việc sử dụng nguồn lực đúng định mức, đúng tiêu chuẩn, chế
độ và đạt được mục tiêu trước mắt nhưng không đạt được mục tiêu lâu dài, không phù
hợp với tổng thể, không sử dụng được phải phá đi, hoặc phải cải tạo, sửa đổi bổ sung
mới sử dụng được, thực chất là lãng phí rất lớn, nhưng trong chỉ đạo thực tiễn có khi
lại quan niệm rằng không lãng phí. Hơn nữa, mức độ lãng phí nhiều khi chỉ thể hiện rõ
sau khi công trình đã được xây dựng, thậm chí sau khi đã được sử dụng. Chính vì thế
xác định xem ai là người có trách nhiệm trong việc để xảy ra lãng phí khi xây dựng
công trình thường là công việc rất khó khăn.
ở nước ta hiện nay các ngành chức năng chưa quan tâm đúng mức đến xây
dựng phương pháp xác định, đánh giá lãng phí, trong khi có lúc, có sự việc lãng phí
còn lớn hơn, tác hại nghiêm trọng hơn cả thất thoát. Nguyên nhân dẫn đến lãng phí trong lĩnh vực ĐTXD, một phần, có thể do yếu
kém năng lực nên thiết kế và luận chứng kém, ví dụ như yếu kém về trình độ chuyên
môn, trình độ quản lý dẫn đến việc sử dụng vốn ĐTXD không đạt được mục đích, dẫn
đến công trình hoàn thành không sử dụng được hoặc phải cải tạo mới sử dụng được,
công trình không mang lại hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp do chi phí xây dựng cao hơn
chi phí đầu tư cần thiết cho dự án. Phần khác, lãng phí còn do cơ chế chính sách quản
lý ĐTXD chưa hợp lý, chưa hiệu quả…Nếu thất thoát có động cơ cá nhân trục lợi, thì
lãng phí ít khi xuất phát từ sự trục lợi cá nhân.
Từ khái niệm trên cho ta thấy TTLP đều cùng phản ánh một hiện tượng giống
nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội tăng thêm năng lực cơ sở vật chất cho
xã hội. Thất thoát, lãng phí có quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau. Nhiều dự án đầu tư
lãng phí là do động cơ thất thoát thúc đẩy. Cũng có khi khó phân biệt đâu là là thất
thoát, đâu là lãng phí, ví dụ như định mức xây dựng quá cao tạo điều kiện cho tổ chức
thi công rút ruột công trình… Do vậy trong thời gian qua, trên các phương tiện thông
xấu, kém do lỗi của các nhà thiết kế về các phương diện thiết kế không chính xác,
không chi tiết, dẫn đến tình trạng thi công đến đâu, hoàn chỉnh thiết kế và nghiệm thu
quyết toán đến đó. Thiết kế kém là nguyên nhân quan trọng gây TTLP lớn trong
xây dựng cơ bản. Thậm chí không ít nhà thiết kế đã thông đồng với chủ đầu tư và
đơn vị thi công quyết toán khống khối lượng, xác nhận các phần việc phát sinh để
lấy thêm tiền. Thủ đoạn cổ điển nhưng phổ thông hiện nay là nhà thiết kế thường
thiết kế dư ra (về kết cấu, vật liệu, khối lượng). Khi thi công, các nhà thi công biết ý
cứ rút định mức, thay đổi kết cấu vật liệu, nhưng khi quyết toán lại theo thiết kế.
- TTLP trong việc thực hiện công tác đấu thầu. Dạng TTLP này xuất hiện do
lập và duyệt giá gói thầu (giá trần xét thầu) vượt chế độ; xây dựng tiêu chuẩn đánh giá
hồ sơ mời thầu không đầy đủ, không rõ ràng; tiêu chí chấm thầu không cụ thể; thực
hiện ký kết hợp đồng giao thầu chậm so với kế hoạch đấu thầu; áp dụng sai hình thức
đấu thầu, chỉ định thầu cho các công trình phải đấu thầu; chọn thầu đơn vị không đủ
năng lực dẫn đến thi công chất lượng công trình không đảm bảo, phải phá đi làm lại
gây thiệt hại tiền của của Nhà nước. Ngoài ra còn phải kể đến dạng TTLP do tham
nhũng trong quá trình tổ chức đấu thầu như chủ đầu tư thông đồng với một hoặc nhiều nhà thầu tham gia đấu thầu để gửi giá, nâng giá công trình, sau đó chia nhau. Cụ thể là
họ tiết lộ những thông tin quan trọng trong hồ sơ đấu thầu của các đối thủ cạnh tranh,
thậm chí còn hướng dẫn cách lập hồ sơ đấu thầu có những lợi thế cần thiết cho việc
chọn đơn vị trúng thầu. Hoặc khi lập hồ sơ đấu thầu và tổ chức đấu thầu, chủ đầu tư
đã cố ý đưa ra những điều kiện để loại bỏ những đối thủ cạnh tranh khác có giá thấp
hơn; hoặc thống nhất giá bỏ thầu thấp để trúng thầu, khi thi công sẽ cho phép phát
sinh và quyết toán cao hơn giá trúng thầu Cũng còn phải kể đến các nhà thầu tham
gia đấu thầu thống nhất trước với nhau làm quân xanh, quân đỏ để một đơn vị trúng
thầu với điều kiện ưu đãi.
- TTLP do các dự án chậm tiến độ phải kéo dài thời gian. ở nước ta khâu chuẩn
bị đầu tư và đền bù, giải phóng mặt bằng còn rất yếu kém, không kịp thời, thi công
không đảm bảo tiến độ, làm tăng lãi vay trong quá trình đầu tư, tăng tiền thuê tư vấn,
Nhà nước có hai tư cách trong quản lý các dự án ĐTXD từ vốn NSNN, đó là tư
cách của cơ quan công quyền và tư cách của chủ đầu tư.
Với tư cách cơ quan công quyền, những quy định của nhà nước về điều kiện để
ĐTXD cũng có thể gây TTLP cho các dự án đầu tư. Chẳng hạn, nếu các quy định về
quản lý đầu tư và quản lý xây dựng không minh bạch, khó thực hiện, khó tiếp cận cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép,
giải phóng mặt bằng, quản lý môi trường, lao động quá phức tạp, không công
khai thì buộc các chủ đầu tư và người tham gia xây dựng, thi công dự án phải gian
dối hoặc “quan hệ ngầm” với công chức nhà nước nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án,
thậm chí để có được dự án theo ý tưởng của họ. Tất cả các chi phí không cần thiết cho
dự án như chi phí quan hệ, chi phí tạo đối thủ cạnh tranh giả, chi phí móc ngoặc với
bên thiết kế là tiền thân của TTLP. Trong thực tế, nguyên nhân này rất quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn trong các nguyên nhân dẫn đến sự tham ô, tham nhũng, anh em của
TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN. Chính vì thế, để giảm thiểu TTLP trong hoạt động
nhà nước nói chung, trong đầu tư nhà nước nói riêng, các nhà nước hiện đại đang có
xu hướng tiến tới một nhà nước công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình cao.
Với tư cách chủ đầu tư, Nhà nước phải quản lý dự án của mình như các chủ đầu
tư khác. Nhưng do Nhà nước là một bộ máy quyền lực thực thi trách nhiệm do xã hội giao nên các quyết định của nó phải được quy dịnh thành luật, công chức và các
cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý dự án đầu tư của nhà nước theo cơ chế
đại diện. Cách thức quản lý này tiềm ẩn các cơ hội để công chức và cơ quan nhà
nước lợi dụng quyền hạn trục lợi từ vốn đầu tư nhà nước. Ví dụ, nếu như là vốn đầu
tư cá nhân thì chủ đầu tư có động cơ thuê tư vấn thiết kế và thẩm định đúng yêu cầu
nhằm tiết kiệm tiền của của chính họ. Vì rằng họ đầu tư để kiếm lời, do đó giảm
thiểu chi chi phí đầu tư là mục tiêu của họ. Nhưng đối với công chức nhà nước thì
sự việc khác hẳn. Nếu tiết kiệm chi phí đầu tư thì NSNN được lợi, cá nhân họ
không được gì cả. Còn nếu rút ruột công trình thì NSNN chịu thiệt, còn cá nhân họ
lại có tiền để chia nhau. Trong điều kiện còn thiếu thốn thì sự cám dỗ này là rất lớn.
được điều chỉnh, bổ xung kịp thời, có cơ sở và luận cứ khoa học. Nếu chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch có chất lượng thấp, thông tin không đầy đủ, không dựa trên các quy
luật khách quan thì toàn bộ các dự án đầu tư của Nhà nước theo các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch đó có nguy cơ gây lãng phí rất lớn.
Đáng tiếc là từ khi chuyển sang quản lý theo cơ chế mới, thừa nhận kinh tế thị
trường và giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, chất lượng chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch cả cấp quốc gia lẫn địa phương đều chưa đáp ứng yêu cầu. Chiến lược đầu
tư của Nhà nước còn tham quá nhiều mục tiêu, dàn trải theo địa bàn, theo lĩnh vực và
kém hiệu quả. Điển hình là chiến lược đầu tư cho ngành giấy, ngành đánh cá xa bờ,
ngành đường, ngành xi măng…Các địa phương còn theo đuổi chiến lược kéo vốn nhà
nước về địa phương càng nhiều càng tốt mà chưa chú trọng đến điều kiện vận hành kết
quả đầu tư. Thực trạng lâu nay thường xảy ra ở các cấp, các ngành là kế hoạch vốn từ
ngân sách Nhà nước thường bị động, kéo dài vì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành rà
soát, tổng hợp, chờ Trung ương phê duyệt, sau đó phải thông qua hội đồng nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã mới thông báo vốn về cho các địa phương triển khai đầu tư
xây dựng, lúc này thường vào cuối quý một trong năm. Cách làm này làm chậm triển
khai xây dựng công trình. Trong quá trình xây dựng, vì các lý do khác nhau như thủ
tục thiết kế, thẩm tra, thẩm định thiết kế, thủ tục đấu thầu, thủ tục nghiệm thu, quyết
toán công trình đều cần có thời gian nhất định và phải thực hiện đầy đủ theo quy trình,
kết quả là thời gian thực hiện đầu tư kéo dài, giải ngân chậm, cuối năm kế hoạch giải ngân không kịp, đơn vị thi công phải biến báo để giữ lại vốn đầu tư. Trên thực tế, co
quan nhà nước cứ ghi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm cho nhiều dự án mà thực tế chưa
đủ điều kiện vẫn bố trí kế hoạch. Theo quy chế thì việc ghi kế hoạch vốn phải cân đối
với khả năng, khối lượng thực hiện, trong khi đó điều kiện thực tế chưa có làm cho
việc triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn, việc giải ngân chậm, kéo dài thời gian
thi công, chậm nghiệm thu, chậm thanh quyết toán công trình, gây ra hiện tượng đầu
tư dàn trải, khi thì “công trình chờ vốn”, khi lại “vốn chờ công trình”. Một vấn đề khác
là kế hoạch chưa kiểm soát được rủi ro, nhất là rủi ro do thời tiết gây ra, nên nhiều khi
chủ đầu tư mới nhận thấy đựơc những hạn chế, thiếu sót trong việc xây dựng dự án
của mình, nhưng mọi việc đều đã muộn, không thể khắc phục được. Điển hình ở nước
ta là việc bố trí địa điểm xây dựng nhà máy đường, nhà máy giấy không gắn với vùng
nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, thị trường lao động làm cho chi phí sản xuất tăng
cao, khi nhà máy đi vào hoạt động, càng sản xuất càng lỗ. Để khắc phục chủ đầu tư
phải di chuyển nhà máy hoặc phải dỡ bỏ nhà máy dẫn đến TTLP càng nghiêm trọng
hơn. Hoặc khi xây dựng một công trình thuỷ lợi, thuỷ điện ở một địa điểm nào đó, do
không khảo sát kỹ địa chất, thủy văn nên dẫn đến phát sinh thêm chi phí gia cố xử lý
nền móng, mà nếu khảo sát kỹ thì nên xây dựng ở vị trí khác có thể tiết kiệm rất nhiều
tiền chi phí sử lý nền móng này… Cũng có khi đầu tư xây dựng một nhà máy không
chú ý đến xử lý nước thải như nhà máy hoá chất, nhà máy sản xuất giấy, nhà máy sản
xuất phân bón , xử lý khói bụi như nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện dẫn đến ô
nhiểm môi trường của một vùng, một khu vực, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội,
sức khoẻ của dân cư trong vùng. Để khắc phục Nhà nước phải đầu tư hệ thống xử lý
rất tốn kém, có khi phải di chuyển nhà máy hoặc dỡ bỏ gây nên sự TTLP vốn đầu
tư….
Như vậy, công việc chuẩn bị dự án đầu tư không tôt không chỉ ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả đầu tư trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, đời sống
kinh tế xã hội của vùng, của khu vực và cả nước. Thông thường, những sai lầm trong
chuẩn bị đầu tư gây ra 60%-70% tổng số TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN.
1.2.2.4. Nguyên nhân từ buông lỏng kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện
dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước Quản lý trong ĐTXD, trách nhiệm lớn nhất thuộc về chủ đầu tư, Ban quản lý dự
án, công trình. Nếu không có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên của chủ đầu
tư, đại diện chủ đầu tư (Ban quản lý dự án hoặc đơn vị được thuê tư vấn giám sát) và
giám sát của đơn vị thiết kế thì bên thi công dễ vì lợi nhuận mà tìm mọi cách để “rút
ruột” công trình như bớt xén vật tư, tráo đổi chủng loại vật tư, thi công không đúng kỹ
thuật, khai khống khối lượng hoàn thành
năng, nhiệm vụ của mình, thiếu tích cực, kiên quyết trong việc phát hiện và xử lý các vi
phạm, cơ quan thanh tra thiếu một đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, năng lực ngang
tầm với nhiệm vụ được giao, không ít trường hợp những cán bộ được giao nhiệm vụ thanh
tra, kiểm tra các công trình xây dựng thiếu bản lĩnh, bị kẻ xấu lợi dụng, mua chuộc, dẫn
đến phạm tội, vi phạm pháp luật nên hầu như các hiện tượng làm thất thoát vốn Nhà
nước chưa được xử lý thích đáng.
1.3. chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà
nước
1.3.1. Sự cần thiết đẩy mạnh chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây
dựng từ vốn ngân sách nhà nước ở nước ta
1.3.1.1. Tác hại của thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân
sách nhà nước
TTLP nói chung và trong ĐTXD từ vốn NSNN nói riêng gây hậu quả không
tốt, thậm chí là nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đây
là một trong những nguyên nhân làm nghèo đất nước, kìm hãm sự phát triển và làm
giảm uy tín quốc gia. Sự nguy hại của TTLP đã được nhiều nước và tổ chức quan tâm
nghiên cứu và tìm cách ngăn chặn.
Trước hết, TTLP làm tăng chi phí phát triển. Như nguyên Thủ tướng Phan Văn
Khải đã nói tại hội nghị triển khai các nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch và ngân
sách năm 2005 diễn ra ngày 30/12/2004: “Lẽ ra tăng trưởng năm 2004 tăng không chỉ
là 7,7% và năm 2005 tăng trưởng hoàn toàn có thể đạt 8,5% nếu bộ máy hành chính
không yếu kém, trì trệ và tiêu cực”. ở nước ta, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
tại kỳ họp Quốc hội tháng 11/2004, để tăng thêm 1 đồng GDP cần đầu tư 4,7 đồng. Trong khi đó, nước láng giềng Trung Quốc chỉ cần bỏ ra 3,5 đồng thì tăng thêm được 1 đồng
GDP.
Thứ hai, TTLP trong đầu tư xây dựng từ vốn NSNN lớn làm ảnh hưởng đến uy
tín của Chính phủ trong huy động ODA nói riêng, vay nước ngoài nói chung. Trong
khi đó, vốn vay đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội của nước ta chủ yếu dựa vào
không sử dụng được hoặc có sử dụng được cũng không hiệu quả không chỉ làm tiêu
tan nguồn của cải mà đất nước rất khó nhọc mới kiếm được, mà còn đòi hỏi chi phí lớn
để sửa chữa, hoàn thiện, thậm chí tháo dỡ chúng. Trong khi đó chúng ta đang phải thắt
lưng buộc bụng dồn tiền để CNH, HĐH đất nước, tiến kịp các nước tiên tiến trong khu
vực và trên thế giới. Sự lãng phí nguồn của cải do TTLP đem lại không chỉ làm chúng
ta khó khăn trong hiện tại, mà còn chồng chất thêm khó khăn cho con cháu trong
tương lai, nhất là khi nguồn tài nguyên quý giá đã bị chính các công trình xây dựng
kém chất lượng và không hợp lý đó bào mòn.
1.3.1.2. Tình hình thất thoát, lãng phí nghiêm trọng trong đầu tư xây dựng từ
vốn ngân sách nhà nước ở nước ta
Dư luận xã hội nước ta cho rằng vốn nhà nước đầu tư cho xây dựng bị TTLP rất
lớn, có thể lên tới 20-30% tổng mức đầu tư. Những năm qua, trung bình mỗi năm nước
ta chi khoảng 150.000 tỷ đồng để đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống hạ tầng. Nếu 20-
30% tổng vốn bị TTLP, thì có nghĩa hàng năm chúng ta mất khoảng 30.000-45.000 tỷ
đồng. Đây là khoản mất mát quá lớn trong khi năng lực tài chính của Nhà nước còn
mỏng, nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn vượt quá khả năng tài trợ của đất nước. TTLP
vốn nhà nước làm cho đại biểu quốc hội bức xúc, làm nản lòng các cử tri và gây nên
sự hoài nghi về năng lực điều hành của Nhà nước.
Kết quả thanh tra một số DAĐT của Nhà nước cho thấy số tiền bị TTLP chiếm
tỷ lệ không nhỏ. Ví dụ ở dự án khách sạn Bàn Cờ thành phố Hà Nội, ở dự án hầm chui
cầu Văn Thánh 2 thành phố Hồ Chí Minh tổng giá trị bị TTLP lớn hơn 30% giá trị
công trình. ở nhiều dự án khác đã và đang bị thanh tra cũng cho thấy số vốn nhà nước
đầu tư cho xây dựng bị TTLP là rất lớn. Đây là tình trạng gây bức xúc nhiều năm qua
mà Nhà nước ta chưa có giải pháp giải quyết thoả đáng.