LUẬN VĂN:
Vốn cố định và một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở hãng hàng
không quốc gia Việt Nam Lời nói đầu
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có thể
thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một số vốn nhất định. Dựa
trên số vốn đó các doanh nghiệp luôn muốn tiến hành hoạt động sao cho hiệu quả nhất
với chi phí thấp. Vì vậy, vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp là phải tìm ra cách thức
sử dụng vốn đúng đắn nhằm phát huy được mọi tiềm lực bên trong và bên ngoài của
hàng không quốc gia Việt Nam.
Chương III: Các giải pháp quản lý, nâng cao hiêu quả sử dụng vốn cố định tại
Hãng hàng không quốc gia Việt Nam.
Chương I:
Những vấn đề cơ bản về vốn cố định và hiệu quả
sử dụng vốn cố định trong các doanh nghiệp
1. Vốn cố định của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm vốn cố định của doanh nghiệp thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chính của doanh nghiệp thương mại là
kinh doanh lưu chuyển hàng hoá. Tuy nhiên, ngoài hoạt động kinh doanh thương mại,
doanh nghiệp thương mại còn có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh
vực khác mà pháp luật không cấm như sản xuất, xây dựng, vận tải, khách sạn, du lịch,…
nhằm đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động và nâng cao hiệu quả tổng vốn.
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thương mại phải có
được các yếu tố cần thiết như kho tàng, cửa hàng, văn phòng, máy móc thiết bị phương
tiện vận tải, tiền mặt… Dưới góc độ hiện vật, các yếu tố này được gọi là những tài sản.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại phải sử dụng một
lượng vốn nhất định và thôgn qua các phương thức nhất định như đầu tư xây dựng, mua
sắm, thuê mướn để hình thành các yếu tố tài sản cần thiết kể trên. Đồng thời các doanh
nghiệp thương mại phải thường xuyên duy trì một lượng vốn nhất định để đảm bảo quy
mô tài sản thích hợp phục vụ cho kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, có thể nói rằng
vốn là điều kiện vật chất tiền đề không thể thiếu được để tiến hành mọi hoạt động kinh
doanh.
Với lượng vốn cần thiết ban đầu, các doanh nghiệp thương mại sử dụng để hình
thành nên các loại tài sản thích hợp bao gồm các tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi giá
trị mang tính ngắn hạn và những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi giá trị mang tính
dài hạn. Bộ phận vốn của doanh nghiệp được dùng để hình thành nên những tài sản có
thời gian sử dụng, thu hồi giá trị mang tính dài hạn được gọi là vốn cố định của doanh
nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh. Nói cách khác, đây là bộ phận tài sản quan trọng
biểu hienẹ quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp. Trong các doanh
nghiệp thương mại, các TSCĐ chủ yếu là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho kinh
doanh lưu chuyển hàng hoá như hệ thống cửa hàng, kho tàng, máy móc thiết bị, phương
tiện vận tải…
Thông thường một tài sản được coi là TSCĐ nếu thoả mãn đồng thời ba điều
kiện:
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp với tư cách là tư liệu lao động.
- Có thời gian sử dụng dài, thường từ một năm trở lên.
- Có giá trị lớn đạt đến một giá trị nhất định. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào quy
định của từng quốc gia trong từng thời kỳ.
Những tài sản không hội đủ các tiêu chuẩn kể trên được coi là những tài sản lưu
động của doanh nghiệp, bao gồm những tài sản là đối tượng lao động đối với quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những tư liệu lao động có giá trị nhỏ hoặc thời
gian sử dụng ngắn. Việc nhận biết và phân biệt TSCĐ và tài sản lưu động của doanh
nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác nghiên cứu mà còn giúp cho
doanh nghiệp có thể quản lý, sử dụng tài sản một cách tốt nhất. Trong thực tế, việc nhận
biết TSCĐ dựa trên những tiêu chuẩn kể trên có thể gặp những khó khăn sau đây:
Một là, việc phân biệt giữa đối tượng lao động với những tư liệu lao động là
TSCĐ của doanh nghiệp trong một số trường hợp nếu chỉ đơn thuần dựa vào đặc tính
hiện vật thì có thể dẫn đến ngộ nhận về TSCĐ. Bởi vì có thể xảy ra cùng một TSCĐ ở
trường hợp này được coi là TSCĐ nhưng ở trường hợp khác chỉ được coi là tài sản lưu
động. Chẳng hạn, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng… nếu được sử dụng
để phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì coi là TSCĐ,
song nếu các tài sản này là các sản phẩm mới hoàn thành quá trình sản xuất của doanh
nghiệp đang được bảo quản, chờ tiêu thụ hoặc là các công trình xây dựng cơ bản chưa
bàn giao, thì đó chỉ coi là đối tượng lao động thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Do đó, để nhận biết chính xác tài sản cố định trong các doanh nghiệp, ngoài đặc tính
đơn giản tất yếu. Song trên thực tế ở nước ta, đã có một thời tính hàng hoá của TSCĐ bị
xem nhẹ, TSCĐ được coi là một "hàng hoá đặc biệt" hàng hoá trên danh nghĩa, vì thế nó
chỉ được phân phối cung cấp trong nội bộ khu vực kinh tế quốc doanh mà không được
mua bán, trao đổi rộng rãi trên thị trường, điều này đã đưa đến hậu quả kìm hãm sức sản
xuất xã hội nói chung, trong lĩnh vực kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế hàng hoá, xây dựng hoặc lắp đặt những tư liệu lao động được
coi là vốn cố định của doanh nghiệp, khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ bản của
TSCĐ - những tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó mặt dầu TSCĐ bị hao mòn, hư
hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì khi đó chúng mới được
thay thế đổi mới.
Việc quản lý vốn cố định và TSCĐ trên thực tế là một công việc phức tạp. Để
giảm nhẹ khối lượng quản lý, về tài chính kế toán người ta có những quy định thống
nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng của một TSCĐ. Thông thường
một tư liệu lao động phải được đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn dưới đây thì được coi
là TSCĐ.
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu (thường là 1 năm trở lên)
- Phải có giá trị tối thiểu đến một mức quy định (hiện nay quy định là có giá trị từ
10 triệu đồng Việt Nam).
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì tư liệu lao động được coi là công cụ lao
động và do nguồn vốn lưu động tài trợ.
Tuy nhiên do yêu cầu của công tác quản lý trong một số trường hợp đặc biệt dù
giá trị đơn vị và thời gain sử dụng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được coi là TSCĐ
như tổ hợp các đồ dùng trong phòng làm việc, phòng họp, phòng khách, khách sạn…
Mặt khác trong doanh nghiệp có một số khoản chi đầu tư cho sản xuất kinh
doanh về tính chất luân chuyển giá trị cũng tương tự như TSCĐ vì vậy được coi là các
TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình) như các khoản chi phí thành lập
doanh nghiệp, chi phí mua bằng phát minh sáng chế…
hữu hình độc lập. Chẳng hạn như ghế ngồi, khung và động cơ… trong một máy bay.
+ TSCĐ vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lượng giá trị lớn đã đầu tư có liên quan và phát huy tác dụng trong nhiều kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua
bằng phát minh sáng chế… Theo chế độ tài chính doanh nghiệp hiện hành, các khoản
chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau thì
được coi là TSCĐ vô hình:
- Có thời gian sử dụng hay phát huy tác dụng tối thiểu là một năm.
- Có giá trị tối thiểu là 10.000.000đồng.
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức kể trên sẽ giúp doanh nghiệp thấy được cơ
cấu vốn đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đưa ra các quyết định
đầu tư, sử dụng TSCĐ hay điều chỉnh cơ cấu này sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất.
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:
Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành ba loại sau:
+ TSCĐ sử dụng cho mục đích kinh doanh: Đây là các tài sản do doanh nghiệp
sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhưng nhằm mục đích kinh doanh. Chẳng hạn như
kho tàng, cửa hàng, nhà xưởng, máy móc thiết bị dùng cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh.
+ TSCĐ sử dụng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng. Đây là
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, an
ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp. Chẳng hạn như nhà ăn tập thể, nhà ở tập thể, câu
lạc bộ, trạm y tế, phòng học,… được coi là những TSCĐ phúc lợi, sự nghiệp.
+ TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ: Là những tài sản không thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có trách nhiệm bảo quản, giữ hộ cho Nhà nước hay
cho doanh nghiệp khác.
Phân loại theo sử dụng sẽ giúp cho người quản lý thấy rõ kết cấu tài sản, nắm
được trình độ trang thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc
quản lý tài sản và tính khấu hap chính xác. Tuy nhiên phương pháp phân loại này chưa
+ TSCĐ cho thuê.
+ TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ của doanh nghiệp cần thiết cho các
hoạt động của doanh nghiệp song hiện tại chưa được đưa ra sử dụng, đang trong quá
trình dự trữ, cất trữ để sử dụng sau này.
+ TSCĐ không cần dùng chờ nhượng bán, thanh lý: Là những TSCĐ không cần
thiết hay không phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp hoặc đã hư hỏng cần được
nhượng bán, thanh lý để giải phóng mặt bằng, thu hồi vốn đầu tư.
Cách phân loại này cho thấy tình hình khai thác sử dụng TSCĐ của doanh
nghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
* Phân loại TSCĐ căn cứ vào quyền sở hữu.
Tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: Là các loại TSCĐ được đầu tư
bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụng chúng.
Các TSCĐ này được đăng ký đứng tên doanh nghiệp.
+ TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: là những TSCĐ của đơn
vị khác nhưng doanh nghiệp được quyền quản lý, sử dụng theo những điều kiện ràng
buộc nhất định. Thuộc nhóm TSCĐ này bao gồm ba loại: TSCĐ nhận của đối tác liên
doanh, TSCĐ thuê ngoài và TSCĐ nhận giữ hộ, quản lý hộ.
TSCĐ nhận của đỗi tác liên doanh sẽ được doanh nghiệp quản lý và sử dụng theo
đúng hợp đồng liên doanh đã ký kết và khi kết thúc hợp đồng, việc xử lý tài sản này
cũng sẽ được tiến hành theo hợp đồng hay theo thoả thuận giữa các bên.
TSCĐ thuê ngoài được hình thành theo hai phương thức: thuê tài chính và thuê
hoạt động:
Thuê tài chính là hình thức thuê tài sản khi hợp đồng thuê thoả mãn một trong
bốn điều kiện sau:
- Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng, tài sản thuê sẽ được chuyển quyền sở
hữu cho bên đi thuê hoặc bên đi thuê được tiếp tục thuê theo thoả thuận của hai bên.
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên đi thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản với
Đối với các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu
vốn. Trình độ quản lý vốn cố định ảnh hưởng rất lớn đến kết quản sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Do vậy, việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của
công tác tài chính doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là làm thế nào để
vốn cố định đạt hiệu quả cao nhất trong suốt quá trình tham gia vào sản xuất và mang lại
lợi nhuận tối đa.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá
trình đầu tư, khai thác sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định đã sử dụng
để đạt được kết quả đó. Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá lao vụ sản xuất ra
trên 100 đồng vốn cố định tham gia vào sản xuất, hay mức vốn cố định cần tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh để đặt một lượng giá trị sản phẩm hàng hoá lao vụ dịch
vụ.
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định phải được hiểu cả trên
hai khía cạnh:
+ Với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất
lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng
doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng
của vốn. Để kiểm tra đánh giá tính hiệu quả vốn sử dụng vốn cố định của một doanh
nghiệp, người ta thường dùng một hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp các chỉ tiêu phân tích.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn cố định:
1.2.1. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn
(1) Hệ số phục vụ vốn cố định
Hệ số phục vụ
VCĐ
=
Doanh thu thực hiện trong kỳ
VCĐ bình quân trong kỳ
Trong đó:
Nếu số liệu vốn cố định được cung cấp vào cuối các quý:
+
Các khoản đầu tư dài
hạn và chi phí XDCB
đầu (cuối kỳ)
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu thực hiện trong kỳ.
(2) Hàm lượng VCĐ: Là đại lượng nghịch đảo của hệ phục vụ vốn cố định.
Hàm
lượng
VCĐ
=
VCĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thực hiện trong kỳ
- ý nghĩa: Để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệp phải sử dụng
bao nhiêu đồng vốn cố định.
(3) Hệ số sinh lời của vốn cố định (tỷ lệ lợi nhuận vốn cố định)
- ý nghĩa: Trong kỳ một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
(4) Hệ số phục vụ bộ phận vốn cố định đầu tư cho tài sản cố định
Hệ số phục vụ của bộ phận
VCĐ đầu tư TSCĐ
=
Doanh thu thực hiện trong kỳ
VCĐ đầu tư TSCĐ bình quân trong
kỳ
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ một đồng vốn cố định đầu tư cho tài sản
định và được biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh đạt đựoc trong kỳ
với chi phí đầu tư để có được tài sản cố định trong kỳ. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử
dụng tài sản cố định bao gồm:
(2.1) Hệ số sử dụng tài sản cố định
Hệ số sử dụng
TSCĐ
=
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân đang sử dụng trong
kỳ
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân hiện có trong kỳ
- ý nghĩa: Trong một đồng nguyên giá tài sản cố định hiện có trong doanh nghiệp
thì bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định được sử dụng. Do đó chỉ tiêu này phản
ánh tỷ lệ huy động các tài sản cố định vào sử dụng kinh doanh. Tỷ lệ này càng cao thì
khả năng khai thác tài sản cố định vào sử dụng càng triệt để hay doanh nghiệp đầu tư
mua sắm hợp lý.
(2.2) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hệ số sử dụng
TSCĐ
=
Tổng công suất sử dụng thực tế bình quân trong kỳcủa
TSCĐ
Tổng công suất thiết kế bình quân trong kỳ của TSCĐ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tận dụng công suất thiết kế của các tài sản cố
định đang sử dụng.
(2.3) Hệ số phục vụ tài sản cố định trong doanh nghiệp
Hệ số phục vụ
TSCĐ
- ý nghĩa: Trong kỳ một đồng chi phí sử dụng tài sản cố định tham gia tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận doanh nghiệp.
2. Sự cần thiết phải thực hiện việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
trong các doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay là rất cần thiết. Nó quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ những lý
do chủ yếu sau:
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là đảm bảo với số vốn hiện có tham gia
vào sản xuất, thông qua sự tác động của các biện pháp tổ chức và quản lý thích hợp,
khai thác một cách triệt để khả năng vốn có của nó để nhanh chóng thu được lợi nhuận.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có ý nghĩa thúc đẩy vòng quay của vốn và đẩy
nhanh nhịp độ đổi mới tài sản cố định theo kịp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật,
mở rộng sản xuất mà không cần phải bỏ thêm vốn đầu tư xây dựng mới tài sản cố định,
vừa tiết kiệm được sản xuất, vừa làm hạ giá thành sản phẩm, từ đó lợi nhuận của doanh
nghiệp sẽ tăng lên.
Xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp:
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu cần phải đạt được của bất kỳ một doanh nghiệp
nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối
cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả
kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp vì doanh nghiệp có tồn tại và phát triển
được hay không đều quyết là doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuận hay không. Việc thực
hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là một điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính cuả
doanh nghiệp được vững chắc. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp cần phải tăng
cường công tác tổ chức quản lý sản xuất, tổ chức thực hiện việc quản lý và sử dụng có
hiệu quả vốn nói chung và vốn cố định nói riêng, từ đó mới có thể đạt được lợi nhuận
như mong đợi.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
trọng ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
* Thị trường và cạnh tranh: Trong điều kiện hiện nay, vấn đề đặt ra cho các
doanh nghiệp là phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng
nhu cầu của thị trường mà điều này chỉ xảy ra khi doanh nghiệp tích cực nâng cao hàm
lượng công nghệ kỹ thuật của TSCĐ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một kế
hoạch quản lý và tổ chức tốt hiệu quả sử dụng vốn cố định (TSCĐ) nhằm đạt được mục
tiêu trên.
* Các nhân tố khác: Các nhân tố này có thể coi là nhân tố bất khả kháng như
thiên tai, dịch hoạ… cũng có tác động trực tiếp lên công tác quản lý và sử dụng vốn cố
định của doanh nghiệp. Mức độ tổn thất về lâu dài hay tức thời là hoàn toàn không thể
biết trước, chỉ có thể dự phòng trước nhằm giảm nhẹ thiên tai mà thôi.
1.2. Các nhân tố chủ quan.
* Nhân tố con người: Người lao động có trình độ tay nghề cao, ý thức trách
nhiệm công việc tốt thì nó sẽ thúc đẩy sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu
thị trường. Hay nói cách khác là đạt được năng suất lao động cao, tiết kiệm thời gian,
vật liệu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Người lãnh đạo phải có năng lực trình độ, bao quát được hết công việc, sử dụng
được hết khả nưng, năng lực của công nhân cũng như trong sản xuất kinh doanh phải có
đầu óc tinh tường năng động mới đáp ứng được nhanh chóng với những biến động của
thị trường.
* Nguyên vật liệu hàng hoá: Nguyên vật liệu hàng hoá là yếu tố quan trọng để
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu số lượng nhiều thì
quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lá lớn và ngược lại, chất lượng của nó
ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá bán ra, cơ cấu chủng loại nguyên liệu hàng hoá sẽ
tác động đến chủng loại sản phẩm… tất cả những yếu tố đó có tác động tới mức lưu
chuyển vốn nên nó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như vốn kinh
doanh. Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cũng phải biết dự trữ
nguyên liệu hàng hoá sao cho hợp lý vì nếu dự trữ quá nhiều sẽ gây nên ứ đọng vốn còn
nếu ít quá thì đang sản xuất sẽ bị gián đoạn ngưng trệ để chờ cung ứng thêm.
phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay ngắn hạn, dài hạn của các tổ chức kinh tế như tín
dụng, ngân hàng… Trong quá trình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, việc bổ sung vốn
cố định bằng quỹ của doanh nghiệp còn hạn chế và việc huy động vốn góp liên doanh
cũng trở nên khó khăn hơn, điều này dẫn đến nguồn vốn cố định của doanh nghiệp chủ
yếu là do nguồn ngân sách cấp. Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp này phải
trích khấu hao những TSCĐ thuộc nguồn vốn ngân sách cấp để trả lại cho Nhà nước do
đó không tránh khỏi tình trạng trích khấu hai nhỏ giọt, hơn nữa vốn cố định có vòng
quay ra chậm, đối với máy móc thiết bị trung bình từ 15 đến 20năm nên dẫn đến tình
trạng các doanh nghiệp ít quan tâm đến hiệu quả đầu tư vốn cố định, làm cho tình trạng
TSCĐ được trang bị một cách chắp vá, không đồng bộ và theo một cơ cấu bất hợp lý,
việc quản lý và sử dụng TSCĐ còn nhiều thiếu xót, việc phân loại và tính toán còn chưa
hợp lý, chưa quan tâm đầu tư đúng hướng TSCĐ, việc phân cấp TSCĐ cho từng bộ
phận, cá nhân còn chưa chặt chẽ, việc sử dụng, sửa chữa và mua sắm TSCĐ chưa đúng
quy chế, chế độ bảo dưỡng. Việc lập kế hoạch, trích khấu hao không hợp lý nên không
tránh khỏi hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Bên cạnh đó, tinh thần làm chủ và ý
thức tự giác của người lao động ở nước ta còn thấp nên hiệu quả sử dụng vốn cố định ở
các doanh nghiệp còn thấp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và qua thực tế công tác quản lý và sử dụng
vốn cố định của các doanh nghiệp trong thời gian qua, các cơ quan chức năng Nhà nước
đã kịp thời đưa ra những chính sách phù hợp với điều kiện thực tế như: Quyết định
1062/1996 của Bộ tài chính đã giúp phần nào cho các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả
hơn vốn cố định và TSCĐ của doanh nghiệp mình. Quyết định 166/1999/QĐ-BTC ngày
30/12/1999 hoàn thiện hơn nữa chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ càng
giúp cho các doanh nghiệp tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh và sử dụng TSCĐ cũng
như vốn cố định có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, công tác quản lý và sử dụng vốn cố định
và TSCĐ luôn là vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp do đó vấn đề đặt ra là các
doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp khắc phục những tồn tại trong vấn đề quản lý
và sử dụng vốn cố định để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
2.2. Những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
nghiệp, tránh dự trữ quá mức thiết bị gây ứ đọng vốn. Chủ động đầu tư theo hướng tăng
tỷ trọng của những TSCĐ đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất kinh doanh, giảm tỷ trọng
các loại TSCĐ không phát huy hiệu quả trong sản xuất kinh doanh xuống.
Cùng với việc chủ động mua sắm TSCĐ, để tăng năng lực sản xuất doanh nghiệp
cần phải tổ chức sắp xếp hợp lý cơ cấu TSCĐ theo yêu cầu sản xuất chính trên cơ sở
thực trạng TSCĐ hiện có, vì năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng sản xuất
sản phẩm cao nhất trong năm trong điều kiện sử dụng các mức lao động, công nghệ tiên
tiến và tổ chức quản lý sản xuất phù hợp.
Trên cơ sở việc xác định tỷ lệ hợp lý giữa các máy móc thiết bị, giữa các khâu
của quy trình công nghệ và tổng số TSCĐ hiện có, lập kế hoạch điều chỉnh cơ cấu và kế
hoạch đầu tư theo hướng đồng bộ hoá thiết bị sẵn có cải tạo thiết bị cũ, thanh lý và
nhượng bán những TSCĐ không cần dùng, có kế hoạch đầu tư, mua sắm mới, thay thế
từng phần hay toàn bộ TSCĐ.
* Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả TSCĐ vào trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp:
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cần phải tăng cường công tác quản lý
chặt chẽ TSCĐ từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng.
Thực hiện việc phân loại cũng như phân cấp quản lý TSCĐ, tiến hành giao TSCĐ
cho từng bộ phận, từng cá nhân một cách rõ ràng, thực hiện những chế độ khuyến khích
vật chất, chính sách thưởng phạt hợp lý nhằm nâng cao trách nhiệm của người lao động
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khai thác triệt để công suất thiết kế của máy móc
thiết bị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cả theo chiều sâu lẫn
chiều rộng, tiết kiệm tới mức tối đa vốn cố định, tăng nhanh vòng quay của vốn.
Tăng cường cân đối về công suất, sản xuất, kiểm tra giám sát việc thực hiện
nghiêm chỉnh quy trình công nghệ để tăng thời gian làm việc có ích của TSCĐ hoặc
tăng số lượng và tỷ trọng TSCĐ đang hoạt động trong tổng số TSCĐ hiện có.
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu được tiến hành chủ yếu bằng
việc hoàn chỉnh kỹ thuật sản xuất và hiện đại hoá TSCĐ. Đối với nền kinh tế nước ta,
việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu là một vấn đề cần thiết và có ý