LUẬN VĂN: Vốn kinh doanh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vốn kinh doanh và một số giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9


Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ
phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9

Phần 1
Cơ sở Lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

I. Khái quát về vốn
1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh
doanh đều với mục đích là sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị kinh
tế khác nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng để tiến hành sản xuất kinh doanh thì
cần thiết phải có vốn. Vậy vốn là gì ?
Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về vốn, và mỗi khái niệm đều có những ưu
điểm khác nhau, tuỳ điều kiện, mục đích nghiên cứu mà người ta có thể tiếp cận vốn dưới
giác độ nào.
Theo các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn dưới góc độ hiện vật, “Vốn là yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh” [3] .Đây là cách hiểu phù hợp với trình độ
quản trị còn sơ khai, nó rất đơn giản, dễ hiểu nhưng chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết mặt
tài chính của vốn.
Theo quan điểm của Mác dưới góc độ các yếu tố sản xuất, “Vốn (tư bản) là giá trị
mang lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” [3] . Định nghĩa của
C.Mác có tầm khái quát lớn, tuy nhiên trong bối cảnh lúc đó khi mà nền kinh tế chưa phát
triển, C.Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Và tiền chỉ được gọi là vốn khi nó được dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp với mục đích là lợi nhuận. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản trị và
sử dụng vốn, nhưng quan điểm này lại mang tính trừu tượng, do đó hạn chế về ý nghĩa

những điều kiện lịch sử cụ thể với những yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Nhưng mặt
khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên góc độ hạch toán và quản trị, các quan
điểm đó còn gây khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị vốn hiệu quả.

Trong điều kiện tồn tại một nền sản xuất hàng hoá -tiền tệ, khái niệm về vốn sản xuất
kinh doanh phải thể hiện những vấn đề sau:
- Nguồn gốc sâu xa của vốn sản xuất kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc
dân được tái đầu tư (khác vốn đất đai, vốn nhân lực).
- Trạng thái vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản
cố định, tài sản dự trữ ) và tài sản tài chính (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các chứng khoán,
tín phiếu…) là cơ sở để ra biện pháp quản trị vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
một cách hiệu quả.
- Mối quan hệ mật thiết giữa vốn và các nhân tố khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp (đất đai, lao động). Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải sử dụng tiết
kiệm, hợp lý và hiệu quả vốn.
- Mục đích của quá trình đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận. Vấn đề
này sẽ định hướng cho quá trình quản trị kinh doanh nói chung và quản trị vốn nói riêng.
Từ những quan điểm trên, có thể định nghĩa: “Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới
dạng tài sản vật chất hay tài sản tài chính được các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp bỏ ra,
đầu tư phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận” – [11] .
2. Đặc trưng của vốn:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao động
đội tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các
yếu tố đó để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định ban đầu để xây
dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, thuê lao động hay mua sắm nguyên vật liệu,
…Có vốn tiền tệ, doanh nghiệp mới tiến hành sản xuất kinh doanh. Sau khi tiêu thụ sản phẩm,
doanh nghiệp dành một phần thu nhập của mình để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra như tài
sản cố định đã bị hao mòn, chi phí vật tư, tiền lương, tiền công … và một phần để tạo lập quỹ
dự trữ cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.

sản xuất kinh doanh được thể hiện ở sơ đồ sau:
TLSX
T - H SX - H - T

SLĐ
Sự vận động của vốn trong doanh nghiệp thương mại có thể chỉ là: T-H- T’ và trong
doanh nghiệp ngân hàng là: T - T’.
Qua sơ đồ ta thấy: quá trình vận động của vốn trải qua ba giai đoạn chủ yếu sau đây:
- Giai đoạn một: vốn hoạt động trong phạm vi lưu thông, lúc đầu là vốn tiền tệ (T)
tích luỹ được đem ra thị trường (đó là thị trường các yếu tố đầu vào) mua hàng hoá bao
gồm tư liệu sản xuất và sức lao động. Trong giai đoạn này vốn thay đổi từ hình thái vốn
tiền tệ sang vốn sản xuất.
TLSX
T - H
SLĐ
- Giai đoạn hai: Vốn rời khỏi lĩnh vực lưu thông bước vào hoạt động trong khâu sản xuất.
ở đây các yếu tố sản xuất hay còn gọi là các yếu tố hàng hoá dịch vụ được sản xuất ra trong đó
có phần giá trị mới (do giá trị sức lao động con người tạo ra).
TLSX
- H’
SLĐ
- Giai đoạn ba: Sau giai đoạn sản xuất tạo ra H’ thì vốn lại trở lại hoạt động trên lĩnh
vực lưu thông dưới hình thái hàng hoá. Kết thúc giai đoạn này (hàng hoá được tiêu thụ) thì
vốn dưới hình thái hàng hoá chuyển thành hình thái vốn tiền tệ ban đầu nhưng về mặt số
lượng có thể là khác nhau.
H’
_______________
T’ (T’  T)
Từ sự phân tích sự vận động của vốn thông qua “vòng tuần hoàn vốn” ta thấy rằng: tiền
có khả năng chuyển hoá thành vốn chỉ khi tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh

Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi
mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu
nhập cho người lao động, đóng góp cho xã hội Như vậy:

+ Vốn sản xuất kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Vốn sản xuất kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh
nghiệp với doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư.
+ Vốn sản xuất kinh doanh cho phép khả năng lựa chọn của doanh nghiệp trong sự
phân tích nhu cầu thị trường là: quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản
xuất cho ai? sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
- Về mặt pháp lý:
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có
một lượng vốn nhất định. Đối với một số ngành, lĩnh vực thì lượng vốn đó tối thiểu phải
bằng lượng vốn pháp định (do Nhà nước quy định). Nếu không, doanh nghiệp sẽ không
được thành lập. Và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lượng vốn doanh
nghiệp không đạt điều kiện Nhà nước quy định thì doanh nghiệp sẽ tự tuyên bố chấm dứt
hoạt động như phá sản, sát nhập với doanh nghiệp khác. Như vậy, với một số ngành, vốn
có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách
pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn, các doanh nghiệp nhất thiết phải tìm mọi
cách huy động, bảo toàn và phát triển vốn bằng cách sử dụng tiết kiệm, hợp lý vốn tức là
phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
4. Phân loại vốn :
Do trong quá trình vận động, vốn biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau nên cũng
có nhiều cách phân loại vốn khác nhau:
4.1. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn.
4.1.1. Vốn chủ sở hữu.
Là số vốn góp của các chủ sở hữu, của các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không
phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải chịu lãi

Kết cấu hợp lý của hai nguồn vốn này tuỳ thuộc đặc điểm ngành doanh nghiệp đang hoạt

động, quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp trên cở sở xem xét tình hình tài chính của
doanh nghiệp và tình hình chung của nền kinh tế đất nước.
4.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn.
4.2.1. Nguồn vốn thường xuyên.
Đây là nguồn vốn mang tính chất ổn định, lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng để
đầu tư vào TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn.
4.2.2. Nguồn vốn tạm thời.
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (sử dụng trong thời gian dưới một năm) để
đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay, nợ ngắn hạn và các
khoản chiếm dụng của doanh nghiệp với các bạn hàng.
Với cách phân loại này còn giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp lập các kế hoạch tài
chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác
định quy mô vốn cần thiết, lựa chọn nguồn cung ứng và quy mô vốn thích hợp cho từng
nguồn vốn đó, khai thác nguồn tài chính tiềm năng, tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

4.3. Căn cứ vào vai trò, đặc điểm chu chuyển cuả vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
4.3.1. Vốn cố định.
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về TSCĐ, mà đặc
điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một
vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
Quy mô của VCĐ quyết định quy mô của TSCĐ nhưng các đặc điểm của TSCĐ lại
ảnh hưởng tới sự vận động và công tác quản trị VCĐ. Vì vậy, muốn quản trị VCĐ hiệu
quả thì phải quản trị, sử dụng hiệu quả TSCĐ. Từ mối quan hệ này, ta có thể khái quát
những nét đặc thù của VCĐ như sau:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh do TSCĐ có thể phát huy

- Căn cứ vào hình thái biểu hiện :
+ TSCĐ hữu hình: Là TSCĐ có hình thái vật chất.
+ TSCĐ vô hình: là TSCĐ không có hình thái vật chất.
- Căn cứ theo tình hình sử dụng:
+ TSCĐ đang sử dụng.
+ TSCĐ chưa sử dụng.
+ TSCĐ không cần dùng.
+ TSCĐ chờ thanh lý.
- Căn cứ theo công dụng kinh tế:
+ TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh.
+ TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh :
- Căn cứ theo quyền sở hữu:
+ TSCĐ doanh nghiệp tự có.
+ TSCĐ doanh nghiệp thuê ngoài
+ TSCĐ doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác.

4.3.2. Vốn lưu động
VLĐ của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ và vốn lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên
tục.
Khác với VCĐ, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ được luân chuyển không ngừng qua ba giai
đoạn: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ. VLĐ chu chuyển nhanh hơn VCĐ. Trong mỗi giai đoạn
đó VLĐ được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay
hình thái giá trị.
Có thể thấy rằng VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất. Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn
và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn. Để quản trị VLĐ tốt, cần
nghiên cứu kết cấu và phân loại VLĐ.
 Cơ cấu vốn lưu động

phẩm hàng hoá thì VCĐ là phương thức để dịch chuyển VLĐ thành sản phẩm hàng hoá. Mặt
khác nếu như VLĐ được kết chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm hàng hoá và thu hồi
được ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá còn VCĐ tham gia nhiều vào quá
trình sản xuất kinh doanh và kết chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức khấu
hao.
4.4. Căn cứ vào phạm vi nguồn hình thành vốn
4.4.1. Nguồn vốn do doanh nghiệp tự cung ứng
 Khấu hao tài sản cố định
Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như
ý muốn chủ quan của con người. Đối với doanh nghiệp nhà nước trong chừng mực nhất định phải
phụ thuộc ý đồ của Nhà nước, các doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và
phương pháp tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính của mình, doanh nghiệp có thể lựa

chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là một nguồn cung ứng vốn bên trong của
mình.
 Tích luỹ tái đầu tư
Nguồn này phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể và tổng số lợi nhuận thu được trong từng
thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Đối với
doanh nghiệp nhà nước toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ phải sử dụng cho các khoản.
+ Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
+ Trả các khoản phải quy định
+ Lập các quỹ đặc biệt
 Điều chỉnh cơ cấu tài sản
Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất - kinh doanh nhưng lại có
tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở
những nơi không cần thiết.
4.4.2. Nguồn vốn do bên ngoài cung ứng
 Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu
Là hình thức do doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng
khoán. Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính toán và phát hành

 Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp:
Trong hoạt động kinh doanh, quan hệ mua bán trao đổi giữa các doanh nghiệp thông
thường không kết thúc tại một điểm, tức là xuất hiện sự chênh lệch về mặt thời gian giữa
dòng tài chính và dòng vật chất. Thực chất luôn diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp
nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu tiền doanh nghiệp chiếm dụng
của khách hàng nhiều hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dôi ra sẽ mang
bản chất tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp. Ngoài tín dụng thương mại còn
gồm cả khoản đặt cọc trước của khách hàng.

Đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn quan trọng (thường phải thanh toán trong
vòng 30-90 ngày) đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đang
trong thời kỳ tăng trưởng.
 Tín dụng thuê mua
Trong cơ chế thị trường hình thức này được thực hiện giữa một doanh nghiệp có cầu
sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá
phổ biến. Hình thức này có ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng
mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc, thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề
thuê mua. Doanh nghiệp không chỉ được nhận máy móc thiết bị mà còn được nhận tư vấn đào
tạo. Tuy nhiên cũng có những hạn chế như: chi phí kinh doanh cho việc sử dụng máy móc
thiết bị cao và hợp đồng tương đối phức tạp.
 Vốn liên doanh, liên kết
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một hoặc một số doanh
nghiệp khác nhằm tạo vốn cho hoạt động liên doanh nào đó.
- Ưu điểm: với hình thức này doanh nghiệp sẽ có một lượng vốn cần thiết cho một
hoặc một số hoạt động nào đó mà không tăng nợ.
- Nhược điểm: các bên liên doanh cùng tham gia liên doanh và cùng chia sẽ lợi nhuận
thu được.
 Nguồn vốn ODA
Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này là các chương
trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác. Hình

định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Vì vậy có thể mô tả bằng công thức:
+ Hiệu quả kinh doanh : H =K/C
Trong đó : K: là kết quả đạt được
C: hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả.
Như vậy, Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá
trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào qui mô, tốc độ biến động của từng
nhân tố. – [8]
Hiệu quả kinh doanh cũng là một phạm trù phức tạp, và khó xác định tính toán bởi cả
phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể đều khó xác định một
cách chính xác.
Từ các vấn đề trên suy ra : ‘Hiệu quả sử dụng vốn là một bộ phận của hiệu quả
kinh doanh, nó phản ánh trình độ lợi dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục
tiêu xác định. Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả thu

được với số vốn bình quân đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định ‘.[11]
Và hai loại chỉ tiêu trên được xem xét với yếu tố đầu vào là vốn cố định và vốn lưu
động.
2. Bản chất hiệu quả sử dụng vốn
Để hiểu rõ bản chất của hiệu qủa kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói
riêng, cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và hiệu quả sử dụng vốn.
Kết quả sử dụng vốn bao giờ cũng là mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới, có thể biểu
hiện bằng đơn vị hiện vật cụ thể như m, lít, kg,…hay đơn vị giá trị như triệu đồng, ngoại
tệ,… Kết quả sử dụng vốn cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất
kinh doanh hoàn toàn định tính của doanh nghiệp như uy tín, danh tiếng, chất lượng sản
phẩm…Nhưng không chỉ có kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kỳ kinh
doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản

Kết quả là mục tiêu còn hiệu quả sử dụng vốn là phuơng tiện để doanh nghiệp đạt mục tiêu
đó trong một thời kỳ nhất định.
3. Mục đích Phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích thông tin giúp các
nhà quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn, kịp thời.
- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý
- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn đề sử dụng vốn.
- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả cụ thể đến từng bộ phận và xem xét,
phát hiện ra những nguyên nhân để tìm ra những biện pháp khắc phục.
Tuy nhiên để công việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn là đúng, xác thực và phát huy
được những mục đích trên thì cần quán triệt một số nhiệm vụ sau:
- Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ nguồn như báo cáo về tình hình sử dụng
vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng ngành, tài liệu thống kê các vấn đề có liên quan
của ngành.
- Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp.

- Sử dụng các phương pháp đánh giá kết hợp với các chỉ tiêu đã xây dựng.
- Lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thích hợp
- Cung cấp thông tin đánh giá đến cán bộ quản trị doanh nghiệp .
4. Các chỉ tiêu đánh giá và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
4.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
 Hệ số doanh lợi của tổng vốn = (lợi nhuận thuần + lãi trả vốn vay)/tổng tài sản
- ý nghĩa: hệ số doanh lợi của vốn cho biết cứ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh
doanh thì doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần (gồm cả lãi trả vốn
vay). Chỉ tiêu này càng cao thì có thể khẳng định hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp
càng cao. Nhưng, nếu lãi trả vốn vay là quá lớn thì cũng cần xem xét lại bởi thực chất, lãi trả
vốn vay cũng là chi phí kinh doanh.
 Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh = doanh thu/ tổng tài sản
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết, tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp quay được
bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn càng

- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thuần, doanh
nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này
càng thấp, chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VLĐ, do đó hiệu quả sử dụng VLĐ
càng cao.
 Số ngày bình quân của một vòng luân chuyển VLĐ = 365/ số vòng quay của VLĐ
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để VLĐ quay được một vòng
quay. Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ VLĐ càng quay vòng nhanh và hiệu quả sử dụng
VLĐ càng cao.
 Hiệu suất sử dụng VLĐ = lợi nhuận thuần / VLĐ bình quân
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết cứ đầu tư một đồng VLĐ vào sản xuất kinh doanh
thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả
sử dụng VLĐ càng cao.
4.4. Tiêu chuẩn hiệu quả
Từ công thức xác định hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng nói riêng,
ta có thể xác lập được một dãy các giá trị có thể có của kết quả/chi phí kinh doanh. Nếu xét
các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh cụ thể thì với mỗi chỉ tiêu cũng đều xác lập được một dãy
các giá trị có thể. Vấn đề được đặt ra là liệu mọi giá trị đó đều phản ánh có hiệu quả ở mức
độ khác nhau hay trong dãy các giá trị đó thì giá trị nào thì có hiệu quả ? Rõ ràng, trong
dãy giá trị có thể của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh sự có hiệu quả.
Trường hợp doanh nghiệp bị lỗ vốn chỉ tiêu lợi nhuận/vốn âm thì rõ ràng là doanh nghiệp

Trích đoạn Nguyờn nhõn của những tồn tại trong việc sử dụng vốn tại doanh nghiệp: Định hướng phỏt triển của Cụng ty trong thời gian tới Một số giải phỏp nhằm nõng cao khả năng huy động vốn Cải thiện cụng tỏc tớnh khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao Một số giải phỏp nhằm nõng cao hiệu quả sử dụng vlđ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status