Luận văn
Thực trạng và giải pháp
nâng cao đời sống của
người hưởng lương hưu
thuộc phạm vi BHXH Thị
xã Thái Bình
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ
HOẠT ĐỘNG Ở BHXH THỊ XÃ THÁI BÌNH
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG:
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THỊ XÃ THÁI
BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH:
1. Điều kiện tự nhiên, dân số.
Tỉnh Thái Bình nằm ở 20
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp nhưng thị xã lại là nơi tập trung phát
triển của khu công nghiệp lớn nhỏ trong toàn Tỉnh những năm gần đây đựoc
sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng uỷ UBND Tỉnh, UBND thị, Thị xã Thái Bình
dã có những bước tiến triển rõ rệt, với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là 108% năm,
Thị xã Thái Bình đang ngày càng phấn đấu trở thành thành phố cấp 3 trong
năm 2004. Thị xã Thái Bình là nơi tập trung của 71 cơ quan đầu não của
Tỉnh, một trường ĐH, một trường cao đẳng, ba trường PTTH, năm trường
PTCS, năm trường Tiểu học, rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất
với số lượng lao động ngày càng đông với chuyên môn và tay nghề đòi hỏi
tính kỹ thuật cao vì vậy mà cần phải có những chính sách , chế độ đãi ngộ
phù hợp vì quyền lợi của người lao động.Chính yếu tố này đã tác động rất
lớn đến những vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập sau đây.
II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CỦA BHXH THỊ XÃ THÁI BÌNH:
1. Sự ra đời và hình thành của BHXH Thị xã Thái Bình.
Thị xã Thái Bình là Trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội của
tỉnh Thái Bình là nơi tập trung của các cơ quan hành chính sự nghiệp và
cũng là nơi số đối tượng hưởng chính sách lớn nhất trong toàn tỉnh.
Nhằm góp phần ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, ngày 12-7-1995 Giám
đốc BHXH tỉnh Thái bình ra Quyết định số 01 thành lập BHXH Thị xã Thái
bình. Ngày mới thành lập, BHXHTX phải làm việc trong điều kiện cơ sở vật
chất kỹ thuật thiếu thốn: trụ sở làm việc phải thuê mượn chật chội, thiếu chỗ
làm việc, phương tiện làm việc còn lạc hậu. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ công
nhân viên còn mới, kinh nghiệm chưa nhiều, yêu cầu của công tác BHXH
ngày càng chặt chẽ hơn, phức tạp hơn. Nhưng ngay từ khi mới thành lập
BHXH TX luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH tỉnh,
của Thị uỷ, HĐND và UBND Thị xã. Với mong muốn nâng cao hiệu quả
làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho BHXH Thị xã phát triển, tháng 12-1998
3
Giám đốc
Phó Giám
đ
ố
c
Bộ phận thu Bộ phận chi Bộ phận CS
4
3. Chức năng - nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị.
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu BHXH theo quy định của Bộ
Luật Lao động, điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ thu của các
đơn vị tham gia bảo hiểm 23% tổng quỹ lương. Trong đó NLĐ đóng 6% tổng
quỹ lương + PC.
Người sử dụng lao động đóng 17% tổng quỹ lương + PC.
- Tổ chức chi trả các chế độ bảo hiểm: ốm đau; thai sản; nghỉ dưỡng sức
và phục hồi sức khoẻ; chế độ hưu trí mất sức lao động; tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp; tử tuất, đảm bảo chi trả được đầy đủ, thuận tiện và đúng
thời hạn.
- Được quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng
hưởng BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành
vi man trá làm giả hồ sơ, tài liệu để hưởng chế độ BHXH, đồng thời ra văn
bản thông báo việc từ chối chi trả đó cho đương sự, cơ quan sử dụng lao
động và cơ quan pháp luật.
- Bồi thường mọi khoản thu, chi sai các quy định của Nhà nước về
BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH.
- Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan việc
có khả năng sử dụng thành thạo vi tính. Đặc biệt, BHXH Thị xã có 9 đồng
chí là Đảng viên trong đó có 4 đồng chí đã được học qua lớp lý luận chính
trị.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của BHXH không
ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. Ngày càng đáp ứng được
nhu cầu của công tác bảo hiểm.
5. Cơ sở vật chất kỹ thuật:
6
BHXH Thị xã Thái Bình trụ sở tại số 74, đường Trần Hưng đạo -
phường Đề Thám - Thị xã Thái Bình. Với diện tích đất là 999m
2
, tháng
12/1998 UBND tỉnh BHXB tỉnh, Thị uỷ, UBND đã ra quyết định xây dựng
trụ sở làm việc với diện tích sử dụng là 300m
2
. Trụ sở làm việc của BHXH
Thị xã là 1 khu nhà 2 tầng với 6 phòng:
- 1 phòng Giám đốc
- 1 phòng Phó Giám đốc
- 1 phòng LĐCS
- 1 phòng thu
- 1 phòng tài vụ
- 1 phòng họp
Từ khi chuyển sang làm việc ở trụ sở mới, BHXH Thị xã đã trang bị
các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động quản lý và các nghiệp vụ thu chi bảo
hiểm như: máy vi tính, máy tính cá nhân, ti vi, máy điện thoại, máy điều hoà
và một số trang thiết bị khác. Càng ngày BHXH Thị xã càng được trang bị
những cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến đẩy mạnh hoạt động của đơn vị ngày
nhân viên chức nhiều vì vậy mà phòng làm việc còn chật chội, chưa đáp ứng
được yêu cầu về phòng làm việc cho đội ngũ cán bộ công nhân viên. Bên
cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị còn nghèo nàn: chỉ có 1 maý vi
tính, 3 máy điện thoại điều này cũng làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
của đơn vị.
- Chính sách BHXH liên quan trực tiếp đến quyền và trách nhiệm của
nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị và người lao động, những chính sách, chế độ
còn nhiều vấn đề chưa được thể chế hoá, đồng bộ hoá.
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế, một số doanh nghiệp làm ăn gặp
nhiều khó khăn, thua lỗ phải giải thể, công nhân không có việc làm, không
có thu nhập hoặc thu nhập thấp ảnh hưởng tới việc thu BHXH.
8
- Một số tổ chức, cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể nhận thức chưa
đầy đủ về chính sách BHXH, chưa xác định đúng trách nhiệm của đơn vị
trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chế độ BHXH.
- Công tác tuyên truyền các chính sách, chế độ BHXH tới các đơn vị và
người lao động còn chưa sâu rộng.
- Tổ chức công đoàn chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình để
người lao động có điều kiện tham gia BHXH.
- Bộ Luật lao động chưa có những chế tài xử phạt đối với các đơn vị,
doanh nghiệp né tránh, chưa tham gia BHXH.
9
B- THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BHXH
TXTB, TỈNH THÁI BÌNH:
1. Đối tượng tham gia BHXH:
Điều lệ BHXH (Ban hành kèm theo NĐ 12/CP ngày 26/1/1995 của
việc làm trên đã khiến cho số lượng các đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn
Thị xã ngày càng được mở rộng.
Năm 1995 1996 1997 1998
Số đơn vị 8 51 54 71
Số lao động 196 2.104 2.324 2.579
Năm 1999 2000 2001 2002
Số đơn vị 72 72 74 78
Số lao động 2.753 2.753 2.803 2.829
Nếu 6 tháng cuối năm 1995, BHXH Thị xã mới nhận bàn giao và thực
hiện việc thu BHXH ở 7 đơn vị kinh doanh mà 1 đơn vị HCSN ngân sách
Trung ương với số lao động là 196 người. Sang đến năm 1996 BHXH Thị xã
đã tổ chức quản lý thu của 51 đơn vị trong đó có 44 đơn vị HCSN, 7 đơn vị
sản xuất kinh doanh với số lao động là 2.104 người.
Năm 1997: BHXH Thị xã tiếp nhận thêm 3 Trường PTTH và Chi cục
thuế Thị xã, từ đó tổng đầu mối đơn vị của Thị xã đã lên đến 54 đơn vị với
2.324 lao động.
Năm 1998: BHXH Thị xã nhận thêm 1 đơn vị sản xuất ngoài quốc
doanh, phát triển thêm 13 đơn vị phường, xã. Do tách khối dân vận và 1 số
phòng ban của Thị xã cũng tách phòng nên số đầu mối đơn vị tăng lên 71
đơn vị với 2.379 lao động.
Năm 2002: BHXH Thị xã đã có 78 đơn vị tham gia bảo hiểm với
2.829 lao động trong đó có 5 đơn vị ngoài quốc doanh và 1 đơn vị ngoài
11
công lập, 44 đơn vị HCSN, 15 đơn vị sản xuất kinh doanh và 13 đơn vị xã
phường.
Chỉ sau 7 năm từ khi được thành lập BHXH Thị xã đã phát triển số
12
- Năm 2000 số lao động tham gia BHXH ở Thị xã là 2.753 đã cấp
được 2.753 sổ đạt 100%.
- Năm 2001 số lao động tham gia BHXH ở Thị xã là 2.803 đã cấp
được 2.803 sổ đạt 100%.
- Năm 2002 số lao động tham gia BHXH ở Thị xã là 2.829 đã cấp
được 2.829 sổ đạt 100%.
Qua số liệu trên có thể thấy số sổ BHXH được cấp ngày càng cao mặc
dù trong quá trình xét duyệt cũng gặp không ít khó khăn, một số đơn vị quản
lý hồ sơ cán bộ để thất lạc, hồ sơ thiếu những căn cứ để xét duyệt thời gian
và tuổi đời của cán bộ nhưng BHXH Thị xã đã tập trung cùng các đơn vị
tháo gỡ, đã hướng dẫn cho người lao động tìm lại các giấy tờ cũ có liên quan
hoặc tới cơ quan cũ để xác nhận thời gian công tác nên 100% người lao
động tham gia BHXH được cấp sổ bảo hiểm.
2.1/ Trình tự cấp sổ BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH
thuộc phạm vi BHXH Thị xã quản lý.
- Người sử dụng lập 2 bảng "Danh sách lao động đề nghị cấp sổ
BHXH" gửi cho BHXH Thị xã.
- Bộ phận thu BHXH Thị xã tiếp nhận danh sách đề nghị cấp sổ
BHXH của người sử dụng lao động đối chiếu với danh sách lao động và quỹ
lương trích nộp BHXH và danh sách lao động điều chỉnh tăng giảm mức
lương nộp BHXH của người sử dụng lao động để xác định danh sách lao
động được cấp sổ BHXH. Đồng thời hướng dẫn người sử dụng lao động
phương pháp tiến hành lập và xét duyệt tờ khai cấp sổ BHXH.
- Người lao động kê khai 03 bản tờ khai cấp sổ BHXH, người sử dụng
lao động căn cứ hồ sơ lý lịch và quá trình tham gia BHXH của người lao
động để đối chiếu xác nhận ký ghi rõ họ tên và đóng dấu lên chỗ quy
định trên tờ khai cấp sổ BHXH.
- Cán bộ thu BHXH Thị xã tiến hành thẩm định, ký duyệt tờ khai cấp
động thuộc phạm vi BHXH Thị xã:
3.1/ Công tác tiếp nhận và giải quyết đơn thư công văn:
Với phương châm tiếp nhận đến đấu giải quyết đến đó tránh tình trạng ứ
đọng, tồn đọng đơn từ, BHXH Thị xã đã bố trí hợp lý, giải quyết xử lý các đơn
thư, công văn của các đối tượng, cơ quan đơn vị đề nghị giải quyết chế độ chính
sách cho người lao động. Vì vậy mà trong suốt những năm qua BHXH Thị xã
không để xảy ra tình trạng tranh chấp, kiện tụng gây mất lòng tin của người lao
động.
3.2/ Thẩm định và xét duyệt hồ sơ tồn đọng:
Công tác thẩm định và xét duyệt hồ sơ tồn đọng theo Công văn số
843/CV-LĐTBXH được thực hiện kịp thời, đáp ứng nhu cầu BHXH của các đối
tượng góp phần kịp thời giải quyết chế độ chính sách BHXH cho người đủ điều
kiện hưởng.
14
Với thái độ làm việc tận tình, nghiêm túc BHXH Thị xã đã phối hợp
với các bên liên quan giải đáp kịp thời những vướng mắc đảm bảo quyền lợi
cho người lao động.
3.3/ Công tác tiếp dân:
Nhận thức rõ rằng muốn công việc đạt hiệu quả cao phù hợp với từng
đối tượng vì quyền lợi của người lao động, BHXH Thị xã luôn mở rộng công
tác tiếp dân để trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng giải đáp kịp thời
những vướng mắc của người lao động. Trong suốt thời gian qua, BHXH Thị
xã đã thực hiện tốt công tác tiếp dân theo lịch cũng như đón tiếp dân khi
người dân có thắc mắc khi không phải lịch tiếp dân để giải đáp ổn thỏa, đến
nơi, đến chốn cho người dân hiểu rõ hơn về BHXH tạo lòng tin về phía
người dân với BHXH Thị xã riêng và với BHXH nói chung.
4. Công tác quản lý thu, chi BHXH:
0
3.113.699.00
0
3.890.802.00
0
3.925.320.00
0
Tỷ lệ HTKH 103,42% 109% 105% 103,3%
Từ bảng số liệu trên cho thấy: Qua gần 8 năm hoạt động BHXH Thị
xã đã thu được 19.094.767.000 đồng đạt bình quân 104% kế hoạch. Đây thực
sự là một con số đáng mừng cho thấy người lao động và người chủ sử dụng
lao động đã ngày càng có những nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, nghĩa
vụ và quyền lợi của việc tham gia BHXH.
Về số đơn vị tham gia BHXH, nếu năm 1995 BHXH Thị xã Thái Bình
mới chỉ thu của 8 đơn vị, doanh nghiệp trong toàn Thị xã thì đến năm 2002
số đơn vị tham gia đã lên đến 78 đơn vị. Đặc biệt là từ năm 1998 do việc
tách khối dân vận và một số phòng ban của Thị xã, đồng thời với việc thực
hiện Nghị quyết 09 của Chính phủ phát triển thu BHXH của 13 đơn vị xã
phường nên số đơn vị tham gia đóng BHXH của Thị xã đã tăng từ 54 đơn vị
năm 1997 lên 71 đơn vị năm 1998. Trong số 78 đơn vị tham gia đóng BHXH
nói trên thì Văn phòng Thị uỷ, UBND Thị xã, Công ty dịch vụ kỹ thuật nông
nghiệp, Công ty thị chính, 35 đơn vị trường trong khối Giáo dục Thị xã là
những đơn vị luôn đảm bảo thu đúng, thu đủ, giải quyết chế độ cho người lao
động kịp thời.
16
Về số đối tượng tham gia BHXH. Năm 1999 BHXH Thị xã chỉ thu
BHXH cho 196 đối tượng sang đến năm 1996 số đối tượng được tham gia đã
lên đến 2.104 đối tượng và từ đó đến nay số đối tượng tham gia đóng BHXH
các bên tham gia BHXH nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của
người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Kết quả chi là kết quả của quá trình thực hiện chính sách BHXH, là
khâu cuối cùng của công tác giải quyết các chính sách BHXH liên quan đến
người lao động bị suy giảm sức lao động, TNLĐ - BNN, ốm đau, thai sản
cho đối tượng hưởng lương hưu và các loại trợ cấp BHXH khi hoàn thành
nghĩa vụ. BHXH đã chi trả các chế độ BHXH theo đúng quy định thông qua
Ban chi trả của UBND các phường, các xã. Đáp ứng nguyện vọng của đối
tượng tham gia BHXH.
* Công tác chi ốm đau, thai sản:
Chi trả ốm đau, thai sản là nhiệm vụ thiết thực nhằm đảm bảo quyền
lợi của người lao động, công chức đang công tác, yêu cầu công tác xét duyệt
hồ sơ phải chính xác, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ. BHXH Thị xã
luôn được sự quan tâm cấp kinh phí kịp thời của BHXH tỉnh để BHXH Thị
xã chủ động xét duyệt chi trả thường xuyên, kịp thời. Riêng trong năm 2002
BHXH Thị xã đã chi trả cho 44 lượt người nghỉ ốm đau với tổng số tiền là
30.642.400đ; 25 đối tượng hưởng chế độ trợ cấp thai sản với tổng số tiền là
98.643.100đ.
Ốm đau Thai sản
Số lượt người Số tiền Số đối tượng Số tiền
Quý I 9 6.165.790
3 10.937.900
Quý II 6 4.216.810
7 27.820.500
Quý III 24 16.915.470
* Công tác chi chế độ hưu trí:
- Cách tính lương và chi trả cho người lao động:
CBCNV Nhà nước nghỉ hưu được tính 15 năm công tác đầu được
hưởng 45%. Từ năm thứ 16 trở đi được hưởng thêm 2%/năm nhưng tối đa
không quá 75% mức lương khi còn làm việc (tính mức lương bình quân 6
năm cuối).
Ngoài ra người có trên 30 năm đóng BHXH được hưởng trợ cấp 1 lần
với mức lương là 1/2 tháng tiền lương/1 năm nhưng không quá 5 tháng.
Theo cách tính trên năm 2002 BHXH đã chi trả cho 11.823 đối tượng
với tổng số tiền từ Quỹ BHXH và Quỹ ngân sách Nhà nước là
58.388.331.000đ.
HC HQ
Số đối tượng Số tiền Số đối tượng Số tiền
QBH QNS QBH QNS QBH QN
S
QBH QNS
Quý I 1468 9358 2.174.00
6
10.192.14
4
124 886 295.376 1.950.18
4
Quý II 1470 9352 2.179.20 10.180.56 122 886 293.584 1.950.18
19
0 4 4
Quý III 1473 9347 2.183.02
Chế độ MTP bằng 8 tháng tiền lương tối thiểu. Đối với những thân
nhân đủ điều kiện hưởng tuất, nếu con không đi học được hưởng đến năm 15
tuổi, nếu con còn đi học thì được hưởng đến năm 18 tuổi.
Ngoài ra người đủ điều kiện hưởng tuất còn có cha mẹ, vợ hoặc chồng
người chết đã hết tuổi lao dộng (60 tuổi trở lên đối với nam, 55 tuổi trở lên
đối với nữ).
Với những thân nhân không đủ điều kiện hưởng tuất thì được hưởng
trợ cấp 1 lần theo cách tính.
Số năm đóng BH x 1/2 tháng lương bình quân. Nhưng không được quá 12
tháng.
* Chi trả chế độ TNLĐ - BNN:
Trong năm 2002, BHXH đã chi từ Quỹ ngân sách Nhà nước và Quỹ
BHXH cho 48 lao động hưởng chế độ TNLĐ - BNN. Mức phụ cấp phụ
thuộc vào tỷ lệ MSLĐ theo quy định chung. 20
Mức suy giảm khả năng lao động Trợ cấp hàng tháng
31% - 40% 0,4 tháng tiền lương tối thiểu
41% - 50% 0,6 tháng tiền lương tối thiểu
51% - 60% 0,8 tháng tiền lương tối thiểu
61% - 70% 1,0 tháng tiền lương tối thiểu
71% - 80% 1,2 tháng tiền lương tối thiểu
81% - 90% 1,4 tháng tiền lương tối thiểu
91% - 100% 1,6 tháng tiền lương tối thiểu
Với mức trợ cấp được chi trả nhìn chung chỉ trợ giúp 1 phần khó khăn
của người lao động, đời sống của bản thân và gia đình họ còn gặp nhiều khó
khăn.
gia, chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân.
- Việc thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách BHXH ở các cơ sở
chưa được thường xuyên liên tục, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà
nước và cơ quan quản lý BHXH chưa chặt chẽ.
- Tình trạng thiếu hoặc nợ đóng BHXH ở một số đơn vị đã làm ảnh
hưởng đến nguồn thu và việc thực hiện giải quyết các chế độ BHXH cho người
lao động.
6.2/ Các biện pháp:
- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền tạo mối quan hệ chặt chẽ
và có hiệu quả đối với các cơ quan thông tin đại chúng để mọi người lao
động nâng cao nhận thức về BHXH.
- Phấn đấu nâng cao hơn nữa công tác chi trả để chi trả đúng kỳ, đủ số,
đúng chế độ tận tay đối tượng một cách thuận lợi, an toàn và thuận tiện, kịp
thời theo đúng quy định hiện hành.
22
- Tăng cường nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác
BHXH.
- Phát huy tinh thần gương mẫu, chủ động, sáng tạo của từng cá nhân
trong việc thực hiện nhiệm vụ chung.
- Tăng cường công tác thanh tra nội bộ trong việc quản lý tài sản, thu -
chi BHXH không để xảy ra những sai phạm, thất thoát.
- Phối kết hợp với các tổ chức công đoàn của người lao động để công
đoàn phát huy hết vai trò của mình vì lợi ích của người lao động trong việc
tham gia BHXH.
- Thực hiện thanh tra, giám sát, phối kết hợp với Thanh tra Sở Lao
động TBXH, BHXH tỉnh để thực hiện thanh tra, giám sát các đơn vị sử dụng
lao động.
7. Thực trạng đời sống của người hưởng lương hưu:
tập dưỡng sinh, đánh cầu lông, bóng bàn, cờ tướng, sáng tác thơ ca, đọc thơ,
bình thơ Các phong trào trên đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần, bảo
vệ sức khoẻ giúp đội ngũ hưu trí "Sống vui, sống khoẻ, sống có ích". Nhiều
thành viên của các CLB hưu trí ở Thị xã đã đoạt các giải thể thao của Tỉnh,
của Thị. Nhiều phường xã hàng năm đã xuất bản những tập thơ: phường
Quang Trung đã ra được 3 tập thơ, hơn 600 bài; phường Phúc Khánh đã ra
được 6 tập thơ "Hoa trái vườn nhà", tổ chức thi cầu lông, liên hoan văn nghệ
được Sở Văn hoá Thông tin tặng Bằng khen; phường Bồ Xuyên có phong
trào văn nghệ, hoạt động dưỡng sinh khá mạnh, đã ra được 3 tập thơ "Đường
xuân"; phường Kỳ Bá với CLB dưỡng sinh hoạt động thường xuyên hiệu
quả, đã ra được 4 tập thơ "Hương sen"; phường Đề Thám cũng ra được 2 tập
thơ "Hoa hương sắc". Các phường xã còn lại đều tổ chức sinh hoạt CLB đều
đặn hàng tháng, hàng quý. Ngoài ra Thị xã còn có CLB trung cao lão thành
cách mạng có 150 đến 200 cán bộ hàng tháng sinh hoạt đều đặn vào ngày
mồng 1 với nhiều nội dung phong phú.
Ngày 01/10 hàng năm BHXH Thị xã cùng Phòng Tổ chức Lao động
TBXH, Ban bảo vệ sức khoẻ tỉnh tham mưu với Thị uỷ, UBND Thị xã tổ
24
chức kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho các cán bộ trung cao lão thành cách
mạng, có biếu thuốc và quà các cụ nhân ngày Quốc tế Người cao tuổi.
Hoạt động văn hoá thể thao của các CLB hưu trí còn cung cấp cho các
phường xã đội ngũ cán bộ cơ sở đông đảo. Theo thống kê sơ bộ tới 80% số
cán bộ tổ trưởng, xóm trưởng. Có phường như phường Phúc Khánh có tới
100% số cán bộ là cán bộ hưu trí.
Các Ban liên lạc hưu trí còn tổ chức các hội hiếu, hội từ thiện thăm
hỏi giúp nhau lúc ốm đau hoạn nạn, thăm viếng lúc qua đời. Rất nhiều các
cán bộ hưu trí đã trở thành những tấm gương sáng cho mọi người noi
theo.