LUẬN VĂN:
Vận dụng một số phương pháp thống kê để
phân tích kết quả hoạt động tài chính của
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Nam Trực – Tỉnh Nam Định giai
đoạn 2000 – 2004
lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển kinh tế của một nước. Ngân hàng chính là nơi tích tụ tập trung vốn, khơi dậy và động
viên các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng
vốn cho nền kinh tế.
Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống nguồn lực,
trong đó vốn là một nguồn lực không thể thay thế, vốn bao gồm : Tiền tệ, vật tư, tri thức,
khoa học Trong cơ chế thị trường với các quan hệ được tiền tệ hoá thì tiền tệ trở thành
của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
chương 2: Xác định hệ thống chỉ tiêu và một số phương pháp thống kê để phân tích, đánh
gía kết quả hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại.
chương3: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích kết quả hoạt động tài chính
của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Nam Trực thời kỳ 2000 – 2004 và
dự báo năm 2005. Chương 1
Những vấn đề lý luận chung về vốn
hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại trong nền
kinh tế thị trường.
1. Những lý luận chung :
1.1. kháI niệm ngân hàng thương mại .
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam ( sau đây gọi tắt là Ngân
hàng nông nghiệp ) là Ngân hàng thương mại nhà nước, được thành lập theo Quyết định số
400/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và được thành lập lại theo Quyết
định số 280/QĐ - NH5 ngày 15/10/1996 của thống đốc Ngân hàng nhà nước. Ngân hàng
nông nghiệp thực hiện hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
1.2. chức năng nhiệm vụ cơ bản của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.
1. 2.1. nghiệp vụ tạo vốn.
Đây là nghiệp vụ tạo khởi đầu trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Vốn là cơ
sở để ngân hàng thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài vốn ban
đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thì Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo
tới việc tăng trưởng vốn trong suất quá trình hoạt động của mình. Nghiệp vụ tạo vốn của
ngân hàng thương mại bao gồm: nghiệp vụ tạo vốn tự có, nghiệp vụ tạo vốn qua huy động
vốn, tạo vốn qua đi vay, nghiệp vụ tạo vốn khác.
Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại luôn có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết hữu cơ, là
tiền đề để bổ sung cho nhau. Các Ngân hàng phải thực hiện tốt tất cả các nghiệp vụ hoạt
động từ đó tăng lợi nhuận, cải thiện vị thế góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.3. vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại .
1.3.1. Khái niệm nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn của Ngân hàng là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương
mại tạo lập và huy động được sử dụng cho hoạt động kinh doanh nhằm đạt được các mục
tiêu khác nhau. Biểu hiện của vốn trong kinh doanh của ngân hàng chủ yếu bằng tiền. Vốn
của Ngân hàng cũng có thể thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng hoặc đi vay từ bên ngoài. Vì
vậy ngân hàng có trách nhiệm cả với cổ đông và người gửi tiền. Vốn của ngân hàng khi sử
dụng cho kinh doanh chủ yếu để tài trợ thiếu hụt tạm thời của khách hàng và việc sử dụng
vốn phải đáp ứng yêu cầu lợi nhuận và an toàn.
1.3.2. các nguồn vốn của ngân hàng.
Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: Vốn tự có, vốn huyđộng, vốn đi vay, vốn
khác.
1.3.2.1. Vốn tự có.
Vốn tự có của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tự lập được
thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng. Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của
Ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một Ngân hàng. Nó có tính
chất thường xuyên, ổn định và được coi là tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng,
duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp thua lỗ. Nó còn là một căn cứ
quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của Ngân hàng.
1.3.2.2. Vốn huy động.
Là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá
nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các
nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Vốn huy động là tài sản
thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở
hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi khách hàng
có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh
vốn đầu tư
Bởi vậy, để tiến hành kinh doanh các Ngân hàng cần phải có một lượng vốn nhất định,
bao gồm: vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác. Nhiệm vụ của các Ngân
hàng là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp. Việc thường xuyên tiến
hành phân tích tình hình tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ
ảnh hưởng của từng nhân tố tình hình tài chính của Ngân hàng. Từ đó, có những giải pháp
hữu hiệu nhằm ổn định và tăng cường tình hình tài chính của Ngân hàng.
Trong điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, các
Ngân hàng thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh
doanh. Bởi vậy, nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của của Ngân hàng như :
các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng mỗi đối tượng này quan tâm đến
tình hình tài chính của Ngân hàng trên những góc độ khác nhau. Song, nhìn chung họ đều
quan tâm khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức
lợi nhuộn tối đa. Bởi vậy, phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng phải đạt được các
mục tiêu chủ yếu sau đây:
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích, cần thiết
phục vụ cho chủ các Ngân hàng và các đối tượng quan tâm khác nhau: như các nhà đầu tư,
nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác, giúp họ có quyết định đúng
đắn khi ra quyết định đầu tư, quyết định cho vay.
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin quan trọng nhất cho chủ
Ngân hàng, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính
khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào, ra và tình
hình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của Ngân hàng .
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp các thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các
khoản nợ, kết quả của các quá trình, sự kiện, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và
các khoản nợ của Ngân hàng.
2 .2. nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng.
Để đạt các mục tiêu chủ yếu trên đây, nhiệm vụ cơ bản của phân tích tình hình tài chính
Ngân hàng phải nộp như thuế thu nhập của Ngân hàng phải nộp đúng thời hạn và đủ về số
lượng.
Mối quan hệ kinh tế giữa Ngân hàng với các tổ chức tín dụng, các tổ chức cá nhân và
các đối tượng khác thể hiện ở việc cho vay và đi vay đã đến kỳ thanh toán phải thanh toán
đầy đủ, đúng hạn không để dây dưa kéo dài.
Mối quan hệ kinh tế giữa Ngân hàng với cán bộ công nhân viên, thể hiện ở việc thanh
toán tiền lương và các khoản thu nhập khác. Đến kỳ thanh toán, Ngân hàng phải thanh toán
đầy đủ, đúng thời hạn, không sử dụng các khoản thu nhập của người lao động vào các mục
đích khác, không lành mạnh.
Chương 2
xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê và một số phương pháp thống kê để phân tích kết
quả hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại.
1. khái niệm và các nguyên tắc xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ cho phân
tích đánh giá kết quả hoạt động tài chính.
1.1. khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê.
Khái niệm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp các chỉ tiêu có thể phản ánh các
mặt các tính chất quan trọng nhất các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể, giữa
tổng thể nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan.
Nhiệm vụ: Là lượng hoá các mặt các cơ cấu và các mối liên hệ cơ bản của hiện tượng
nghiên cứu. Hệ thống chỉ tiêu được qua tổng hợp theo những biểu hiện trực tiếp hoặc gián
tiếp hoặc từ những nhóm chỉ tiêu được xây dựng cho nghiên cứu riêng.
1.2. Những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kết quả kinh doanh có ý nghĩa to lớn trong việc lượng hóa
các mặt, các biểu hiện quan trọng nhất, lượng hóa cơ cấu và mối liên hệ cơ bản của hiện
tượng, từ đó tạo tiền đề để nhận thức bản chất cụ thể và tính quy luật về sự phát triển của kết
phản ánh đúng bản chất kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
Ngoài ra hệ thống chỉ tiêu thống kê phải có tính ổn định cao, đồng thời phải có tính linh
hoạt và thường xuyên được hoàn thiện theo sự phát triển của yêu cầu quản lý hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Phải quy định các hình thức thu thập thông tin với
yêu cầu quản lý, phù hợp với điều kiện và trình độ cán bộ làm công tác thống kê ở các Ngân
hàng để có thể tính toán được các chỉ tiêu thống kê trong hệ thống với độ chính xác cao
phục vụ tốt cho yêu cầu công tác quản lý của Ngân hàng.
2.2. Xác định các chỉ tiêu phân tích đanh giá.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh.
2.2.1. Nguồn vốn huy động.
Khái niệm: Là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế
và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh
toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được làm vốn để kinh doanh.
Đặc điểm: Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu. Ngân hàng chỉ có quyền sử
dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến
kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối
với mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
2.2.2. Dư nợ.
Là số tiền mà Ngân hàng hiện đang cho vay tính đến thời điểm cụ thể.
Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay trong kỳ – Doanh số thu nợ trong kỳ.
2.2.3. Thu nhập.
Thu nhập của Ngân hàng gồm thu lãi và các khoản thu khác thu lãi từ các khoản sinh
lời như thu lãi chứng khoán …Thu khác bao gồm các khoản chênh lệch giá …
Thu nhập ròng trước thuế = Thu lãi + Thu khác – chi lãi – chi khác
Thu nhập ròng sau thuế = Thu nhập ròng trước thuế – Thuế thu nhập
Trong đó: Tổng thu từ lãi = Tổng thu từ lãi cho vay + Tổng thu lãi từ các khoản tiền gửi +
Tổng thu lãi từ chứng khoán + Thu lãi cho thuê ( tiền thuê, khấu hao )
Tổng thu lãi trong kỳ =
độ và xu thế biến động của chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị đồng thời còn
vận dụng để dự báo kết quả cho tương lai.
2.3.2. Phương pháp hồi quy tương quan.
Theo quan điểm của triết học các hiện tượng tồn tại mối liên hệ phổ biến ràng buộc lẫn
nhau. Trong mối liên hệ ràng buộc đó xét theo mức độ chặt chẽ của mối liên hệ thì có thể
phân thành hai loại:
Liên hệ chặt chẽ ( hàm số ) đây là mối liên hệ hoàn toàn chặt chẽ giữa tiêu thức nguyên
nhân ( biến độc lập ) ký hiệu là x và tiêu thức kết quả gọi là biến phụ thuộc ký hiệu là y.
Dạng hàm số y =
f
x
Liên hệ tương quan : Đây là mói liên hệ không hoàn toàn chặt chẽ giữa tiêu thức
nguyên nhân x và tiêu thức kết quả y. Nghĩa là mỗi giá trị của tiêu thức nguyên nhân x thì
cho ta nhiều kết quả y gọi là tập hợp ( phân phối )
Nhiệm vụ của nghiên cứu hồi quy tương quan:
Xác định mô hình: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng No&PTNT huyện
NamTrực biến động do nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân khách quan và
nguyên nhân chủ quan.
Mô hình phân tích chỉ tiêu dư nợ:
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dư nợ như vốn huy động, vốn tài trợ uỷ thác, vốn
được chuyển tuỳ theo mục đích nghiên cứu để lựa chon một, hai, ba hoặc bốn nhân tố có ý
nghĩa nhất để tiến hành hồi quy dư nợ theo các yếu tố đó.
Mô hình phân tích chỉ tiêu lợi nhuận:
Các nhân tố ảnh hưởng đáng chú ý nhất đến chỉ tiêu lợi nhuận đó là dư nợ, chi phí …
Ta có mô hình hồi quy lợi nhuận theo các nhân tố đó.
Đặc điểm vận dụng trong phân tích kêt quả hoạt động tài chính của Ngân hàng: Phương
pháp hồi quy tương quan vận dụng để tìm quy luật liên hệ phụ thuộc giữa các nhân tố cấu
thành lên kết quả kinh doanh của Ngân hàng, thông qua các tham số hồi quy và các hệ số
Chương 3.
Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích kết quả hoạt động tài chính của
Ngân hàng No&PTNT huyện Nam Trực thời kỳ 2000 –2004 và dự báo năm 2005.
3.1. Tổng quan về Ngân hàng No&PTNT huyện Nam Trực – Tỉnh Nam Định.
3.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của cơ sở.
Nam Trực là một huyện mới được tái lập từ 01/04/1997 với diện tích11.814 ha, bao
gồm có 20 xã. Tính đến 31tháng 12 năm 2003 dân số trên địa bàn là 204.704 người. Huyện
Nam Trực là một huyện phát triển chủ yếu về nông nghiệp, bên cạnh đó có nhiều làng nghề
truyền thống đã và đang được khơi dậy như sản xuất hàng nhôm dân dụng, dệt nhuộm, cơ
khí
Nam trực gồm có 52.262 hộ gia đình trong đó 90% số hộ là sản xuất nông nghiệp. Trên
địa bàn Nam Trực bao gồm có 11 doanh nghiệp Nhà Nước, 17 doanh nghiệp tư nhân họat
động trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp, dệt, xây dựng và dịch vụ thương mại, 37 hợp tác
xã nông nghiệp, 71trường trung học và tiểu học cơ sở. NamTrực có hệ thống giao thông
thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế địa phương vì vậy kinh tế địa phương phát
triển khá. Tổng sản phẩm trong huyện tăng bình quân hàng năm từ 7- 8%, tổng thu nhập
GDP bình quân đầu người năm 2003 là 2434 triệu đồng. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 29
triệu đồng/ha/năm.
Nghị quyết số 2002 của Bộ chính trị BCH Trung ương Đảng Ngân hàng No&PTNT huyện
Nam Trực đã hướng mạnh hoạt động điều kiện của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trên địa bàn đặc biệt là phục vụ sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và người nông dân,
coi nông dân là người bạn đồng hành của mình trên con đường phát triển . Vì vậy trong thời
gian qua Ngân hàng No&PTNT huyện Nam Trực đã có những đóng góp rất lớn cho sự
nghiệp đổi mới nông thôn của huyện nhà cụ thể kinh tế trong huyện đạt tới mức tăng trưởng
khá. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, sản xuất nông nghiệp phát
triển tương đối toàn diện, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, khoa học công nghệ
mới được áp dụng rộng rãi trong nông nghiệp, các nghề tiểu thủ công ngành nghề, làng nghề
và dich vụ nông thôn đã được phục hồi và phát triển góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông
thôn và phong trào chyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp…Ngân hàng No&PTNT huyện
Nam Trực góp phần phát triển kinh tế xã hội và tăng cường an ninh chính trị nông thôn.
Trong những năm tiếp theo thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trước
hết là công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như nghị quyết Đại hội Đảng
bộ huyện Nam Trực lần thứ XXII đã đề ra. Thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của tỉnh
Nam Định: Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống, xây dựng các khu công nghiệp mới. Ngân hàng No&PTNT huyện Nam Trực
có vai trò cũng như nhiệm vụ nặng nề trong việc huy động vốn để đầu tư tín dụng cho các
dự án phát triển kinh tế trên địa bàn.
3.2. hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện nam trực.
3.2.1. kháI niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam( sau đây gọi tắt là Ngân
hàng nông nghiệp ) là Ngân hàng thương mại nhà nước, được thành lập theo Quyết định số
400/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và được thành lập lại theo Quyết
định số 280/QĐ - NH5 ngày 15/10/1996 của thống đốc Ngân hàng nhà nước. Ngân hàng
nông nghiệp thực hiện hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Tham mưu cho giám đốc xây dưng các biện pháp để thực hiện các chính sách chủ
trương của đơn vị về nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng ( bao gồm các nghiệp vụ tín dụng ngắn
Ban giam đ
ốc
Phòn
g
Kinh
Doan
h
Kiêm
Thốn
g
Phòn
g
Kế
Toán
Ngân
quỹ
Bộ
Phận
Hành
Chín
h
Nhân
Sự
Các
chi
Nhán
h
các tài khoản tiền gửi, tiết kiệm, kỳ phiếu trái phiếu … đến cho bộ phận quản lý khách hàng
để trả cho khách hàng.
Kiểm tra, quản lý các món tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, trái phiếu, kỳ phiếu, trái
phiếu… đến cho bộ phận quản lý khách hàng. Kiểm tra, quản lý các món tiền gửi không kỳ
hạn, có kỳ hạn, trái phiếu, kỳ phiếu đồng ngoại tệ và đồng Việt Nam của chi nhánh tại Ngân
hàng No&PTNT Việt Nam tại các tổ chức tín dụng khác và tại kho bạc nhà nước.
Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, cân đối ( tháng, năm ) theo quy định. Lập báo cáo
gửi Ngân hàng No&PTNT tỉnh Nam Định và các cơ quan quản lý Nhà Nước theo chế độ
hiện hành. Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến chi tiêu nội bộ và các nghiệp vụ khác có
liên quan. Phối hợp với các nghiệp vụ quản lý, giám sát công tác điều chuyển vốn giữa chi
nhánh và Ngân hàng No& PTNT Việt Nam.
Mở tài khoản theo dõi quản lý tài chính, tài sản cố định, công cụ lao động, kiểm tra,
tính toán số thuế phải nộp theo định kỳ. Quản lý thu nhập và chi phí của chi nhánh. Thực
hiện một số nhiệm vụ khác do giám đốc giao.
Bộ phận hành chính nhân sự :
Bộ phận tổ chức cán bộ:
Tham gia cho giám đốc trong việc bố trí điều động bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen
thưởng, kỷ luật, tiếp nhận tuyển dụng cán bộ thuộc diện quản lý của chi nhánh theo quy định
của Ngân hàng nhà Nước và phát triển nông thôn Việt Nam.
Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ hàng năm và theo đó triển khai thực
hiện kế hoạch phát triển cán bộ theo yêu cầu của Ngân hàng nhà Nước và phát triển nông
thôn Việt Nam, Ngân hàng No&PTNT tỉnh Nam Định và uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định.
Hàng năm tiến hành nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ theo quy định của Ngân hàng Nhà
Nước và phát triển nông thôn Việt Nam.Thực hiện chính sách đối với cán bộ công nhân viên
trong cơ quan, lưu giữ, quản lý hồ sơ cán bộ theo chế độ quy định. Thường trực công tác thi
đua khen thưởng của cơ quan. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do giám đốc giao.
Bộ phận hành chính quản trị:
Tham mưu cho giám đốc về những vấn đề chung của công tác hành chính, quản trị,
xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, vật liệu thực hiện hợp đồng về điện nước điện thoại, sửa
Chỉ tiêu
Đơnvị 2000 2001 2002 2003 2004
Vốn huy
động
Triệu
đồng
13740 52328 69318 73934 69700
Dư nợ Triệu 34116 62720 75720 111396 127088
đồng
Tổng thu
nhập
Triệu
đồng
8316 11640 12097 13879 14596
Lợi nhuận
sau thuế
Triệu
đồng
90 99.270 145.578 158.317 204.066
Nhìn vào bảng tổng hợp các chỉ tiêu két quả ta nhận thấy rằng: Các chỉ tiêu kết quả nêu
trong bảng từ năm 2000 – 2004 đều tăng lên và năm sau thường có xu hướng cao hơn năm
trước. Riêng nguồn vốn huy động năm 2004 so với năm 2003 không tăng mà có xu hướng
giảm.
Sự tăng lên của các chỉ tiêu kết quả qua các năm chứng tỏ đơn vị hoạt động kinh doanh
ngày càng có hiệu quả và thích ứng với cơ chế thị trường. Xét về tổng nguồn vốn huy động.
Sự tăng lên của nguồn vốn huy động là nhờ vào sự phát triển mở rộng mạng lưới phục vụ để
thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức dân cư và các đơn vị kinh tế trong địa bàn
Năm 2001so với năm 2000
2
= y
2
– y
1
=52328 – 13740 = 38588 triệu đồng
Năm 2002 so với năm 2001
3
= y
3
– y
2
= 69318 – 52328 = 16990 triệu đồng
Năm 2003 so với năm 2002
4
= y
4
– y
3
= 73934 – 69318 = 4616 triệu đồng
Năm 2004 so với năm 2003
5
= 69318 – 13740 = 55578 triệu đồng
Năm 2003 so với năm 2000
4
= y
4
– y
1
= 73934 – 13740 = 60194 triệu đồng
Năm 2004 so với năm 2000
5
= y
5
– y
1
=69700 – 13740 = 55960 triệu đồng
Lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối trung bình của nguồn vốn huy động.
áp dụng công thức tính lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối trung bình.
=
1
2
n
n