LUẬN VĂN: Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng Công Thương ( NHCT) chi nhánh tỉnh Hà Tây potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động
cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng Công
Thương ( NHCT) chi nhánh tỉnh Hà Tây
LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) có vai
trò rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế ở nước ta, góp
phần không nhỏ đối với việc tăng trưởng kinh tế, ngoài việc cung cấp các sản phẩm
hàng hóa cho nhu cầu thị trường còn xuất khẩu nhiều mặt hàng sang các nước trong
khu vực và trên thế giới như: hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp, hàng nông lâm
sản như hạt tiêu, hạt điều, thủy sản đông lạnh. Vì thế, phát triển DNV&N đang là
vấn đề được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, được coi là một trong những nhiệm vụ

 Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2007.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Bài viết đã sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp biểu đồ, phân tích và
đánh giá.
4. Nội dung bài viết.
Bài viết gồm có ba phần : lời mở đầu, phần thân bài, phần kết luận. Phần thân
bài được bố cục gồm ba chương:
- Chương I. Lý luận cơ bản về quản lý hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại.
- Chương II. Thực trạng quản lý hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây.
- Chương III. Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây.
Để có thể hoàn thành được bài viết, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo GS.TS. Đàm Văn Nhuệ và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô
chú, anh chị tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây đã giúp đỡ em rất
nhiều trong thời gian thực tập vừa qua. CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
1.1.1.Đặc điểm, vai trò của DN&VN trong sự phát triển kinh tế quốc gia.
1.1.1.1.Khái niệm DNV&N.
Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là một tổ chức kinh tế
được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại,

chỉ mang tính ước lệ Có nhiều quan điểm khác nhau về các đối tượng, chủ thể kinh
tế được coi là thuộc hoặc không thuộc khu vực DNV&N. Theo Nghị Định của
Chính Phủ số 90/2001/NĐ- Chính Phủ ngày 23 tháng 11 năm 2001 thì “doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”. Nghị định quy định đối tượng áp dụng bao
gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp nhà
nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định số 02/2000 NĐ-CP ngày 3
tháng 2 năm 2000 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh.
1.1.1.2.Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế.
Tuy có nhiều tiêu chí, cách xác định, đánh giá khác nhau trong các nước song
tất cả đều cho rằng DNV&N là xương sống của nền kinh tế, có vị trí và vai trò quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế và đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế- xã hội của Quốc gia. Ở nước ta, qua mười năm đổi mới, nền kinh tế đã thu
được những thành tựu đáng khích lệ, trong đó sự đóng góp của DNV&N là đáng kể,
các doanh nghiệp này có vai trò hết sức quan trọng đối với việc ổn định phát triển
kinh tế, xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển kinh tế địa phương.
a.Cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế.
Các DNV&N có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế, góp phần làm
tăng thu nhập quốc dân. Theo đánh giá của viện nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ thì
hiện nay khu vực DNV&N của cả nước chiếm khoảng 25% - 26% GDP. Năm 1993,
các DNV&N đã tạo ra được khoảng 25% giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp
và 54% giá trị công nghiệp địa phương, tăng 11% so với năm 1992 và tăng 63% so
với năm 1990. Tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt hơn 29.000 tỷ đồng, bằng 78% tổng
mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Trong nhiều nghành nghề như
gỗ xẻ, chiếu cói, giầy dép… DNV&N sản xuất 100% sản phẩm. Nhiều nghành nghề

gần 2 triệu lao động. Năm 2002, cả nước tạo ra được 1,42 triệu việc làm mới thì
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thu hút được 79,1% tổng số việc làm. Hàng
năm khu vực doanh nghiệp này thu hút hàng chục vạn lao động, góp phần giải quyết
các vấn đề xã hội của đất nước. Theo số liệu ước tính năm 2006 khu vực DNV&N
tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và chiếm khoảng 25%-
26% lực lượng lao động trong cả nước. Tuy nhiên, do khu vực sản xuất nông nghiệp
ỏ nông thôn vẫn chiềm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ nền kinh tế nên xem xét tổng
thể thì tổng số lao trong các DNV&N chiếm tỷ trọng chưa cao trong tổng số lao
động xã hội hiện nay.
Đặc điểm của nước ta là một nước là một nước nông nghiệp, năng suất sản xuất
cũng như thu nhập của dân cư thấp. Việc phát triển các DNV&N ở thành thị cũng
như ở nông thôn là phương hướng cơ bản nhằm tăng nhanh năng suất, tăng nhanh
thu nhập, và đa dạng hóa thu nhập của dân cư. Kết quả điều tra cho thấy tại những
vùng có doanh nghiệp phát triển thì thu nhập gấp 4 lần thu nhập của dân cư tại
những vùng thuần nông nghiệp. Điều quan trọng là thu nhập của dân cư được đa
dạng hóa vừa có ý nghĩa nâng cao mức sống dân cư, vừa làm cho cuộc sống giảm
bớt rủi ro hơn nhất là tại những vùng thiên tai.
c.Thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế.
Vốn là một nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng doanh nghiệp.
Nhờ có vốn mới kết hợp được các yếu tố lao động, đất đai, công nghệ và quản lý.
Thực tế cho thấy, để đầu tư cho một chỗ làm ở Việt Nam, trung bình phải mất 5-10
triệu đồng. Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm
trọng, trong khi đó vốn trong dân còn tiềm ẩn nhưng huy động được chưa nhiều. Có
nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do môi trường đầu tư không ổn định và không
được thuận lợi. Trong tình hình đó thì chính các DNV&N là người trực tiếp tiếp xúc
với người cho vay, gây được niềm tin nên có thể huy động vốn, hoặc chính người có
tiền đứng ra đầu tư kinh doanh.
Hiện nay Nhà nước có chủ trương bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Chủ trương này có tác dụng thúc đẩy hoạt

làm cho nền kinh tế năng động hơn. Sự có mặt của các DNV&N có tác dụng hỗ trợ
cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn: làm đại lý, làm vệ tinh cho
các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ hàng hóa và cung cấp các đầu vào, thâm nhập
vào mọi ngõ ngách thị trường mà doanh nghiệp lớn không vào được.
Mặt khác, vốn của các DNV&N, trong phần lớn là của khu vực kinh tế tư nhân
chủ yếu chỉ đầu tư vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao. Vì thế sự gia tăng
các cơ sở này sẽ làm cho hiệu quả kinh tế của đất nước tăng nhanh. Tuy nhiên nếu
doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ thì thì hiệu quả kinh tế khó tăng nhanh được.
e.Khai thác tiềm năng phong phú trong dân và có khả năng tận dụng các
nguồn lực xã hội.
Có rất nhiều tiềm năng trong dân cư chưa được khai thác triệt để như: trí tuệ,
lao động, vốn, bí quyết tay nghề, điều kiện tự nhiên, …Việc phát triển các doanh
nghiệp sản xuất, các ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong
những hướng quan trọng để xử dụng tay nghề tinh xảo, thu hút lao động trong nông
thôn, phát huy lợi thế của từng vùng.
Về tiềm năng vốn, các DNV&N thường bắt đầu bằng nguồn vốn ít ỏi, hạn hẹp
của các cá nhân. Do đó nên các doanh nghiệp này dễ được đông đảo nhân dân tham
gia hoạt động, vì thế thu hút được nguồn vốn trong dân vào sản xuất kinh doanh.
Ước tính trên 400.000 doanh nghiệp công nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đã thu
hút khoảng 25.000 tỷ đồng, chưa kể hàng nghìn tỷ đồng nhàn rỗi khác phục vụ cho
nhu cầu về vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Về lao động, DNV&N thường nhằm vào mục tiêu sản xuất kinh doanh phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của dân cư, sử dụng nhiều lao động, ít vốn, với chi phí thấp, do
vậy lao động trong khu vực này không đòi hỏi trình độ cao, chỉ cần bồi dưỡng ngắn
hạn là có thể tham gia vào sản xuất của doanh nghiệp.
Về kỹ thuật, DNV&N thường lựa chọn các kỹ thuật phù hợp với trình độ lao
động khả năng về vốn, kết hợp kỹ thuật thủ công với kỹ thuật đơn giản mà mọi
người có thể nhanh chóng tiếp thu và làm chủ trong sản xuất, ít sử dụng kỹ thuật
tiên tiến hiện đại, do đó phần lớn trang thiết bị đều là các sản phẩm trong nước.
Về nguyên vật liệu, nguồn nguyên vật liệu được sử dụng ở các DNV&N chủ yếu

lượng vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp các DNV&N có thể khởi sự
doanh nghiệp.
 Dễ phát huy bản chất hợp tác.
 Thu hút nhiều lao động, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp.
 Không có hoặc có ít xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao
động.
 Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh.
 Có thể phát huy tiềm lực thị trường trong nước.
 Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng.
 Nhanh chóng giảm bớt nạn thất nghiệp.
 Là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp và là cơ sở kinh tế ban
đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn.
1.1.2.2. Những hạn chế của DNV&N.
Các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ, vốn ít nên có những mặt hạn chế:
 Khó khăn trong đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là những công nghệ đòi
hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả, hạn
chế khả năng cạnh tranh trên thị trường.
 Có nhiều hạn chế về đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, đầu tư cho
nghiên cứu… do đó khó nâng cao khả năng suất và hiệu quả kinh doanh.
 Thường bị động trong các quan hệ thị trường, khả năng tiếp thị.
 Khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng.
1.1.3.Hoạt động cho vay của NHTM đối với các DNV&N.
1.1.3.1.Nội dung về hoạt động cho vay của NHTM đối với các DNV&N.
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của các NHTM thì nghiệp vụ tín dụng giữ
vai trò trọng yếu nhất. Cho vay cũng là một trong các hình thức tín dụng của ngân
hàng và đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu. Có thể định nghĩa hoạt động cho vay của
NHTM như sau:
 Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt
động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới
hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ

a. Hỗ trợ sự ra đời và phát triển hoạt động sản xuất của các DNV&N.
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình thì yếu tố đầu tiên quan
trọng nhất đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
chính là vốn. Trong khi đó các DNV&N lại có nguồn vốn tự có rất ít, mức vốn tự có
của các doanh nghiệp này thường chiếm khoảng 5%- 10% vốn luân chuyển, không đủ
để tài trợ cho các hoạt động sản xuất có hiệu quả, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.
Nhất là khi doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất, nâng cấp trang thiết bị kỹ
thuật để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Ngoài
ra, các doanh nghiệp cũng cần có một lượng vốn để dự trữ hàng hóa, trang trải các chi
phí lưu thông…Hầu hết các doanh nghiệp đều có thể huy động vốn từ nhiều nguồn
như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hoặc thu hút vốn từ thị trường chứng khoán, từ các
ngân hàng. Thế nhưng đối với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác các DNV&N lại thường
không có đủ các điều kiện để tham gia vào thị trường chứng khoán, vì thế việc huy
động vốn từ thị trường chứng khoán là rất khó khăn. Trong hoàn cảnh này thì ngân
hàng lại trở thành nguồn cung ứng về vốn tốt nhất đối với các DNV&N, giúp cho các
doanh nghiệp này ra đời, tồn tại và phát triển. Ngân hàng có thể cung cấp vốn cho
doanh nghiệp nhanh chóng nhất, giúp cho các doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội kinh
doanh.
b.Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNV&N.
Với cơ chế hoạt động cơ bản của các khoản vay ngân hàng là “ vay có sự hoàn
trả cả vốn gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định”, nếu quá hạn sẽ phải chịu lãi suất
cao, chính vì thế thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
tạo lập uy tín đối với ngân hàng.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra cho các DNV&N nhiều cơ hội để
mở rộng thị trường, mở rộng quy mô sản xuất. Nhưng bên cạnh đó, cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp lại trở nên ngày càng gay gắt, chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang
cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, mẫu mã. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải
liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Chỉ có các
NHTM mới có thể huy động vốn từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, cho phép

phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Việc áp dụng từng loại cho vay phụ thuộc
vào đặc điểm kinh tế của các doanh nghiệp nhằm sử dụng và quản lý có hiệu quả và
phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của các doanh
nghiệp.
a. Cho vay ngắn hạn đối với các DNV&N.
Cho vay ngắn hạn đối với DNV&N là các khoản cho vay có thời hạn từ hạn từ
12 tháng trở xuống. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm mục đích đáp ứng các nhu
cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Cho vay ngắn hạn có thể được phân chia thành nhiều loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau, ví dụ :
 Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay, cho vay ngắn hạn gồm có:
o Cho vay công nghiệp và thương mại: giúp cho doanh nghiệp trang trải các chi
phí hoạt động, như chi phí mua hàng, trả lương, nộp thuế…
o Cho vay ngắn hạn các công trình: tạm ứng vốn cho bên thi công trong giai
đoạn thi công các công trình xây dựng.
o Cho vay khác: kinh doanh chứng khoán…
 Căn cứ vào phương pháp cho vay:
o Cho vay từng lần.
o Cho vay theo hạn mức tín dụng.
o Cho vay khác: cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín
dụng dự phòng…
 Căn cứ vào bảo đảm tiền vay:
o Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của
người thứ ba , bảo đảm bằng tài sản được hình thành từ nguồn vốn vay.
o Cho vay có bảo đảm không bằng tài sản: tín chấp, bảo lãnh bằng tín
chấp…
b.Cho vay trung, dài hạn đối với các DNV&N.
Cho vay trung hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm,
nhằm giúp các doanh nghiệp đầu tư vốn để tái sản xuất mở rộng tài sản cố định và

ngân hàng.
 Nguồn trả nợ đối với các khoản vay này thường khác so với các khoản vay
ngắn hạn. Nguồn trả nợ chính là từ các khoản vay khấu hao và một phần lợi nhuận
do dự án đầu tư mang lại.
- Giải ngân trong cho vay: có thể được tiến hành một lần hoặc nhiều lần nhằm
đảm bảo cho khách hàng nhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng đúng mục đích.
Khoản vay được rút một lần trong trường hợp vay để mua sắm máy móc, thiết bị.
Đối với tài sản được hình thành trong một thời gian dài thì việc giải ngân được thực
hiện theo tiến độ công việc hoàn thành.
- Lãi suất cho vay: thường cao hơn lãi xuất vay ngắn hạn, có thể là lãi suất cố
định trong trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến đổi tùy thuộc vào
sự biến đổi của thị trường. Sự biến đổi của lãi suất có thể dựa trên lãi suất cơ bản
của ngân hàng, hoặc lãi suất liên ngân hàng. Việc thu tiền lãi có thể được tiến hành
theo kỳ hạn tháng, quý, năm dựa vào số dư ở mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho
vay.Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hoặc trả tiền lãi
vào một ngày nào đó trong kỳ hạn theo thỏa thuận.
1.2.Quản lý hoạt động cho vay đối với các DNV&N của các NHTM.
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
1.2.1.1. Khái niệm quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
Chúng ta có thể hiểu quản lý ở nhiều góc độ khác nhau, như quản lý con người,
quản lý sinh vật, quản lý giới vô sinh ( nhà xưởng, máy móc, thiết bi, sản
phẩm )…Nhưng có thể hiểu: “ quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động
của môi trường”.
Từ khái niệm về hoạt động quản lý, có thể định nghĩa về quản lý hoạt động cho
vay của các ngân hàng như sau:
- Xét trên quan điểm theo cách tiếp cận chiến lược:“quản lý hoạt động cho vay
của các NHTM đối với các DNV&N là quá trình xây dựng và thực thi các chính
sách và biện pháp quản lý cho vay nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và
phát triển bền vững”.

người vay đã có thời làm ăn có lãi lâm vào cảnh thua lỗ. Rủi ro đối với người đi vay
cũng chính là rủi ro đối với những khoản đầu tư cho vay của ngân hàng. Có thể làm
giảm lợi nhuận, và cũng có thể đẩy ngân hàng tới chỗ phá sản.
Do đặc điểm của các DNV&N là quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, trang thiết
bị công nghệ còn lạc hậu… Vì thế các ngân hàng nhiều khi vẫn còn e ngại trong
việc cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này. Việc quyết định cho vay phải được
nghiên cứu kỹ càng, nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp lừa đảo, kinh doanh
không có lãi…
Vì vậy mối lo lắng lớn nhất trong hoạt động này của các ngân hàng là làm thế
nào để hạn chế rủi ro thấp nhất. Để có thể hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất thì các
ngân hàng phải quản lý cho vay thật tốt và hiệu quả.
1.2.3.Nội dung của quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
Hoạt động quản lý được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng do giới
hạn của bài viết nên em xin phép được đi sâu vào quản lý theo cách tiếp cận tác
nghiệp.
Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động quản lý cho vay nói riêng đòi hỏi
phải được tiến hành nghiêm nghặt theo sát quy trình cho vay vốn.
1.2.3.1.Thiết lập hồ sơ cho vay.
Hồ sơ tín dụng của một ngân hàng là các tài liệu bằng văn bản về mối quan hệ
tổng thể của ngân hàng với doanh nghiệp vay vốn. Các hồ sơ tốt hoàn toàn cần thiết
cho một nghiệp vụ cho vay tốt. Chất lượng của khoản cho vay phụ thuộc rất lớn vào
sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ cho vay.
Một hồ sơ đầy đủ phải đáp ứng được bốn yêu cầu:
- Phải chứa đựng đầy đủ các thông tin tài chính để giúp cán bộ tín dụng xác
định được sức mạnh tài chính của doanh nghiệp xin vay và dễ dàng nắm bắt xu
hướng tình trạng tài chính của doanh nghiệp.
- Phải vạch ra được các điều khoản của hợp đồng cho vay với doanh nghiệp
một cách chi tiết và lập ra một thỏa thuận hoàn trả đầy đủ.
- Phải giúp người sử dụng thẩm định hoạt động kinh doanh trong quá khứ của
doanh nghiệp.

chuẩn bị và phân tích thông tin thu thập được, sưu tầm và lưu lại thông tin để sử
dụng cho tương lai.
Các yếu tố cần được xem xét khi phân tích tín dụng:
a. Năng lực vay nợ: các ngân hàng không chỉ quan tâm đến khả năng hoàn trả
mà còn quan tâm đến năng lực pháp lý của doanh nghiệp khi đi vay. Cần phải xem
xét điều lệ và luật địa phương để khẳng định rằng ai là người có khả năng thay mặt
cho công ty đi vay.
b. Uy tín: không chỉ có ý nghĩa sẵn lòng trả nợ mà còn có ý nghĩa là phản ánh
ý muốn kiên quyết thực hiện tất cả các giao ước trong hợp đồng tín dụng.Các hồ sơ
quá khứ của một doanh nghiệp khi xin vay trong việc thực hiện các hợp đồng tín
dụng thường có giá trị khi đánh giá uy tín về tín dụng.
c. Khả năng tạo ra lợi tức: đối với doanh nghiệp kinh doanh thì việc tạo ra lợi
tức tùy thuộc vào tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến lượng bán, giá bán, giá thành, chi
phí. Những yếu tố này gồm có địa điểm của hãng, chất lượng hàng hóa, tính hữu
hiệu của quảng cáo, chất lượng cạnh tranh, phẩm chất của lực lượng lao động, khả
năng khai thác, giá thành của nguyên liệu và chất lượng quản trị.Trong đó chất
lượng quản trị được coi là yếu tố chính để quyết định có cấp tín dụng không.
d. Mục đích khoản vay: nếu khoản vay tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng
thêm thu nhập thì chính điều đó đã làm tăng thêm nằng lực hoàn trả và cải thiện tình
hình tài chính của doanh nghiệp.Khi đó cả ngân hàng và doanh nghiệp đều có lợi.
Do đó các ngân hàng thường muốn cho vay để mua máy móc cần thiết hơn là mua
chiếc xe mới cho giám đốc hoặc cho vay để mua vốn lưu động để tăng doanh thu
hơn là cải tạo lại văn phòng.
e. Quyền sở hữu các tích sản: như vốn và vật thế chấp là một trong các tiêu
chuẩn tín dụng. Giá trị thực của doanh nghiệp là một tiêu chuẩn đo lường sức mạnh
tài chính và là yếu tố quyết định đến khối lượng tín dụng mà ngân hàng sẵn lòng
thực hiện cho doanh nghiệp vay.
f. Các điều kiện kinh tế: ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của người vay
nhưng chúng thường vượt quá sự kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.Nhân
viên tín dụng trở thành nhà dự đoán kinh tế. Kỳ hạn của khoản nợ càng dài thì việc

tra lại toàn bộ giấy tờ vay vốn, phải giải thích ý nghĩa của mỗi chứng từ. Phải chú ý
là tất cả các giấy tờ của văn bản tài trợ hoặc hợp đồng tín dụng đều phải được ký
vào ngày ký kết.
c.Giải ngân.
Sau khi đã ký kết hợp đồng cho vay ngân hàng thực hiện việc giải ngân khoản
vay theo một lần hoặc theo từng đợt.
12.3.4. Kiểm soát quá trình cho vay.
a.Giám sát tín dụng.

Trích đoạn Quyết định cho vay Nguyên nhân chủ quan Các giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Nâng cao khả năng thu thập, xử lý thông tin Nâng cao khả năng thiết lập và phân tích và quản lý hồ sơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status