Mục lục
Phần mở đầu.
1.Lí do chọn đề tài.
2.Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi ngiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Bố cục.
Phần nội dung:
Chương 1: Tình hình kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới 2 (1945-1960).
1.1 Đôi nét về đất nước con người Nhật Bản.
1.2 Hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi kinh tế (1945-1960).
Chương 2: Đặc điểm nền kinh tế Nhật Bản (1960-1973).
2.1 Sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản (1960-1973).
2.2 Những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản.
2.2.1 Tính cách con người Nhật Bản.
2.2.2 Vai trò quản lí và chính sách mở cửa của Nhà Nước.
2.2.3 Cải cách kinh tế.
2.2.4 Đổi mới và phát triển khoa học kĩ thuật.
2.2.5 Ổn định chính trị xã hội.
2.2.6 Chi phí quốc phòng ít.
2.2.7 Các công ti, các nhà kinh doanh năng động tích cực.
2.2.8 Sự hợp tác chủ thợ và lực lượng lao động ưu tú.
2.2.9 Tỉ lệ tiết kiệm cao và ngân hàng cho vay tích cực.
2.2.10 Cơ cấu hai tầng và tư tưởng trong tăng trưởng kinh tế.
2.2.11 Sự kết hợp giữa thị trường và kế hoạch.
2.2.12 Môi trường quốc tế hòa bình.
2.2.13 Cải cách giáo dục.
Chương 3: Ý nghĩa của sự phát triển thần kì.
Phần kết luận.
Phụ lục ảnh.
Phần mở đầu.
vươn lên và phát triển mạnh mẽ đến vậy? Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu phân
tích những đặc điểm dẫn tới sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản từ 1952-1973.
Và Nhật Bản đã phát triển thần kì như thế nào? Vì sao Nhật Bản lại làm được
điều đó? Những nguyên nhân nào tác động dẫn đến sự phát triển thần kì đó? Sự
thần kì đó có ảnh hưởng như thế nào? Đây là lí do chúng tôi muốn tìm hiểu đề
tài “ Nguyên nhân phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản ( 1960-1973 )”.
Từ những tài liệu thu thập và tìm hiểu được, chúng tôi đã chọn lọc, tổng kết
và rút ra nhận xét đánh giá để hoàn thiện đề tài. Bài viết còn những hạn chế,
thiếu xót, mong bạn đọc đóng góp ý kiến giúp đề tài hoàn thiện hơn.
2.Mục đích nghiên cứu.
Để thỏa mãn niềm đam mê của mình, chúng tôi xin đóng góp một phần nhỏ
vào công trình nghiên cứu về nguyên nhân phát triển thần kì của nền kinh tế
Nhật Bản (1960-1973) qua một vài trang viết.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc và những người yêu lịch sử muốn tìm hiểu thêm
về lịch sử đất nước Nhật Bản qua những thông tin khái quát nhất.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu và tìm hiểu về nguyên nhân phát triển thần kì của nền kinh tế
Nhật Bản (1960-1973).
4.Phương pháp nghiên cứu.
Thu thập thông tin từ các nguồn sử liệu sau đó xử lí sao cho phù hợp với nội
dung của bài nghiên cứu nhằm đảm bảo được tính khái quát và chính xác của tư
liệu, tài liệu.
5.Bố Cục.
Phần mở đầu
Phần nội dung:
Chương 1: Tình hình kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới hai (1945-1960).
1.1.Đôi nét về đất nước - con người Nhật Bản.
1.2. Hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi kinh tế (1945-1960).
Chương 2: Đặc điểm nền kinh tế Nhật Bản (1960-1973).
2.1 Sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản (1960-1973).
128 triệu người. Trong đó 99% là người Nhật. Dân cư Nhật Bản phân bố không
đồng đều trong cả nước. Dân cư tập trung đong nhất ở vành đai Thái Bình
Dương.
Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Các khoáng sản như quặng sắt,
đồng đỏ, kẽm, chì, bạc và các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ,
than đều phải nhập khẩu. Địa hình và khí hậu cũng khiến người nông dân gặp
rất nhiều khó khăn. Nhật Bản chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo,
nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Nhật Bản vốn là nước rất nghèo tài nguyên trong khi đó dân số lại quá đông,
phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị phá hủy kiệt quệ trong
chiến tranh. Nhưng với các chính sách phù hợp kinh tế Nhật Bản đã nhanh
chóng được phục hồi trong giai đoạn (1945-1960) và phát triển cao độ trong
giai đoạn (1960-1973) làm thế giới phải kinh ngạc, gọi đó là “ Sự phát triển thần
kì ” của kinh tế Nhật Bản.
Văn hóa Nhật Bản là nền văn hóa tự bản thân mang tính thống nhất cao. Đó
là văn hóa mang sức mạnh của một dân tộc thống nhất. Chính cái đó đã tạo nên
cái gọi là tinh thần dân tộc Nhật Bản.
Người Nhật Bản có tính kỉ luật rất cao. Đặc điểm này có căn nguyên từ môi
trường sống không lấy gì làm thuận lợi của họ. Khí hậu Nhật Bản khá khắc
nghiệt: mùa đông lạnh giá, tuyết phủ đầy ở miền Bắc; mùa hè nóng nực và
nhiều gió bão. Các thiên tai như: động đất, sóng thần, núi lửa,… luôn luôn rình
rập. Có thể nói so với nhiều quốc gia ở Châu Á thì “Nhật Bản không được trời
ban phúc về điều kiện tự nhiên”. Hoàn cảnh ấy tạo cho họ sự lạnh lùng, khắc
khổ, sẵn sàng đón nhận tất cả những khó khăn à thiên nhiên mang lại. Người
Nhật Bản đã từng phải sống trong ngôi nhà bằng giấy, có thể dễ dàng dựng lại
sau một trận động đất hoặc hỏa hoạn, người miền Bắc phải muối rau dưa để ăn
suốt cả mùa đông. Tính kỉ luật của người Nhật khác hẳn với tính tùy tiện của cư
dân nhiều vùng trồng lúa nước ở Đông Nam Á. Chính tính kỉ luật cao ấy đã
giúp người Nhật nhanh chóng thích nghi với nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
Trong cách ứng xử của mình người Nhật hầu như không khoe khoang,
nề: khoảng 3 triệu người chết, mất tích và bị thương, 9 triệu người không có nhà
ở. Về cơ sở vật chất, 40% đô thị bị tàn phá, 80% tàu bè, 34% máy móc nông
nghiệp bị phá hủy. Tổng giá trị thiệt hại về vật chất là 63,4 tỉ Yên. Là nước bị
trận, Nhật Bản còn mất hết thuộc địa và bản thân lại bị quân Đồng minh chiếm
đóng.
Vấn đề kinh tế - xã hội cũng gặp không ít khó khăn: lương thực, nguyên liệu
thiếu trầm trọng, giá cả đắt đỏ, lạm phát leo thang. Sản lượng công nghiệp năm
1946 chưa bằng 1/3 năm 1930 và chỉ bằng 1/7 năm 1941. Cả nước có tới 13,1
triệu người thất nghiệp. Vụ lúa năm 1945 thất bát, thảm họa đói rét bao trùm
nước Nhật. Hơn 4 triệu người thất nghiệp do ngừng các loại sản xuất quân sự,
7,6 triệu binh sĩ giải ngũ , 1,5 triệu người từ thuộc địa hồi hương, nâng tổng số
người không có việc làm lên 13,1 triệu người, 25% công trình xây dựng bị phá
hủy.
Do chiến tranh, sản xuất bị gián đoạn, thất nghiệp gia tăng, tổng cầu vượt
cung khiến cho lạm phát tăng tốc nhanh chóng. Nạn đói xảy ra trầm trọng tuy
đã được khắc phục nhưng chưa hiệu quả, thức ăn tồi và thiếu gây ra nạn suy
dinh dưỡng và ngộ độc ở nhiều nơi.
Rất nhiều hậu quả của chiến tranh dẫn đến những thách thức to lớn đối với
Nhật Bản nhưng không chỉ khôi phục được hậu quả chiến tranh mà Nhật Bản
còn phát triển vượt bậc. Nhật Bản khôi phục được nhân lực và được sự giúp đỡ
của Mỹ nên Nhật Bản nhanh chóng khôi phục lại đất nước, phục hồi lại nhà
máy từ đống tro tàn của chiến tranh và phát triển kinh tế.
Một thời gian sau chiến tranh Nhật Bản đã bắt đầu tích lũy được một số vốn
và lần lượt xây dựng các nhà máy có công nghệ cao. Những nhà máy cũ bị tàn
phá trong chiến tranh có tác dụng buộc Nhật Bản phải trang bị lại những thiết bị
tối tân nhất. Trong một thời kỳ mà cuộc cách mạng kĩ thuật diễn ra hết sức
nhanh chóng, điều quan trọng là phải đào tạo được những con người thành thạo
kỹ thuật mới và phải có vốn để du nhập những kỹ thuật đó. Nếu thiết bị quá cũ
sẽ là trở ngại cho sự phát triển.
Trong tình hình đó, người Nhật đã nhờ vào viện trợ của Mỹ cùng với nỗ lực
Trong giai đoạn (1960-1973) nền kinh tế Nhật Bản phát triển với nhịp độ rất
nhanh, tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc dân thực tế thường ở mức cao nhất
trong các nước tư bản so với năm 1950 giá trị tổng sản phẩm trong nước năm
1973 tăng 20 lần( từ 20 tỉ USD- 502 tỉ USD) vượt Anh, Pháp, cộng hòa liên
bang Đức. Nhật Bản đã dẫn đầu các nước tư bản về tàu biển, xe máy, máy ảnh,
ti vi,…và nhanh chóng xây dựng lên các ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên kỹ
thuật công nghệ hiện đại. Nhật Bản đã khẳng định vị trí của mình, tỏa ánh sang
hào quang và duy trì hình ảnh một siêu cường kinh tế khi bước vào thế kỷ XXI.
Bằng sự cố gắng nỗ lực của toàn nhân dân với chính sách và bước đi đúng
đắn, Nhật Bản đã tạo nên một giai đoạn phát triển nhanh chóng với những biến
đổi có tính chất liên tục và tăng nhanh về chất lượng.
Về tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Nhật Bản, năm 1950 mới chỉ đạt 20 tỉ
USD (bằng 1/3 Anh, 1/2 Pháp, 1/17 Mĩ ), năm 1968 đã vượt các nước Tây Âu
chỉ sau Mĩ với 183 tỉ USD (Mĩ 830 tỉ USD, Cộng hòa Liên Bang Đức 132 tỉ
USD, Anh 120 tỉ USD, Pháp 118 tỉ USD), năm 1973 Nhật đã đạt được 402 tỉ
USD, năm 1989 là 2.828 tỉ USD và năm 2000 lên tới 4.895 tỉ USD. Và đến năm
2003, nếu như tổng trọng lượng kinh tế thế giới là 25.000 tỉ USD thì Nhật Bản
chiếm 4.000 tỉ USD( tức 16%), sau Mỹ và Tây Âu( 36% mỗi khu vực).
Như vậy, trong vòng 50 năm( 1950-2000), GNP của Nhật Bản tăng hơn 244
lần. Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc gia (GNP) bình quân hàng năm, từ 1952-
1958 tăng 6,9%, năm 1959 tăng lên 10% nhưng vẫn chưa gây được sự chú ý
thật sự của thế giới,từ 1960-1969 tăng 10,8% ( so với Cộng hòa Liên Bang Đức
là 4,6%, Mỹ là 4,3%).
Đến những năm 1970-1973 tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình tuy giảm
xuống chỉ còn 7,8% nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với các nước khác. Thế
giới kinh ngạc, gọi đó là “sự thần kì” về kinh tế của Nhật Bản.Năm 1968, nền
kinh tế của Nhật Bản đã lần lượt vượt qua các nước Anh, Pháp, Cộng hòa liên
bang Đức, Italia, Canađa để vươn lên hàng thứ hai trong thế giới tư bản sau Mĩ.
Nhân tố hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thời kỳ này là sự
phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp chế tạo chỉ số sản xuất công
năm 1970 là 48,9%.
Qua đó, thấy rõ được xu hướng tập trung sản xuất và lực lượng sản xuất
vào các công ty lớn. Đặc biệt là công ty trên 1000 nhân viên có tỉ trọng liên tục
gia tăng. Về tổng số lượng lao động năm 1955 chiếm 14,6% năm 1965 là
16,6%, năm 1970 là 17,5%. Về kim ngạch bán ra năm 1955 là 23,5%, năm 1965
là 28,4%, năm 1970 là 30%. Xét riêng năm 1970 là năm có tỉ trọng công nghiệp
nặng và hóa chất đạt cao nhất, các công ty nhỏ chiếm 90% tổng số các công ty
nhưng chỉ chiếm 16% kim ngạch bán ra. Ngược lại, các công ty khổng lồ chỉ
chiếm 0,1% tổng số nhưng lại chiếm 17,5% tổng số nhân viên và 30% kim
ngạch bán ra.
Điều này cho thấy độ tập trung rất cao. Cùng với đó là sự thống trị của
một số ít các công ty khổng lồ về vốn và đầu tư. Năm 1969, loại công ty có tiền
vốn trên 1 tỉ Yên chỉ chiếm 0,13% tổng số công ty nhưng lại chiếm 60,5% tổng
số vốn. Các công ty này kết hợp với nhau thành các tập đoàn tạo ra sức mạnh
lớn chi phối nền kinh tế.
Về phân bố, từ năm 1955 việc phát triển tốc độ cao đã được chú ý tới.
Theo kế hoạch tăng gấp đôi thu nhập sản xuất công nghiệp được bố trí dọc 2
tuyến Tokai và Sango. Các xí nghiệp nằm chủ yếu trên khu vực vành đai nhưng
hạn chế các khu vực đã công nghiệp hóa cũng do kế hoạch này sự chênh lệch
thu nhập giữa các vùng ngày càng tăng nên Nhật Bản đã đề ra những kế hoạch
phát triển trọng điểm nhằm hạn chế tình trạng trên.
Ngành
1955
1960
1965
1970
Dệt
44,2
68,2
100
51,2
100
291,6
Tổng
cộng(công
nghiệp chế tạo)
26,0
59,9
100
218,5
Bảng chỉ số sản xuất công nghiệp của các ngành( 1965=100).
(Nguồn: Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế)
Kết quả của sự phát triển trên là phần của các ngành công nghiệp nặng và
hóa chất trong tổng sản lượng của công nghiệp chế tạo đạt tới 57% năm 1970
cao hơn phần tương ứng ở Tây Đức hoặc ở Mỹ.
Qúa trình tăng trưởng này không phải là sự phát triển nhẹ nhàng, gấp khúc.
Trong thời gian này, nền kinh tế Nhật Bản đã trải qua những thăng trầm khá rõ
rệt, chia ra thành những chu kỳ dài khoảng hơn 3 năm đôi khi 2 năm hoặc 5
năm. Những sự lên xuống này diễn biến có hệ thống và phần lớn theo một lề lối
nhất định. Tính từ năm 1951-1973 có tất cả 7 thời kỳ phồn thịnh và 8 lần suy
thoái. Những lần suy thoái chu kỳ này chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng chậm
lại chứ không phải là giảm sút tuyệt đối. Những nhà kinh tế phân tích theo quan
điểm chu kỳ công nghiệp của Các Mác cho rằng chu kỳ tái sản xuất tư bản ngắn
lại rất tiêu biểu ở Nhật Bản gắn chặt với sự rút ngắn chu kỳ đổi mới kỹ thuật
nhờ tiến bộ khoa học sau chiến tranh.
2.2. Những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thần kì của kinh tế Nhật
Bản.
2.2.1. Tính cách con người Nhật Bản.
Một trong những chìa khóa tạo ra sự phát triển thần kì của Nhật Bản trong
thế kỉ XX chính là văn hóa làm việc của con người Nhật Bản. Tôn trọng truyền
động luôn gắn bó và sẵng sàng gắn bó suốt đời với công việc, với xí nghiệp. Họ
làm việc cần mẫn, đầy tinh thần tự giác và trách nhiệm nhiều khi không tính cả
thời gian. Chính lực lượng công nhân to lớn giỏi về tay nghề và trung thành
tuyệt đối là nhân tố quan trọng đưa các công ti Nhật Bản lên tầm cỡ thế giới.
Lòng trung thành là một phẩm chất truyền thống của người Nhật Bản nó phát
huy tác dụng mạnh mẽ trong cuộc sống hàng ngày, trong lĩnh vực sản xuất, góp
phần không nhỏ vào sự phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản.
Tính hiếu học: đặc tính này được tạo lập trên cơ sở thói quen đã hình thành
vững chắc, lại được khích lệ bằng động cơ phục vụ sự nghiệp phát triển đất
nước, xã hội một cách đứng đắn và cao cả. Nhật Bản luôn luôn đầu tư cho giáo
dục một cách tối đa. Đây là nước có số lượng sinh viên, các nhà khoa học được
cử ra nước ngoài học tập và nghiên cứu cao nhất, nhì thế giới. Ngày nay ở nhiều
ngành nhiều lĩnh vực Nhật Bản đã vượt xa nhiều nước trong việc sử dụng tri
thức khoa học vào trong sản xuất và đời sống.
Tính sáng tạo: tính sáng tạo là một phẩm chất gắn liền với lòng ham mê lao
động của người Nhật Bản cũng có thể nói rằng người Nhật Bản luôn luôn ham
mê sáng tạo. Đức tính này đòi hỏi một cách tư duy tích cực, một óc tưởng tượng
phong phú. Ở Nhật Bản quan niệm về sáng tạo được hiểu một cách rộng rãi và
mang ý nghĩa thực tiễn. Nó không chỉ giới hạn trong phạm vi sáng tảoa những
gì hoàn toàn mới mẻ mà bao hàm cả việc cải tiến những gì đã có cho ngày một
hoàn thiện hơn.Nhận thức này có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của Nhật
Bản nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng.
Ham mê lao động: ở Nhật Bản lao động thật sự vừa là nghĩa vụ vừa là quyền
lợi không ai có thể thoái thác. Người Nhật Bản từ xưa đã có ý thức sâu sắc rằng
nhờ có lao động mà con người và xã hội với tồn tại và phát triển. Bởi vậy lao
động với được đánh giá là một tính cách cơ bản của mỗi con người chân chính.
Tuy nhiên để có những phẩm chất ấy lại là một điều hết sức khó khăn và phức
tạp. Lòng ham mê lao động đã được dựa trên những cơ sở vững chắc của ý thức
kỉ luật để phát triển năng lực cá nhân phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước.
quan chức ở sự trong sáng và sự công bằng, tập quán các xí nghiệp tư nhân
phục tùng sự lãnh đạo của các cơ quan Chính phủ.
Hoạch định kế hoạch: ngoài việc họ phải lập kế hoạch tổng hợp như kế
hoạch tăng thu nhập và kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội, các quan chức ở các
bộ còn phải lập kế hoạch dài hạn trong lĩnh vực do bộ mình quản lí. Trong quá
trình hoạch định này thường lập ra các cơ quan tư vấn, tập hợp các chuyên gia,
các xí nghiệp tư nhân đó là cách để tập hợp kiến thức và đạt tới sự thỏa thuận.
Trong hầu hết các trường hợp lãnh đạo kế hoạch là quan chức.
Để khôi phục và ổn định kinh tế, chính phủ đã phải tiến hành phân phối
lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả, chống nạn đầu cơ, “ đông
lạnh” tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái phiếu chính phủ, tập trung khôi
phục kinh tế và phát triển một số ngành ưu tiên như than, thép, điện lực, năng
lượng, hóa chất, phân bón….
Cuối năm 1948, chính phủ Mĩ cử ông Joseph Dodge sang Nhật Bản để điều
hành nền kinh tế ở đây. Ông này chủ trương cân đối ngân sách thông qua hạn
chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá, cố định tỉ giá hối đoái Yên Nhật/ Đôla Mĩ là
360:1. Nhờ đường lối này nền kinh tế tự do được khôi phục, năng suất năng
động ở Nhật Bản được nâng lên, lạm phát được khống chế.
Một phần trong sự phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản liên quan đến
việc thu hẹp khoảng cách về công nghệ và tri thức. Khía cạnh ngoại ứng và
hàng hóa công cộng của tri thức đã cho ta một cơ sở khách quan về lí thuyết để
giải thích cho vai trò của Chính phủ. Ngoài việc thực hiện thành công các chiến
lược tăng trưởng thì Chính phủ đã theo đuổi các chính sách tích cực nhằm
khuyến khích sản xuất và truyền bá kiến thức, công nghệ, chứ không chỉ dừng
lại ở việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thông qua luật về bản quyền và bằng sáng
chế.
Chính sách đối nội, đối ngoại của Nhật Bản sau chiến tranh cụ thể như sau:
+ Đối nội: Chuyển từ chế độ chuyên chế sang chế độ dân chủ. Các đảng phái
được hoạt động công khai. Đảng Dân chủ Tự Do (LDP) Liên tục cầm quyền.
+ Đối ngoại: Kí hiệp ước An ninh Mĩ- Nhật (9/1951): Nhật lệ thuộc vào Mĩ,
lượng đất chính phủ mua lên đến 163 000 ha. Diện tích phát canh tính đến tháng
8/1950 chỉ còn 10%. Địa chủ vắng mặt đã bị xóa bỏ, 80 đến 90% đất của họ đã
bị chuyển nhượng cho tá điền. Khoảng 70 đến 80% số ruộng đất cho thuê hoặc
canh tác của địa chủ làng xã đã bị chuyển nhượng cho nông dân.
Nhiều nhà chính trị và nghiên cứu Nhật Bản trong và ngoài nước đánh giá
cao những thành tựu của chương trình cải cách ruộng đất. Cuộc cải cách ruộng
đất có tác động rất lớn đối với ý nghĩa phát triển kinh tế Nhật Bản. Vì ruộng đất
ở nông thôn Nhật Bản đã bị xóa bỏ, xóa bỏ luôn tàn dư phong kiến của nền
nông nghiệp và từ đó làm tan rã chế độ đẳng cấp ở nông thôn, làm thay đổi trật
tự xã hội nông thôn. Điều này tạo ra sự phân phối tài sản và thu nhập bình đẳng
hơn. Sauk hi quyền sở hữu ruộng đất đã được chuyển nhượng nông dân đã tiến
hành cải tạo ruộng đất gieo trồng, tích cực áp dụng kĩ thuật canh tác mới, tăng
năng suất lao động nông nghiệp. Những tiến bộ kĩ thuật trong việc trồng lúa và
thu nhập đáng kể của nông dân cũng đã góp phần mở rộng đáng kể thị trường
trong nước. Cải cách ruộng đất còn gián tiếp làm thay đổi toàn bộ chiều hướng
phát triển của làng xã Nhật Bản.
*Giải tán các tập đoàn tài phiệt(Zaibatsu).
Ở Mĩ, phần lớn người ta coi tài phiệt là thủ phạm làm cho Nhật Bản lao vào
cuộc chiến tranh đế quốc theo chỉ thị của GHQ(bộ tư lệnh quân Đồng minh sau
chiến tranh chiếm đóng Nhật Bản ), chính phủ Nhật Bản đã tiến hành giải tán
các tập đoàn tài phiệt vào tháng 10 năm 1945.
Sự tập trung công nghiệp vào một số Zaibatsu gây ra quan hệ nửa phong
kiến giữa chủ, thợ và kìm hãm tiền lương, cản trở sự phát triển công đoàn.
Nhằm thực hiện giải thể Zaibatsu, lực lượng Đồng minh đã lập ra ủy ban giải
quyết vấn đề công ty cổ phần. Ngoài 4 tập đoàn tài phiệt lớn như Mitsu,
Mitsubisi, Sunitomo, Yasuda bị giải tán, có 2500 người trong hội đồng quản trị
có 1600 xí nghiệp có quan hệ với tài phiệt đã buộc phải rời khỏi chức vụ của
mìn, 57 gia đình Zaibatsu phải giao nộp tài sản tổng cộng lên đến 233 triệu cổ
phần và bán cổ phần này cho nhiều công ty, hiệp hội.
Các cổ phần thuộc quyền sở hữu của các công ty tài phiệt và các gia đình tài
đoàn kết, quyền thương lượng tập thể, quyền bãi công. Luật điều chính quan hệ
lao động được đề ra vào tháng 7 năm 1947. Luật tiêu chuẩn lao động được đề ra
vào tháng 4 năm 1947. Vì vậy lực lượng công đoàn phát triển nhanh chóng.
Trong những năm 1945-1951 các cuộc cải cách lao động thể hiện chủ yếu
dưới hình thức đòi cải thiện quan hệ chủ, thợ trong xí nghiệp, công ty. Đề cao tự
do, dân chủ, nâng cao đời sống vật chất cho công nhân, tạo nên mối quan hệ
mới có lợi cho sự phục hồi và phát triển kinh tế.
Trên cơ sở đó phong trào công nhân phát triển nhanh chóng, số lượng đoàn
viên tăng mạnh mẽ. Cải cách công đoàn và nhiều nội dung thể hiện trong cải
cách tăng cường quan hệ hợp tác chủ thợ góp phần tạo ra năng suất lao động
cao và khả năng cạnh tranh vào cuối thập kỉ 50 và các giai đoạn sau đó.
Phong trào công đoàn thời kỳ đầu sau chiến tranh mang tính chiến đấu rất rõ
rệt. Bởi vì lúc đó bối cảnh về mặt tư tưởng công nhân có nguy cơ bị tư bản tước
đoạt quyền lợi của mình. Một nguyên nhân nữa là đời song công nhân trong
thời kỳ đó vô cùng khổ cực nếu không đấu tranh đòi tăng lương thì không sống
nổi. Vì thế mà phong trào công đoàn đã dương cao nhiều mục tiêu để tập hợp
công nhân đấu tranh như: truy cứu trách nhiệm chiến tranh, phản đối cuộc giãn
thợ, bảo vệ đời sống về quyền của công nhân, thì ngoài quyền bãi công ra công
nhân đòi quyền tham gia dưới hình thức quản lí. Những cuộc bãi công, đấu
tranh lớn của công nhân sau chiến tranh có thể kể đến như: cuộc bãi công của
công nhân viên báo Yomiuri năm 1945, cuộc bãi công của nhà máy đóng tàu
Tsurumi thuộc tập đoàn sắt thép Nihon Kokan.
Các tổ chức công đoàn đã tiến hành các cuộc bãi công kéo dài đe dọa đến
quản lí sản xuất như manh nha đòi phải có sự giám sát của dân trong kinh tế, đe
dọa sự tồn tại của xí nghiệp. Sau đó qua nhiều cuộc đấu tranh khác nữa, hoạt
động của công đoàn trở nên thực dụng hơn, chuyển sang các nội dung chủ yếu
là về kinh tế ôn hòa hơn và trở thành một cơ sở quan trọng giúp cho nền kinh tế
Nhật Bản đạt được tốc độ tăng trưởng cao.
Như vậy, công cuộc cải cách ruộng đất sau chiến tranh đã mang lại ruộng
đất cho nông dân, và các quyền lợi cơ bản về lao động đã được công nhận.
phương thức bán hang tự động tại các siêu thị.
Sự tiếp nhận các tri thức, thành tựu khoa học kĩ thuật phương Tây được phân
tích kĩ lưỡng, thận trọng và có chọn lọc. Các tri thức này đem lại kết quả thiết
thực cho sự phát triển kinh tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.
Những tri thức du nhập này được vận dụng sáng tạo trong điều kiện kinh tế -xã
hội Nhật Bản.
Sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng và hóa chất nhờ tiến hành
cách mạng kĩ thuật. Đặc biệt, trong các lĩnh vực hóa dầu, công nghiệp điện tử,
sắt thép… đã du nhập được các kĩ thuật tiên tiến nhất từ các nước phương Tây,
kết hợp với sự cải tiến cho phù hợp với đặc điểm của Nhật Bản, đã trang bị cho
các ngành công nghiệp những kĩ thuật tiên tiến.
Kĩ thuật tiên tiến đã cùng với lực lượng lao động cần cù, có tay nghề cao,
làm hạ giá thành của hàng hóa và trở thành sức mạnh cho hàng hóa Nhật Bản
thâm nhập vào thị trường thế giới. Một điều quan trọng nữa là Nhật Bản đã xác
lập quy trình kĩ thuật quản lí chất lượng sản phẩm , chính vì vậy hàng hóa Nhật
Bản được đánh giá cao.
Nhật Bản biết lợi dụng sự đầu tư của Mĩ để tạo dựng cho Nhật Bản phục hồi.
Sau đó Nhật Bản đã tận dụng sự phát triển của khoa học vào sự phát triển kinh
tế như mua bằng sáng chế của nước ngoài, sử dụng chất xám vào phát triển
khoa học kĩ thuật. Chuyển từ phát triển kinh tế chiều rộng sang phát triển kinh
tế chiều sâu.
Mặt khác, sự ganh đua cũng là một kênh khác mà qua đó thương mại có thể
thúc đẩy tăng năng suất trong cả ngành xuất khẩu lẫn thay thế nhập khẩu. Cạnh
tranh và sự cọ xát với các doanh nghiệp nước ngoài lớn cũng sẽ đẩy mạnh việc
mua sắm công nghệ, và do đó dẫn đến những thay đổi công nghệ nhanh hơn. Vì
việc sao chép hay tiếp thu công nghệ dễ dàng hơn việc tự phát minh, nhất là với
điều kiện của Nhật Bản lúc đó thì việc mua các phát minh là lựa chọn tối ưu
nhất.
Nhật Bản có sức thu hút vốn từ bên ngoài và có khả năng cạnh tranh cao,
khả năng len lách vào các thị trường quốc tế. Luôn áp dụng các thành tựu khoa
Hoàng có quyền hết sức rộng rãi; được ra những sắc dụ ngoài các luật do nnghij
viện thông qua. Trong trường hợp không thông qua được ngân sách, Chính phủ
có quyền thông qua ngân sách bằng mức của năm tài khóa trước. Do đó, quyền
thảo luận về ngân sách của nghị viện là rất hạn chế.
Ngày 15-8-1945, Chính phủ Nhật Bản đã chấp nhận tuyên ngôn Posdam,
thông báo cho quốc dân đồng bào về việc Nhật Bản đã đầu hàng đồng minh
gồm có Anh, Mĩ, Xô, Trung…Tuyên ngôn Posdam yêu cầu Nhật Bản cần có
Hiến pháp mới, trong đó quy định dân chủ hóa nền Chính trị đất nước, bảo đảm
nhân quyền cơ bản, thành lập chính phủ mới. Khi đã chấp nhận tuyên ngôn này,
Nhật Bản phải sửa đổi Hiến pháp dưới một hình thức nào đó.Ban đầu, Chính
phủ Nhật có thái độ rất tiêu cực đối với việc sửa đổi Hiến pháp. Nhưng Chính
phủ Nhật Bản buộc phải sửa đổi Hiến pháp vì đã chấp nhậ tuyên ngôn Posdam
và hứa thực hiện dân chủ hóa. Vì vậy, tháng 10 năm 1945, nội các đã lập ra “ ủy
ban điều tra vấn đề Hiến pháp” và bắt tay vào việc soạn thảo nội dung Hiến
pháp . Uỷ ban này đã tiến hành các cuộc thảo luận cho đến đầu năm 1946. Ngày
8-2, ủy ban đã chuyển dự thảo cho Bộ trưởng tư lệnh lien quân. Nhưng bản dự
thảo này còn nhiều nội dung rất bảo thủ, chỉ sửa đổi nhỏ so với Hiến pháp Minh
Trị. Khi đó các chính đảng và tổ chức tư nhân được phục hồi sau chiến tranh đã
đưa ra các dự thảo về đề cương cho việc sửa đổi Hiến pháp.
Sauk hi trao đổi đề cương dự thỏa Hiến pháp cho Chính phủ Nhật Bản, Bộ
tổng tư lệnh liên quân tiến hành các cuộc trao đổi giữa 2 bên. Ngày 6-3, đề
cương đó được công bố làm nhiều người Nhật ngạc nhiên và rất phấn khởi
trước nội dung dân chủ, tiến bộ tự do. Vì vậy nó được tuyệt đại đa số nhân dân
ủng hộ.
Nội dung cơ bản trong Hiến pháp Nhật Bản: Hiến pháp Nhật Bản hiện hành
đã thay đổi một cách căn bản Hiến pháp Minh Trị, xác lập 3 nội dung cơ bản là
: nguyên tắc chủ quyền cho nhân dân, bảo đảm nhân quyền cơ bản và tinh thần
hòa bình.Hiến pháp Nhật Bản đã sửa đổi đoạn nói về chủ quyền thuộc Thiên
Hoàng ;đồng thời bãi bỏ tất cả các quyền chính trị của Thiên Hoàng, nêu rõ
nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân theo nguyên tắc của các Hiến pháp
trưởng thần kì của Nhật. Đó là hiệu quả tác động trực tiếp do các cuộc cải cách
Nhật Bản mang lại. Hàng loạt các biện pháp giải quyết cấp bách sau chiến tranh
như: khuyến khích phát triển các tổ chức dân chủ, cho phép thành lập các công
đoàn, hiệp hội và thực hiện một lọat các biện pháp cứu đói, khuyến khích sản
xuất để tạo nên sức mạnh và tinh thần dân tộc Nhật Bản.
Những thành quả của cuộc cải cách lao động đã tạo nên một mối quan hệ
hợp tác tốt đẹp giữa chủ - thợ trong quá trình lao động. Cải cách giáo dục cũng
tạo nên một thế hệ con người mới sau chiến tranh có trình độ học vấn cao, có tư
tưởng hòa bình và phát triển kinh tế. Các cuộc cải góp phần vào việc xây dựng,
củng cố một nền chính trị ổn định.
2.2.6. Chi phí quốc phòng ít.
Theo Hiến Pháp mới của Nhật Bản được ban hành năm 1946, Nhật Bản
tuyên bố từ bỏ chiến tranh. Quy định từ bỏ chiến tranh được ghi trong Hiến
Pháp đã hạn chế đến mức thấp nhất chi tiêu cho phòng thủ ở Nhật Bản và sử
dụng quốc lực vào mục đích phát triển kinh tế. Trong chiến tranh không chỉ
riêng tiền bạc, nhân tài cũng được tổng động viên vào các binh chủng lục, hải
không quân. Trong thời bình được động viên và các ngành kinh tế. Điều đó
cũng được coi là sự đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế.
Tỉ lệ cho ngân sách phòng thủ trong tổng sản phẩm quốc dân từ 3,3%năm
1950 xuống còn 1% năm 1960. Sau đó, việc có nên duy trì ngân sách phòng thủ
ở mức 1% tổng sản phẩm hay không luôn là vấn đề tranh cãi về chính trị. Cho
đến năm 1988, chi phí cho phòng thủ trên thực tế vẫn duy trì trong khoảng 1%
tổng sản phẩm quốc dân.
Sau chiến tranh thế giới 2 thì Nhật Bản hoàn toàn lệ thuộc vào Mĩ về chính
trị quân sự. Ngày 8-9-1951, Hiệp ước an ninh Nhật- Mĩ được kí kết, đặt nền
tảng mới cho quan hệ Mĩ –Nhật. Theo đó Nhật Bản chấp nhận ô bảo vệ hạt
nhân của Mĩ và để cho Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật.
Hướng phát triển quân đội Nhật Bản chủ yếu tập trung vào giảm số lượng
nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi
hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Tăng cường hợp tác với Mĩ, đồng