Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với môi trờng chính trị ổn định, nền kinh tế
nớc ta phát triển khá mạnh, GDP hàng năm tăng từ 7,5-8%. Một trong những
yếu tố góp phần đạt đợc những thành tựu đó là tăng đầu t xây dựng (ĐTXD). Tuy
nhiên, cùng với những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế thì ĐTXD ở nớc ta,
nhất là ĐTXD từ vốn ngân sách Nhà nớc (NSNN), đang gặp phải nhiều vấn đề
nan giải, trong đó có tình trạng thất thoát, lãng phí (TTLP).
Thực tế những năm vừa qua đã cho thấy, nhiều nơi, nhiều lúc tình trạng
thất thoát, đặc biệt tình trạng lãng phí trong ĐTXD đã xảy ra rất trầm trọng.
Các cơ quan pháp luật, Chính phủ cũng đã tiến hành nhiều biện pháp ngăn
chặn, xử lý, nhiều vụ án đã đợc đa ra xét xử nghiêm minh, nhng vẫn còn nhiều
vụ việc, nhiều công trình lãng phí tiền bạc của NSNN nhiều tỷ đồng cha đợc
giải quyết một cách kịp thời, đúng pháp luật. Vẫn còn một số công trình thiết
kế không đảm bảo, thi công cha xong thì phải sửa đổi thiết kế, đến khi hoàn
thành thì cũng chẳng có thể sử dụng nh dự kiến. Có công trình xây dựng
(CTXD) chỉ vài năm sau đã không đáp ứng đợc nhu cầu phải cải tạo, nâng cấp
rất tốn kém
Giáo s David Dapice của Đại học Harvard cho rằng, với tốc độ đầu t cao
nh báo cáo của Việt Nam, tỷ lệ tăng trởng lẽ ra phải đạt mức 9-10%. Nh vậy,
với tốc độ tăng trởng thực tế đạt đợc, số vốn TTLP trong đầu t hàng năm lên
đến 1 tỷ USD [11].
Là một địa phơng đang trong quá trình phát triển, vốn ĐTXD từ
NSNN hàng năm lên đến hàng nghìn tỷ đồng, Thanh Hoá cũng nằm trong
tình trạng TTLP nh thế. Với mong muốn tìm ra các giải pháp giảm thiểu
hơn nữa TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh, đề tài Chống
1
thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng từ vốn ngân sách nhà nớc trên
địa bàn tỉnh Thanh Hoá đợc chọn làm đối tợng nghiên cứu trong luận
văn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
từ vốn NSNN có hiệu quả hơn. Thực hiện đề tài, luận văn sẽ tham khảo, lựa
chọn, kế thừa những ý tởng của các công trình đã nghiên cứu và công bố,
đồng thời đi sâu nghiên cứu lý luận để đề ra những giải pháp chống TTLP
trong ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nhận dạng và phân tích thực trạng TTLP trong
ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá và đề xuất các giải pháp
chống TTLP hiệu quả hơn
Phù hợp với mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở khoa học của việc chống TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN.
- Phân tích thực trạng TTLP và thực trạng chống thất thoát, lãng phí
trong đầu t xây dựng từ vốn NSNN ở Thanh Hoá.
Đề xuất các phơng hớng và giải pháp tăng cờng chống TTLP trong
ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu trong luận văn
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là tình trạng TTLP và giải pháp
chống TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn bao gồm khảo sát thực trạng các
dạng TTLP và các giải pháp chống TTLP ở các công trình xây dựng từ vốn
3
NSNN do Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Thanh Hoá quản lý, không nghiên
cứu các dự án ĐTXD bằng nguồn vốn khác.
Thời gian khảo sát đánh giá từ năm 2003 đến nay và đề xuất giải pháp
cho thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu trong luận văn
Luận văn đợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê
nin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà
nớc, các thành tựu khoa học kinh tế, kỹ thuật hiện đại.
Trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể, luận văn sử dụng phơng pháp
duy vận biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp thống kê, phơng pháp phân
Nếu xét về tính mục đích, thì đầu t là hoạt động không chỉ nhằm bảo
toàn giá trị đầu t, mà còn phải sinh lời. Mức độ sinh lời càng cao thì càng
khuyến khích nhà đầu t bỏ vốn đầu t. Tuy nhiên, với nhà đầu t là các cơ quan
nhà nớc thì, ngoài các dự án đầu t buộc phải sinh lời, nhiều dự án đầu t hớng
tới phúc lợi xã hội hơn là lợi nhuận cá biệt của dự án.
Nếu xét về phơng diện hoạt động thực tiễn, đầu t là một quá trình lâu
dài từ khâu chuẩn bị đầu t, khâu thực hiện đầu t đến khâu khai thác kết quả
đầu t. Nhng trong thực tiễn kinh tế, nhiều khi ngời ta chỉ chú trọng quá trình
chuẩn bị và thực hiện đầu t, tách rời khâu khai thác kết quả đầu t ra khỏi quá
trình đầu t.
Có rất nhiều loại đầu t. Tuỳ theo các góc độ xem xét khác nhau, ngời ta
có thể phân ra đầu t phát triển và đầu t chuyển dịch; đầu t trực tiếp và đầu t
gián tiếp; ĐTXD và đầu t không xây dựng; đầu t mới và đầu t mở rộng, đầu t
hiện đại hoá
Đầu t xây dựng (ĐTXD) là hoạt động đầu t nhằm tạo ra các tài sản cố
định cho các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị và hệ thống các công trình kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, kết cấu hạ tầng KT-XH, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
6
XH, quốc phòng, an ninh (QPAN) và nâng cao chất lợng sống của nhân dân.
Đây là dạng đầu t rất quan trọng vì nó góp phần nâng cao năng lực sản xuất
của quốc gia. Bản thân quá trình ĐTXD luôn là một phức hợp hoạt động trong
đó nổi lên vai trò của chủ bỏ vốn đầu t, chủ sử dụng kết quả đầu t, tổ chức đấu
thầu xây dựng, nhóm dân c thụ hởng kết quả đầu t và các cơ quan quản lý nhà
nớc trong lĩnh vực ĐTXD. Trong ĐTXD hoạt động xây dựng giữ vị trí quan
trọng, quyết định kết quả đầu t.
- Hoạt động xây dựng là là quá trình bao gồm: lập quy hoạch xây dựng,
lập dự án đầu t xây dựng công trình, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây
dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án ĐTXD
công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác
có liên quan đến xây dựng công trình Hoạt động xây dựng kết tinh thành
thờng chiếm tỷ trọng từ 40-50% tổng đầu t xã hội. Xét trên tổng thể nền kinh
tế, vốn ĐTXD từ NSNN đợc hình thành từ 2 kênh (i) từ khoản tích luỹ của
NSNN: là phần còn lại của tổng thu NSNN sau khi trừ chi phí thờng xuyên, chi
trả nợ, chi lập quỹ dự trữ tài chính và một số khoản chi đầu t phát triển khác; (ii)
là khoản vay trong nớc (tín phiếu, công trái, trái phiếu Chính phủ) và vay nớc
ngoài thông qua các dự án ODA đợc đa vào cân đối NSNN.
Theo phân cấp quản lý của Luật Ngân sách nhà nớc, vốn ĐTXD từ
NSNN bao gồm (i) vốn ĐTXD do trung ơng quản lý và (ii) vốn ĐTXD do địa
phơng quản lý.
- Vốn ĐTXD do trung ơng quản lý là số vốn đầu t từ ngân sách trung -
ơng đợc cân đối cho các chơng trình, dự án đầu t của các Bộ, ngành trung ơng
theo kế hoạch đầu t xây dựng hàng năm, nằm trong quy hoạch và kế hoạch 5
năm do Quốc hội thông qua.
8
- Vốn ĐTXD do địa phơng quản lý bao gồm vốn đầu t đợc cân đối từ
tổng chi ngân sách địa phơng dành cho đầu t phát triển, vốn đợc hỗ trợ, bổ
sung từ nguồn vốn ĐTXD tập trung của ngân sách trung ơng và vốn ĐTXD từ
nguồn để lại theo Nghị quyết của Quốc hội.
b. Đặc điểm của vốn đầu t xây dựng từ ngân sách nhà nớc
Vốn ĐTXD từ NSNN thờng tập trung cho các dự án xây dựng có vốn
lớn, các dự án thuộc lĩnh vực công cộng, lĩnh vực quốc phòng, an ninh, vào
các lĩnh vực có thời gian xây dựng kéo dài, thời gian thu hồi vốn lâu hoặc
không thu hồi vốn mà chỉ tính lợi ích và hiệu quả xã hội nh các công trình
giao thông, điện nớc, trờng học, trạm y tế, bệnh viện công, công sở, các công
trình văn hoá, công trình phục vụ quốc phòng và an ninh. Vì không thể phân
tích đợc hiệu quả kinh tế tài chính cá biệt của các dự án đầu t này, nên khi xây
dựng dự án dễ có xu hớng xuê xoa trong xem xét các yêu cầu và chỉ tiêu đánh
giá kết quả đầu t, hệ quả là có thể tạo cơ hội TTLP vốn đầu t của Nhà nớc.
ở nớc ta, vốn ĐTXD từ NSNN, về nguyên tắc, thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nớc đại diện quản lý nên khó tìm ra cá nhận chịu trách nhiệm đích thực
những dịch vụ công cộng nh hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng
mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đợc đầu
t, các dự án đầu t từ NSNN đợc triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt
nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
ĐTXD từ vốn NSNN đợc coi là một công cụ để Nhà nớc chủ động điều
tiết, điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế
nh điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ thông qua các chơng trình,
10
dự án đầu t lớn nh chơng trình 135, dự án xây dựng các tuyến đờng ô tô vào
trung tâm các xã, dự án xây dựng các hồ đập thuỷ lợi lớn nh Hồ Cửa Đạt, ch-
ơng trình kiên cố hoá kênh mơng, chơng trình kiên cố hoá lớp học Nhà nớc
đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để đầu t phát triển kinh tế ở những vùng sâu,
vùng xa nhằm thực hiện chủ trơng xoá đói giảm nghèo, đảm bảo sự công bằng
trong việc thụ hởng các thành quả của tăng trởng, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển ổn định, vững chắc.
ĐTXD từ vốn NSNN là vốn mồi để thu hút, tạo điều kiện thu hút các
nguồn lực trong nớc và ngoài nớc cho phát triển kinh tế. Có đủ vốn đầu t trong
nớc mới góp phần giải ngân, hấp thụ đợc các nguồn vốn ODA, có hạ tầng kinh
tế xã hội tốt mới thu hút đợc vốn FDI; có vốn đầu t "mồi" của Nhà nớc mới
khuyến khích phát triển các hình thức BT, BOT
ĐTXD từ vốn NSNN có vai trò mở đờng cho sự phát triển nguồn nhân
lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Các dự
án đầu t vào các lĩnh vực trên rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn
thấp nên thờng đợc Nhà nớc đầu t bằng nguồn NSNN, nh dự án đầu t các
phòng thí nghiệm, các bệnh viện, các trung tâm y tế dự phòng, các trạm trại
nghiên cứu giống mới, các trờng đại học sẽ cung cấp các dịch vụ công, tạo
điều kiện nâng cao hiệu quả đầu t của nền kinh tế xã hội.
1.1.2. Trình tự trong hoạt động đầu t xây dựng từ vốn ngân sách
nhà nớc
trình thi công xây dựng, tác động của công trình sau khi hoàn thành xây dựng
đa vào sử dụng đối với nền kinh tế của vùng, của khu vực cũng nh đối với cả n-
ớc. Do đó, việc chấp hành trình tự đầu t và xây dựng có ảnh hởng rất lớn, có
tính chất quyết định không những đối với chất lợng công trình, dự án đầu t mà
12
còn ảnh hởng rất lớn đến TTLP, có hay không tạo sơ hở cho tham nhũng về vốn
và tài sản trong hoạt động ĐTXD
Nh vậy, việc thực hiện nghiêm túc trình tự ĐTXD là một đặc trng cơ bản
trong hoạt động đầu t, có tác động trực tiếp và gián tiếp đến tình trạng TTLP,
tham nhũng trong hoạt động ĐTXD. Vì vậy, quá trình ĐTXD phải có giải pháp
quản lý thích hợp để ngăn chặn các hiện tợng tiêu cực làm cho TTLP, tham
nhũng có thể xảy ra.
1.2. thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng từ vốn ngân
sách nhà nớc
1.2.1. Nhận diện thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng từ vốn
ngân sách nhà nớc
1.2.1.1. Khái niệm thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng
Hiện nay cha có tài liệu, văn bản quy phạm nào đa ra một định nghĩa
hay một khái niệm cụ thể nào về thất thoát, nhng qua thực tế hoạt động kinh tế
xã hội nói chung và trong ĐTXD nói riêng thì có thể hiểu thất thoát là tổn
thất, mất vốn đầu t do các hành động chủ quan của những ngời liên quan
nhằm chuyển nguồn vốn đó thành tài sản của những ngời và tổ chức có liên
quan mà không phải chủ đầu t.
Nh vậy khái niệm thất thoát hàm ý là gian lận, trộm cắp, tức là những
ngời liên quan đến quá trình thực hiện ĐTXD đã tự ý lấy ra từ tổng vốn đầu t
một khoản giá trị nào đó và biến chúng thành sở hữu của mình. Thất thoát là
hành vi mang tính đạo đức, cố ý làm sai, trái các quy định của pháp luật, là
hành động đáng bị xã hội lên án và nhà đầu t phải tìm mọi cách loại trừ chúng
ra khỏi dự án đầu t của mình.
ở một khía cạnh khác thì thất thoát là phần giá trị vốn bị mất đi, không
xây dựng, thậm chí sau khi đã đợc sử dụng. Chính vì thế xác định xem ai là
14
ngời có trách nhiệm trong việc để xảy ra lãng phí khi xây dựng công trình th-
ờng là công việc rất khó khăn.
ở nớc ta hiện nay các ngành chức năng cha quan tâm đúng mức đến
xây dựng phơng pháp xác định, đánh giá lãng phí, trong khi có lúc, có sự việc
lãng phí còn lớn hơn, tác hại nghiêm trọng hơn cả thất thoát.
Nguyên nhân dẫn đến lãng phí trong lĩnh vực ĐTXD, một phần, có thể
do yếu kém năng lực nên thiết kế và luận chứng kém, ví dụ nh yếu kém về
trình độ chuyên môn, trình độ quản lý dẫn đến việc sử dụng vốn ĐTXD không
đạt đợc mục đích, dẫn đến công trình hoàn thành không sử dụng đợc hoặc
phải cải tạo mới sử dụng đợc, công trình không mang lại hiệu quả, hoặc hiệu
quả thấp do chi phí xây dựng cao hơn chi phí đầu t cần thiết cho dự án. Phần
khác, lãng phí còn do cơ chế chính sách quản lý ĐTXD cha hợp lý, cha hiệu
quả Nếu thất thoát có động cơ cá nhân trục lợi, thì lãng phí ít khi xuất phát
từ sự trục lợi cá nhân.
Từ khái niệm trên cho ta thấy TTLP đều cùng phản ánh một hiện tợng
giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội tăng thêm năng lực cơ
sở vật chất cho xã hội. Thất thoát, lãng phí có quan hệ gần gũi, gắn bó với
nhau. Nhiều dự án đầu t lãng phí là do động cơ thất thoát thúc đẩy. Cũng có
khi khó phân biệt đâu là là thất thoát, đâu là lãng phí, ví dụ nh định mức xây
dựng quá cao tạo điều kiện cho tổ chức thi công rút ruột công trình Do vậy
trong thời gian qua, trên các phơng tiện thông tin đại chúng, kể cả trong diễn
đàn Quốc hội, diễn đàn hội thảo khoa học và trong các văn bản của Chính
phủ, của các bộ, UBND tỉnh Thanh Hoá cụm từ thất thoát luôn đi liền với cụm
từ lãng phí. Trong luận văn này chúng tôi cũng sử dụng cách xem xét chung
đó mà không tách bạch rõ ràng đâu là thất thoát, đâu là lãng phí.
1.2.1.2. Các dạng thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng từ vốn
ngân sách nhà nớc
15
Thủ đoạn cổ điển nhng phổ thông hiện nay là nhà thiết kế thờng thiết kế d
ra (về kết cấu, vật liệu, khối lợng). Khi thi công, các nhà thi công biết ý cứ
rút định mức, thay đổi kết cấu vật liệu, nhng khi quyết toán lại theo thiết kế.
- TTLP trong việc thực hiện công tác đấu thầu. Dạng TTLP này xuất
hiện do lập và duyệt giá gói thầu (giá trần xét thầu) vợt chế độ; xây dựng tiêu
chuẩn đánh giá hồ sơ mời thầu không đầy đủ, không rõ ràng; tiêu chí chấm
thầu không cụ thể; thực hiện ký kết hợp đồng giao thầu chậm so với kế hoạch
đấu thầu; áp dụng sai hình thức đấu thầu, chỉ định thầu cho các công trình
phải đấu thầu; chọn thầu đơn vị không đủ năng lực dẫn đến thi công chất lợng
công trình không đảm bảo, phải phá đi làm lại gây thiệt hại tiền của của Nhà
nớc. Ngoài ra còn phải kể đến dạng TTLP do tham nhũng trong quá trình tổ
chức đấu thầu nh chủ đầu t thông đồng với một hoặc nhiều nhà thầu tham gia
đấu thầu để gửi giá, nâng giá công trình, sau đó chia nhau. Cụ thể là họ tiết lộ
những thông tin quan trọng trong hồ sơ đấu thầu của các đối thủ cạnh tranh,
thậm chí còn hớng dẫn cách lập hồ sơ đấu thầu có những lợi thế cần thiết cho
việc chọn đơn vị trúng thầu. Hoặc khi lập hồ sơ đấu thầu và tổ chức đấu thầu,
chủ đầu t đã cố ý đa ra những điều kiện để loại bỏ những đối thủ cạnh tranh
khác có giá thấp hơn; hoặc thống nhất giá bỏ thầu thấp để trúng thầu, khi thi
công sẽ cho phép phát sinh và quyết toán cao hơn giá trúng thầu Cũng còn
phải kể đến các nhà thầu tham gia đấu thầu thống nhất trớc với nhau làm
quân xanh, quân đỏ để một đơn vị trúng thầu với điều kiện u đãi.
- TTLP do các dự án chậm tiến độ phải kéo dài thời gian. ở nớc ta khâu
chuẩn bị đầu t và đền bù, giải phóng mặt bằng còn rất yếu kém, không kịp
thời, thi công không đảm bảo tiến độ, làm tăng lãi vay trong quá trình đầu t,
17
tăng tiền thuê t vấn, kéo dài thời gian đa công trình vào khai thác sử dụng
Tất cả các yếu kém đó gây lãng phí rất lớn vốn đầu t.
- TTLP trong khâu nghiệm thu, thanh toán khối lợng xây dựng cơ bản
hoàn thành thể hiện dới dạng nghiệm thu sai về khối lợng thực hiện, thực tế
thi công ít nhng nghiệm thu nhiều, quyết toán tăng khống nhiều lần, áp dụng
kiện để ĐTXD cũng có thể gây TTLP cho các dự án đầu t. Chẳng hạn, nếu
các quy định về quản lý đầu t và quản lý xây dựng không minh bạch, khó thực
hiện, khó tiếp cận cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này, thủ tục hành
chính liên quan đến cấp phép, giải phóng mặt bằng, quản lý môi trờng, lao
động quá phức tạp, không công khai thì buộc các chủ đầu t và ngời tham
gia xây dựng, thi công dự án phải gian dối hoặc quan hệ ngầm với công
chức nhà nớc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án, thậm chí để có đợc dự án theo ý
tởng của họ. Tất cả các chi phí không cần thiết cho dự án nh chi phí quan hệ,
chi phí tạo đối thủ cạnh tranh giả, chi phí móc ngoặc với bên thiết kế là tiền
thân của TTLP. Trong thực tế, nguyên nhân này rất quan trọng và chiếm tỷ
trọng lớn trong các nguyên nhân dẫn đến sự tham ô, tham nhũng, anh em của
TTLP trong ĐTXD từ vốn NSNN. Chính vì thế, để giảm thiểu TTLP trong
hoạt động nhà nớc nói chung, trong đầu t nhà nớc nói riêng, các nhà nớc hiện
đại đang có xu hớng tiến tới một nhà nớc công khai, minh bạch và trách
nhiệm giải trình cao.
Với t cách chủ đầu t, Nhà nớc phải quản lý dự án của mình nh các chủ
đầu t khác. Nhng do Nhà nớc là một bộ máy quyền lực thực thi trách nhiệm
do xã hội giao nên các quyết định của nó phải đợc quy dịnh thành luật,
công chức và các cơ quan quản lý nhà nớc thực hiện quản lý dự án đầu t của
nhà nớc theo cơ chế đại diện. Cách thức quản lý này tiềm ẩn các cơ hội để
19
công chức và cơ quan nhà nớc lợi dụng quyền hạn trục lợi từ vốn đầu t nhà
nớc. Ví dụ, nếu nh là vốn đầu t cá nhân thì chủ đầu t có động cơ thuê t vấn
thiết kế và thẩm định đúng yêu cầu nhằm tiết kiệm tiền của của chính họ.
Vì rằng họ đầu t để kiếm lời, do đó giảm thiểu chi chi phí đầu t là mục tiêu
của họ. Nhng đối với công chức nhà nớc thì sự việc khác hẳn. Nếu tiết kiệm
chi phí đầu t thì NSNN đợc lợi, cá nhân họ không đợc gì cả. Còn nếu rút
ruột công trình thì NSNN chịu thiệt, còn cá nhân họ lại có tiền để chia
nhau. Trong điều kiện còn thiếu thốn thì sự cám dỗ này là rất lớn. Vì thế,
công chức thiết kế, công chức thẩm định, công chức phê duyệt, công chức
kế hoạch đúng dắn và đợc điều chỉnh, bổ xung kịp thời, có cơ sở và luận cứ
khoa học. Nếu chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch có chất lợng thấp, thông tin
không đầy đủ, không dựa trên các quy luật khách quan thì toàn bộ các dự án
đầu t của Nhà nớc theo các chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch đó có nguy cơ gây
lãng phí rất lớn.
Đáng tiếc là từ khi chuyển sang quản lý theo cơ chế mới, thừa nhận
kinh tế thị trờng và giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, chất lợng chiến l-
ợc, quy hoạch và kế hoạch cả cấp quốc gia lẫn địa phơng đều cha đáp ứng yêu
cầu. Chiến lợc đầu t của Nhà nớc còn tham quá nhiều mục tiêu, dàn trải theo
địa bàn, theo lĩnh vực và kém hiệu quả. Điển hình là chiến lợc đầu t cho ngành
giấy, ngành đánh cá xa bờ, ngành đờng, ngành xi măng Các địa ph ơng còn
theo đuổi chiến lợc kéo vốn nhà nớc về địa phơng càng nhiều càng tốt mà cha
chú trọng đến điều kiện vận hành kết quả đầu t. Thực trạng lâu nay thờng xảy
ra ở các cấp, các ngành là kế hoạch vốn từ ngân sách Nhà nớc thờng bị động,
kéo dài vì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành rà soát, tổng hợp, chờ Trung ơng
phê duyệt, sau đó phải thông qua hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã mới thông báo vốn về cho các địa phơng triển khai đầu t xây dựng, lúc này
21
thờng vào cuối quý một trong năm. Cách làm này làm chậm triển khai xây
dựng công trình. Trong quá trình xây dựng, vì các lý do khác nhau nh thủ tục
thiết kế, thẩm tra, thẩm định thiết kế, thủ tục đấu thầu, thủ tục nghiệm thu,
quyết toán công trình đều cần có thời gian nhất định và phải thực hiện đầy đủ
theo quy trình, kết quả là thời gian thực hiện đầu t kéo dài, giải ngân chậm,
cuối năm kế hoạch giải ngân không kịp, đơn vị thi công phải biến báo để giữ
lại vốn đầu t. Trên thực tế, co quan nhà nớc cứ ghi kế hoạch vốn đầu t hàng
năm cho nhiều dự án mà thực tế cha đủ điều kiện vẫn bố trí kế hoạch. Theo
quy chế thì việc ghi kế hoạch vốn phải cân đối với khả năng, khối lợng thực
hiện, trong khi đó điều kiện thực tế cha có làm cho việc triển khai thực hiện
gặp rất nhiều khó khăn, việc giải ngân chậm, kéo dài thời gian thi công, chậm
nghiệm thu, chậm thanh quyết toán công trình, gây ra hiện tợng đầu t dàn trải,
xây dựng nên khi triển khai thực hiện phát sinh những yếu tố bất lợi làm chậm
tiến độ thi công, làm phát sinh kinh phí khắc phục mới đa vào sử dụng đợc,
hoặc phải điều chỉnh dự án đầu t, có khi công trình hoàn thành đa vào sử dụng
nhng không phát huy đợc hiệu quả, đến lúc đó thì chủ đầu t mới nhận thấy
đựơc những hạn chế, thiếu sót trong việc xây dựng dự án của mình, nhng mọi
việc đều đã muộn, không thể khắc phục đợc. Điển hình ở nớc ta là việc bố trí
địa điểm xây dựng nhà máy đờng, nhà máy giấy không gắn với vùng nguyên
liệu, thị trờng tiêu thụ, thị trờng lao động làm cho chi phí sản xuất tăng cao,
khi nhà máy đi vào hoạt động, càng sản xuất càng lỗ. Để khắc phục chủ đầu t
phải di chuyển nhà máy hoặc phải dỡ bỏ nhà máy dẫn đến TTLP càng
nghiêm trọng hơn. Hoặc khi xây dựng một công trình thuỷ lợi, thuỷ điện ở
một địa điểm nào đó, do không khảo sát kỹ địa chất, thủy văn nên dẫn đến
23
phát sinh thêm chi phí gia cố xử lý nền móng, mà nếu khảo sát kỹ thì nên xây
dựng ở vị trí khác có thể tiết kiệm rất nhiều tiền chi phí sử lý nền móng này
Cũng có khi đầu t xây dựng một nhà máy không chú ý đến xử lý nớc thải nh
nhà máy hoá chất, nhà máy sản xuất giấy, nhà máy sản xuất phân bón , xử lý
khói bụi nh nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện dẫn đến ô nhiểm môi tr-
ờng của một vùng, một khu vực, ảnh hởng đến đời sống kinh tế xã hội, sức
khoẻ của dân c trong vùng. Để khắc phục Nhà nớc phải đầu t hệ thống xử lý
rất tốn kém, có khi phải di chuyển nhà máy hoặc dỡ bỏ gây nên sự TTLP vốn
đầu t .
Nh vậy, công việc chuẩn bị dự án đầu t không tôt không chỉ ảnh hởng
trực tiếp đến hiệu quả đầu t trớc mắt mà còn ảnh hởng lâu dài đến sức khoẻ,
đời sống kinh tế xã hội của vùng, của khu vực và cả nớc. Thông thờng, những
sai lầm trong chuẩn bị đầu t gây ra 60%-70% tổng số TTLP trong ĐTXD từ
vốn NSNN.
1.2.2.4. Nguyên nhân từ buông lỏng kiểm tra, thanh tra, giám sát
thực hiện dự án đầu t xây dựng từ vốn ngân sách nhà nớc
Quản lý trong ĐTXD, trách nhiệm lớn nhất thuộc về chủ đầu t, Ban
thanh tra không đảm bảo. Mặt khác, khi thanh tra phát hiện cán bộ có sai phạm,
tiêu cực thì việc đề xuất cách xử lý đối với những cá nhân vi phạm mà kết quả
thanh tra đã khẳng định nếu cha thực sự nghiêm khắc và thích đáng, còn tình
trạng né tránh đối với cá nhân, tập thể vi phạm thì vô hình chung càng khuyến
khích những kẻ liều lĩnh vi phạm hơn nữa. Điều này thể hiện rõ ở nớc ta thời
gian qua, do công tác thanh tra cha đáp ứng yêu cầu, còn nhiều bất cập trong việc
thanh tra các vụ việc tiêu cực, thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng, công tác
thanh tra cha làm đầy đủ, chu đáo chức năng, nhiệm vụ của mình, thiếu tích cực,
25