LUẬN VĂN:
Giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn
huyện Vũ Thư
LỜI MỞ ĐẦU
từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư trong giai đoạn 2008 – 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ Ngân sách nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu: là địa bàn huyện Vũ Thư.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài đã sử sụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử và thống kê, phân tích.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề chung về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước.
- Chương II: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2004 – 2007.
- Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2008 – 2010.
6. Lời cảm ơn.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời
gian còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, các anh
chị tại phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Vũ Thư, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
GS.TS Đàm Văn Nhuệ trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1. Khái niệm đầu tư và đặc điểm của hoạt động đầu tư.
1.1.1. Khái niệm đầu tư.
* Phân loại theo lĩnh vực đầu tư.
Phân làm 2 loại :
- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất : Đó là hoạt động đầu tư trong các doanh nghiệp, cơ
sở kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp bao gồm đầu tư xây dựng mới, cải
tiến công nghệ, đầu tư mở rộng.
- Đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất: Lĩnh vực không sản xuất ra sản phẩm hàng hoá
trực tiếp: văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng.
* Phân loại theo thời gian thực hiện đầu tư.
Người ta chia thành 3 loại :
- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm
- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm
- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm
* Phân loại theo quan hệ sở hữu của Chủ đầu tư với hoạt động đầu tư : Phân làm
2 loại : Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ có giá như
: Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn. Với hình thức đầu tư này người bỏ vốn không
trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là người trực tiếp
tham gia quản lý giá trị kinh doanh (Giá trị trực tiếp hoặc có quyền lựa chọn những giá trị
trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp được phân ra làm 2 loại: Đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.
+ Đầu tư chuyển dịch : Về hình thức đầu tư chuyển dịch cơ bản giống như đầu tư
gián tiếp hay đầu tư tài chính tức là cũng thông qua việc mua các cổ phiếu nhưng ở đây là
mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán chứ không phải mua lần đầu và để có thể
thực hiện được hình thức này Nhà đầu tư phải mua lại hay nắm giữ một khối lượng cổ
phiếu đủ lớn để có thể tham gia được (Có chân) trong Hội đồng quản trị. Trong hình thức
đầu tư này Tổng tài sản của doanh nghiệp là không tăng mà chỉ có sự thay đổi về quyền sở
hữu tài sản trong doanh nghiệp từ tay người này sang tay người khác.
+ Đầu tư phát triển: Là hình thức đầu tư mà thông qua việc xây dựng mới , mở
Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng, trước hết phải có vốn đầu
tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn kinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ
chức kinh doanh tiến hành hoạt động, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được
coi là một trong những yếu tố cơ bản nhất. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan
trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích
thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời.
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư lớn là yếu
tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho yếu
tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng (KCHT), xây
dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp, chế biến Đầu tư cho
các lĩnh vực đó đòi hỏi lượng vốn đầu tư bỏ rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu
quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải được trải qua một thời gian lao động
rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được, do thời gian hoàn vốn kéo dài vì sản
phẩm đầu tư xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không theo một
dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình, mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau cụ
thể như sau:
- Sản phẩm của xây dựng thường cố định, đó là công trình gắn liền với đất.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp có tính chất tổng hợp về kinh
tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật Thời gian để hoàn thành một quá trình xây dựng thường
dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất của sản phẩm.
- Quá trình thi công xây dựng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên: Nắng, mưa,
bão, gió Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, luôn luôn biến động và
thường bị gián đoạn. Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình tổ chức thi công xây dựng phải
có kế hoạch tổ chức, phân công hợp lý nhằm tận dụng triệt để máy móc thiết bị, vật tư lao
động hạn chế tối đa những thay đổi không hợp lý, có biện pháp tổ chức lao động một
cách khoa học.
- Sản phẩm xây dựng được tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể: Để xây dựng được
một công trình phải dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký giữa các bên liên quan.
đề xuất những biện pháp quản lý vốn đầu tư thích hợp, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.4. Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế.
- Đầu tư cơ bản là yếu tố quyết định đến trình độ kinh tế của mỗi nước:
Đầu tư tạo ra tài sản cố định, đầu tư khoa học công nghệ để có sự thay đổi về chủng
loại và chất lượng sản phẩm.
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước chủ yếu được đánh giá thông qua 2 chỉ
tiêu: Thu nhập bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Để đạt được
2 yếu tố này không còn con đường nào khác là phải tiến hành đầu tư vào các tài sản cố
định, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹ thuật công nghệ để không ngừng nâng cao năng
lực sản xuất xã hội, từ đó tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh hơn. Có thể
nói “ Đầu tư cho hiện tại quyết định thành công về phát triển kinh tế trong tương lai ”
Đầu tư phát triển là động lực phát triển của nền kinh tế, hiệu qủa đầu tư quyết định đến sự
phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.
- Đầu tư cơ bản cải biến cơ cấu nền kinh tế và góp phần tạo ra cơ cấu kinh tế hợp
lý:
* Cơ cấu kinh tế: là sự phân chia các ngành nghề, các lĩnh vực trong nền kinh tế về
mặt tỷ trọng.
Trong từng thời kỳ: căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, căn cứ vào
tình hình thực tế, căn cứ vào khả năng tích luỹ vốn cho đầu tư nhà nước sẽ đặt ra chiến
lược đầu tư cụ thể cho các ngành, các địa phương các lĩnh vực cụ thể là ngành nào, lĩnh
vực nào, địa phương nào sẽ được đầu tư bao nhiêu, sẽ ưu tiên cho dự án nào, cắt giảm dự
án nào. Việc làm này sẽ làm cho số lượng, chất lượng tài sản cố định của ngành đó ưu tiên
tăng lên trong khi đó ngành khác bị cắt giảm thì xu hướng sản xuất sẽ giảm đi. Thông qua
công cụ đầu tư làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như vậy đầu tư đã
trực tiếp điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên bình diện quốc gia và ở từng địa phương.
* Cơ cấu kinh tế hợp lý: là cơ cấu được bảo đảm sự phân chia trong các ngành, các
lĩnh vực của nền kinh tế sao cho phát huy tốt nhất, khai thác triệt để nhất mọi tiềm năng
về tài nguyên, về vốn, về lao động cũng như các thế mạnh của các ngành. Cơ cấu kinh tế
kinh nghiệm quản lý tiên tiến trong các doanh nghiệp. Việt Nam là một trong các nước
chậm phát triển, đòi hỏi sự phát triển nhanh và mạnh trong thời gian ngắn thì mới có thể
đuổi kịp được các quốc gia lân cận. Tích luỹ vốn của nước ta còn rất hạn chế vì vậy Việt
Nam cần mở rộng việc gọi vốn và hợp tác đầu tư quốc tế đây là một nguồn lực quan trọng
để phát triển nền kinh tế nước ta trong thời gian hiện tại và một số năm tới. Việt Nam có
một số thế mạnh để gọi vốn nước ngoài đó là:
- Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm phát triển kinh tế thế giới (Đông
nam á, các nước Asian) có bờ biển dài thuận lợi cho việc giao thương hàng hải, là cửa ngõ
của các quốc gia nằm trong lục địa.
- Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản tương đối phong phú.
- Có lực lượng lao động dồi dào (chi phí thấp) rất thuận lợi cho các ngành sử dụng
nhiều lao động sống.
- Việt nam có một chế độ chính trị xã hội ổn định, an ninh tốt.
Những yếu tố trên là tiền đề kêu gọi vốn hợp tác đầu tư quốc tế. Thực tế các năm
qua lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều, riêng năm 2006 đã đạt
trên 9 tỷ đô la đã chứng tỏ điều đó.
1.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.2.1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
- Vốn đầu tư: Là số vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã dự định, là
yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư.
- Vốn đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là: Vốn được biếu hiện bằng giá trị của nguồn tài sản. Có nghĩa là vốn phải đại
diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Hai là: Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Do vậy, nếu ở đâu không xác
định được đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng phí kém hiệu quả.
Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hoá đặc biệt. Vốn là hàng
hoá vì: cũng giống như các hàng hoá khác, nó có giá trị và giá trị sử dụng. Có chủ sở hữu
đạo. Điều đó không những khắc phục được tình trạng thiếu vốn mà còn có điều kiện tiếp
thu được công nghệ hiện đại của nước ngoài; nâng cao trình độ quản lý và tăng thêm việc
làm.
+ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay nợ, nhận viện
trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)
+ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể huy động
vào đầu tư, thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Nguồn vốn trong nước
bao gồm: nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn vô
hình.
1.2.2. Vị trí vai trò của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với đầu tư xây
dựng cơ bản.
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trù lịch sử. Sự hình
thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền
kinh tế hàng hoá tiền tệ trong phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của
từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá
tiền tệ là tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước.
Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó. Đứng trên giác
độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tư xây dựng có thể sử dụng các nguồn vốn
sau đây:
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn vay.
- Nguồn vốn tự bổ sung.
- Nguồn động viên trong quá trình xây dựng công trình.
Nguồn vốn của ngân sách Nhà nước là một bộ phận vốn đầu tư xây dựng cơ bản
được nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước dùng để đầu tư xây dựng công trình theo
mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản. Trong mỗi thời kỳ,
tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước mà
nguồn vốn ngân sách Nhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau.
Hiện nay nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước được bố trí trực tiếp cho các công trình
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, chi phí bảo dưỡng tại kho, bãi ở hiện trường cũng như các
chi phí liên quan về thuế và bảo hiểm thiết bị.
- Chi kiến thiết cơ bản khác: đây là khoản chi đảm bảo điều kiện cho quá trình xây
dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng. Nó bao gồm các khoản chi như: chi chuẩn bị
đầu tư, chi khảo sát thiết kế, chi quản lý dự án
+ Xét theo giai đoạn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Chi cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi để xác định sự cần thiết
phải đầu tư, quy mô đầu tư, điều tra khảo sát thăm dò và lực chọn địa điểm xây dựng, lập
dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và quyết đinh đầu tư.
- Chi phí cho giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử
dụng. Đây là khoản chi liên quan đến quá trình xây dựng từ khi khởi công đến khi hoàn
thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
1.2.3. Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước có đặc điểm sau:
Một là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của ngân sách Nhà nước
nhưng không mang tính ổn định.
Hai là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với đặc điểm xây dựng cơ bản và công
tác xây dựng cơ bản.
1.3. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.3.1. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
1.3.1.1. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
* Chủ thể quản lý: là tổng thể các cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB của
Nhà nước với cơ cấu tổ chức nhất định.
* Đối tượng quản lý: chính là vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước (xét về mặt
hiện vật); là các cơ quan quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cấp dưới (xét về
cấp quản lý).
1.3.1.2. Quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước.
Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nước quản lý chặt
chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư. Do vậy nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Nhà nước. Các nhân tố này tác động đến cả hai thành phần của quản lý vốn đầu tư : Lợi
ích, công dụng của đối tượng do kết quả của quá trình đầu tư tạo nên khi chưa được đưa
vào sử dụng và vốn đầu tư chi ra nhằm tạo nên kết quả ấy. Do đó, các nhân tố này tồn tại
theo suốt thời gian của quá trình đầu tư từ khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình
thực hiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là trong cả quá trình khai thác, sử dụng các đối
tượng đầu tư hoàn thành. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước, đó là:
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ xây dựng nền sản xuất
lớn hiện đại. Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá ảnh hưởng đến chiến lược và chính sách
kinh tế khác. Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá đúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các
chiến lược chính sách khác đúng đắn. Đó là điều kiện cực kỳ quan trọng, quyết định sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển bền vững, tạo nhiều việc làm, bảo đảm nâng cao mức sống của dân cư và thiết
lập một xã hội, cộng đồng văn minh.
Chiến lược đầu tư và quy hoạch đầu tư đến năm 2010 được coi là một bước đột phá
lớn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước nói chung, của Thái Bình nói riêng, cụ
thể là phải phát triển ngành xây dựng đạt được đến trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp
ứng nhu cầu xây dựng ở trong nước và có năng lực đấu thầu công trình xây dựng ở nước
ngoài, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch,
năng lực thiết kế xây dựng và thẩm mỹ kiến trúc. Phát triển các hoạt động tư vấn và các
doanh nghiệp xây dựng trong đó chú trọng các doanh nghiệp mạnh theo từng lĩnh vực:
thuỷ lợi, giao thông, cầu đường Tăng cường quản lý nhà nước về quy hoạch, kiến trúc và
xây dựng, đảm bảo thực hiện các mục tiêu mà Đại hội Đảng đã thông qua.
Để đạt được mục tiêu của đại hội Đảng đã đề ra, yêu cầu đặt ra là nguồn vốn đầu tư
thực hiện lấy từ đâu? Vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước được lấy từ nguồn thu tập trung
vào ngân sách Nhà nước. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của nước ta khá ổn định. Trong những
năm tới vốn đầu tư sẽ được định hướng đầu tư vào một số lĩnh vực chủ yếu then chốt như
sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Kế hoạch luôn theo sát mục tiêu định hướng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
* Về công tác đấu thầu, chọn thầu và nghiệm thu công trình:
Trong thực tế thời gian qua đã áp dụng hai hình thức chọn thầu là chỉ định thầu và
đấu thầu xây dựng. Hình thức chỉ định thầu áp dụng rất hạn chế vì thiếu tính cạnh tranh,
nên chỉ áp dụng cho các gói thầu có giá trị nhỏ, dưới 1,0 tỷ đồng Còn hình thức đấu thầu
là hình thức tiến bộ trong lựa chọn nhà thầu. Trong thực tế đã và đang diễn ra nhiều tiêu
cực gây thất thoát lãng phí. Vì vậy thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu sẽ làm giảm bớt
thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, góp phần nâng cao công tác quản lý vốn đầu tư.
Nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi làm xong khối
lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực những bộ phận hay hạng mục công trình
hoặc toàn bộ công trình. Việc nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình xây dựng do
chủ đầu tư tổ chức thực hiện với sự tham gia của các tổ chức tư vấn, thiết kế, xây lắp, cung
ứng thiết bị và cơ quan giám định chất lượng theo phân cấp.
Các cơ quan chức năng liên quan đến công tác quản lý và nghiệm thu chất lượng
công trình xây dựng phải thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của Bộ xây dựng. Công tác
nghiệm thu được coi trọng đúng mức và thực hiện đúng quy trình sẽ góp phần nâng cao
chất lượng công trình, đảm bảo cho đồng vốn đầu tư bỏ ra mang lại hiệu quả cao trong
suốt thời gian sử dụng.
* Về công tác thanh toán vốn đầu tư.
Căn cứ vào quy định của Chính Phủ, của Bộ Tài chính, các cơ quan chức năng tiến
hành hướng dẫn quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư cụ thể, quy định về đối tượng
được tạm ứng, điều kiện được tạm ứng, mức vốn tạm ứng, quy trình kiểm soát tạm ứng
vốn, thanh toán khối lượng xây lắp, thiết bị, chi phí khác và quy trình kiểm soát thanh toán
khối lượng hoàn thành.
Trong công tác thanh toán vốn đầu tư XDCB phải luôn đảm bảo thực hiện đúng quy
trình và quy định về quản lý vốn đầu tư XDCB. Công tác kiểm soát vốn đầu tư XDCB từ
ngân sách Nhà nước được thực hiện theo thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007
của Bộ Tài chính về quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư của hệ thống Kho bạc Nhà
vô cùng khó khăn và phức tạp, phải kiểm tra, kiểm soát tất cả các giai đoạn của quá trình
đầu tư một dự án, phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng gây thất thoát lãng phí trong
tất cả các khâu của quá trình đầu tư như: Loại bỏ những khối lượng phát sinh chưa được
duyệt, sai chế độ quy định, sai đơn giá định mức, không đúng chủng loại vật liệu, danh
mục thiết bị đã được duyệt Vậy để hạn chế tối đa thất thoát lãng phí trong lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản thì các cơ quan chức năng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong việc
thực hiện công tác này. Công tác thanh tra, kiểm tra vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngày càng
được nâng cao về chất lượng, đội ngũ cán bộ thanh tra được đào tạo chuyên sâu, cơ bản
trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản. Do đó đã phát hiện được hầu hết các gian lận,
thất thoát trong lĩnh vực này. Tuy nhiên trong tương lai, cũng cần có những giải pháp
mang tính chiến lược, đột phá trong lĩnh vực này nhằm hạn chế tới mức thấp nhất lãng phí
trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
* Công tác lập và quản lý dự toán công trình thực chất là quản lý giá trong hoạt
động đầu tư. Vì vậy đây là một trong những khâu “nhạy cảm” nhất của hoạt động đầu tư.
Trong tỷ lệ giữa mức vốn thực hiện so với dự toán được duyệt không có sự thay đổi quá
lớn hoặc tăng đột biến, nhưng trong thực tế có nhiều trường hợp phải điều chỉnh dự toán
nhiều lần trong quá trình thi công như: thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng đã làm
để làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượng sai quy phạm, quy
chuẩn, hay sử dụng sai định mức kinh tế kỹ thuật của Nhà nước ban hành cho từng công
trình theo quy phạm và quy trình, áp sai giá cả theo từng loại vật tư thiết bị đã được Sở Tài
chính thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán, áp dụng sai
hoặc do tính toán sai về khối lượng định mức giá cả dẫn đến tính toán sai về các loại chi
phí trích theo định mức Do vậy, dự toán luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với mức vốn
thực hiện thực tế.
* Các nhân tố về cơ chế chính sách:
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý vốn
đầu tư. Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: chính sách
công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách làm công cụ
điều tiết kinh tế vĩ mô hoặc vi mô.
2006; việc xây dựng vùng chăn nuôi, thủy sản tập trung được triển khai ở một số cơ sở.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản tốc độ
tăng trưởng cao (28%), các làng, xã nghề hoạt động ổn định và phát triển, nhiều dự án lớn
đã và đang được triển khai(dự án đóng tàu và cảng Tân Đệ, khu công nghiệp và dịch vụ
sông Trà, may xuất khẩu Hải Phòng…) tạo tiền đè quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp
hóa – hiện đại hóa của huyện. Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, an ninh chính
trị đợc giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác cải cách hành chính có tiến
bộ, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên.
Cụ thể:
Tổng giá trị sản xuất cả năm ước đạt 1.415,6 tỷ đồng, tăng 12,53% so với năm 2006 đạt
98,1% mục tiêu UBND huyện đề ra.
- Giá trị sản xuất nông – lâm- thủy sản ước đạt 97,6% mục tiêu HĐND huyện đề ra,
trong đó giá trị nông nghiệp đạt 625,96 tỷ đồng tăng 3,5%, thủy sản đạt 32,4 tỷ
đồng tăng 11,72% so với năm 2006.
- Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN –XDCB ước đạt 438,54 tỷ đồng, tăng 28% so
với cùng kỳ năm 2006 đạt 100,8% mục tiêu HĐND huyện đề ra, trong đó giá trị CN
– TTCN đạt 343,14 tỷ đồng tăng 29%, giá trị XDCB đạt 95,4 tỷ đồng tăng 24,5% so
với năm 2006.
- Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ ước đạt 317,8 tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm
2006 đạt 95,4% mục tiêu HĐND huyện đề ra.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục có chuyển dịch tiến bộ: nông nghiệp 46,57%, CN – TTCN – XDCB
30,98%, TMDV 22,45%.
* Về nông lâm, thủy sản:
+ Đã bám sát định hướng quy hoạch và phát triển khá ổn định theo hướng thâm
canh, đa dạng hóa và ngày càng nâng cao tỉ suất hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực,
thực phẩm góp phần quan trọng vao xuất khẩu và gia tăng thu nhập xã hội.
+ Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản ước đạt 659,26 tỷ đồng, tăng 3,8% so với
cùng kỳ năm 2006.
* Công tác quản lý đất đai và môi trường: