LUẬN VĂN:Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh Thực trạng và giải pháp potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh -
Thực trạng và giải pháp

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm
lớn của toàn nhân loại, của hầu hết các quốc gia. Thúc đẩy mục tiêu tạo việc làm đầy đủ
cho mọi người, nam cũng như nữ, để tạo thu nhập và không ngừng nâng cao chất lượng
cuộc sống là ưu tiên số một trong chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Bởi vì, trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta luôn lấy con người làm trung tâm,
coi phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Tạo điều kiện

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, có nhiều tác giả đã có công
trình, bài viết xung quanh vấn đề này, tiêu biểu như: Vấn đề tạo việc làm tăng thu nhập ở
nông thôn của TS Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Thông tin lý luận 11/1990; Sử dụng nguồn
lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của tác giả Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991; Về giải quyết việc làm ở nông thôn từ năm 1994, 1995 đến
năm 2000 của tác giả Nguyễn Khang, Tạp chí Lao động và xã hội 9/1993; Về chính sách
giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Trần Hữu Trung (chủ
biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Ngoài ra, cũng có một số luận văn thạc sĩ
viết về đề tài việc làm ở một số tỉnh như Đồng Nai, Kiên Giang…Trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh, cho đến nay chưa có công trình khảo sát, nghiên cứu nào về chuyên đề này dưới
dạng một luận văn khoa học, để đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng hợp lý
nguồn lao động dôi thừa ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
- Mục đích của đề tài:
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh
Bắc Ninh, phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc
làm cho người lao động ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Khái quát những vấn đề cơ bản về lý luận lao động, việc làm và thất nghiệp.
Làm rõ những nhân tố tác động đến việc giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, để làm cơ sở cho việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở tỉnh
Bắc Ninh.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh từ 1997 -
2000.
+ Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc
làm ở tỉnh Bắc Ninh.
- Giới hạn nghiên cứu của đề tài:


1.1. Một số khái quát về lao động, việc làm và thất nghiệp
1.1.1 Khái quát về lao động và việc làm
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào thế giới
tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của
đời sống. Do đó, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người và xã
hội loài người với các loài động vật và xã hội loài vật khác. Trong quá trình lao động, con
người không những tạo ra của cải, mà còn cải tạo bản thân mình làm cho con người phát
triển cả về thể lực và trí lực. Đặc trưng chủ yếu của lao động là sáng tạo ra giá trị và của
cải cho phép đáp ứng nhu cầu của con người, và những nhu cầu này phát triển, vô hạn
nên bản thân lao động cũng phát triển và vô hạn, ít nhất cũng là sự phát triển của chính
bản thân con người. Song, những nhu cầu không chỉ thuộc lĩnh vực kinh tế, vật chất, mà
còn bao gồm tất cả những lĩnh vực kết tinh thành văn hóa, xã hội, đời sống cộng đồng.
Trong thực tiễn, không phải là thiếu lao động, mà là thiếu việc làm. Việc làm chỉ là cái vỏ
xã hội, là cái khung pháp lý trong đó lao động được diễn ra. Trong xã hội có giai cấp thì
việc làm chịu chi phối bởi lợi ích của giai cấp thống trị và hệ thống luật pháp dựa trên cơ
sở lợi ích của giai cấp đó hoạch định. Do đó, lao động thuộc về nhu cầu vô hạn của con
người như là một cơ sở đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội, còn việc làm thì lại là
phạm trù giới hạn và bị lợi ích giai cấp chi phối. Trong thực tiễn, vì lợi ích kinh tế những
giai cấp nắm trong tay các điều kiện vật chất của lao động có thể thu hút nhanh chóng
những khối lượng lớn sức lao động vào các quá trình sản xuất và cũng vì lợi ích kinh tế họ
sẵn sàng sa thải hàng loạt người lao động, nên việc làm của xã hội bị thu hẹp lại. Mặt khác,
quá trình lao động không chỉ diễn ra đơn độc giữa một cá thể và tự nhiên, mà trong quá trình đó, con người tác động vào nhau nhờ đó mà hình thành nên tập quán, truyền thống và
trở thành những đặc trưng văn hóa của một dân tộc, quốc gia. Như vậy sự thay đổi cơ bản
về mặt văn hóa cũng phải được xảy ra trong quan hệ của chúng ta với lao động và sự giàu
có. Phải coi lao động là sáng tạo ra của cải, tất cả những gì góp phần tạo ra giá trị theo
nghĩa kinh tế, tạo ra sự sung túc về phương diện cá nhân, tạo ra mối quan hệ xã hội về

lượng lao động, bao gồm những người đang làm việc và những người thất nghiệp. Đặc
trưng của nguồn lao động là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng. Trong đó những chỉ
tiêu quan trọng là: số lượng, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số người đang đi học, số
người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và sự phân bố theo lĩnh vực, theo ngành,
theo lãnh thổ… Mức tăng nguồn lao động là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao
động và số dân cư đến độ tuổi nghỉ hưu. Trong quá trình phát triển của sản xuất và đời
sống xã hội, chất lượng nguồn lao động cũng không ngừng được tăng lên. Các chỉ tiêu
thường được dùng để đánh giá chất lượng nguồn lao động: trình độ văn hóa, khả năng
tiếp thu của người lao động; trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề; kinh
nghiệm thực tiễn; trình độ quản lý và phong cách làm việc; sức khỏe.
Nếu lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, thì quá trình đó chỉ có thể diễn
ra khi đã được dựa trên giả định những tiền đề vật chất cho quá trình đó đã đầy đủ. Trên
bình diện một quốc gia cụ thể, thì quá trình lao động sản xuất (việc làm) của bộ phận dân
cư có sức lao động lại được giả định trên cơ sở số lượng việc làm. Do đó việc làm không
chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mà cả quan hệ giữa con người
với con người trong quá trình sản xuất, trong đó liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật
pháp khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật chất để quá trình làm việc diễn ra. Do đó, việc làm là
một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc loại
những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội.
Khái niệm việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao động. Việc làm thể
hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội
cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu
cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Về góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con
người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, người lao động được coi là có việc làm và được
xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc dân, khu vực
Nhà nước, kinh tế tập thể. Trong cơ chế đó, Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động

việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá trình ấy ngắn hay dài là tùy thuộc
vào trình độ, hoàn cảnh khách quan, chủ quan của từng nước. Một nước có điểm xuất
phát càng thấp, trong quá trình phát triển vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho người lao
động càng khó khăn và cấp thiết. ở nước ta hiện nay, tình trạng phổ biến là thiếu việc làm
đầy đủ dưới cả hai dạng: thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình.
Thiếu việc làm vô hình là phân bố không cân đối giữa lao động và các yếu tố sản
xuất khác. Thiếu việc làm vô hình do sự bố trí và sử dụng lao động bất hợp lý nên thường
xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
- Việc làm không tạo ra cơ hội để sử dụng đầy đủ chất lượng và khả năng người
lao động.
- Thu nhập mang lại từ việc làm thấp hơn so với mức thu nhập trung bình.
- Năng suất lao động ở nơi người lao động làm việc thấp hơn so với mức trung
bình.
Thiếu việc làm hữu hình là tình trạng không có đủ khối lượng công việc để làm hết
mức thời gian quy định trong một ngày lao động bình thường và người lao động đang đi
tìm việc khác hoặc sẽ nhận một việc làm bổ sung.
Trong quá trình thực hiện việc làm đầy đủ, quá trình toàn dụng lao động, cần từng
bước, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý.
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà còn nói rõ
việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động. Việc làm hợp
lý do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn so với việc làm đầy đủ. Việc làm hợp lý phản ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con
người với điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao
động với lợi ích của xã hội.
Tuy nhiên, khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩa
tương đối. Vì trong nền kinh tế thị trường có điều tiết thì việc làm đầy đủ và việc làm hợp
lý không có nghĩa là không có người thất nghiệp. Đối với những nước phát triển, sản xuất
phát triển nhưng nguồn lao động tăng chậm dẫn đến thiếu sức lao động. Ngược lại, đối với

không loại bỏ được nó. Tỷ lệ thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
tình trạng của một nền kinh tế, là mối quan tâm của mọi Chính phủ và của mọi thành viên
trong xã hội.
1.2. những nhân tố tác động đến vấn đề giải quyết việc làm trong nền kinh tế
thị trường
Nếu trừu tượng hóa các mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình
lao động sản xuất, mà chỉ xét việc làm như một tổng thể các điều kiện vật chất, các điều
kiện pháp lý trong đó quá trình lao động (làm việc) có thể được diễn ra, thì việc làm chịu
chi phối bởi các nhân tố sau:
1.2.1. Tài nguyên đất đai là đối tượng lao động cơ bản, là nhân tố chủ yếu tạo
ra việc làm cho người lao động
Đất đai là một yếu tố của quá trình sản xuất, có vai trò đặc biệt không chỉ đối với
nông nghiệp mà còn đối với công nghiệp, dịch vụ phi nông nghiệp…
Nước ta có diện tích hơn 330.000 km
2
đứng thứ 58 trên thế giới; diện tích bình
quân đầu người là 0,45 ha, đứng thứ 159 trong số hơn 200 nước trên thế giới. Hiện nay cả
nước có 8,1 triệu ha đất nông nghiệp, bình quân 0,68 ha/hộ nông nghiệp, (đặc biệt vùng
đồng bằng sông Hồng bình quân một lao động nông nghiệp chỉ có 600 m
2
) thì nhu cầu
lao động ở nông thôn cho nông nghiệp tối đa chỉ 19 triệu người. Nếu không phát triển mạnh việc làm phi nông nghiệp, sẽ dư thừa tương đối lao động rất lớn, khoảng 10 triệu
người [8, tr. 25].
Do yêu cầu của quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày bị mất dần,
nhất là ở những vùng nông thôn ven đô thị lớn, thị xã, thị trấn, hai bên trục đường giao
thông… Cùng với quá trình đô thị hóa đang diễn ra khá mạnh, lao động nông thôn đang
có xu hướng tăng lên. Tình hình trên dẫn đến bình quân diện tích đất canh tác trên một

động được giảm bớt trong phạm vi này (ở nơi mà máy móc là tư liệu sản xuất) nhưng
lại bị chuyển sang phạm vi khác (ở nơi sản xuất máy móc).
Dưới CNTB, máy móc tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi lao động trẻ em và lao
động phụ nữ. Giá trị của sức lao động giảm xuống là do: " Bằng cách ném tất cả mọi
thành viên trong gia đình người công nhân vào thị trường lao động, máy móc cũng phân
phối giá trị sức lao động của đàn ông cho toàn thể gia đình người đó" [20, tr. 569]. Nói
cách khác việc thu hút lao động trẻ em và lao động phụ nữ là một nguồn mới để sản xuất
giá trị thặng dư tương đối. ở đây, việc thu được giá trị thặng dư tương đối không phải do
nâng cao năng suất lao động, mà là do nâng cao trình độ bóc lột. Nếu gạt bỏ bản chất tư
bản chủ nghĩa của nó mà chỉ xét máy móc thiết bị như là một điều kiện vật chất tiên
quyết cho việc tạo lập ra những khối lượng lớn việc làm cho người lao động, thì việc sử
dụng máy móc là cơ sở thiết lập ra các xí nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời là cơ sở để nâng
cao năng suất lao động tạo thu nhập và việc làm.
CNH, HĐH ở nước ta hiện nay được coi là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành
phần kinh tế. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2001 - 2010 mà Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã thông qua: "Chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng
XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp" [12, tr. 148].
CNH, HĐH là quá trình đổi mới trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình sản
xuất, nhằm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao trên phương pháp sản xuất công
nghiệp. Đồng thời, phát triển các ngành công nghệ cao. Đó là những công nghệ dựa vào
những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại như công nghệ tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ gia công chính xác trong chế tạo máy, tự động hóa, năng
lượng mới.
Đối với lĩnh vực lao động - việc làm, sự phát triển của khoa học công nghệ mang
lại nhiều cơ hội để con người phát huy khả năng của mình, nhưng đồng thời cũng tạo ra
không ít thách thức. Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy, việc phổ biến các phương
tiện tự động hóa sẽ làm cho những nước có sức lao động rẻ và dư thừa (như Việt Nam) bị

Vấn đề đặt ra ở đây là cần hướng tới việc bảo tồn tính cân bằng, ổn định bên trong của sự
phát triển dân số. Tính ổn định đó chịu sự chi phối của hàng loạt điều kiện, không loại trừ
điều kiện nào: trình độ phát triển sản xuất, mức độ tăng trưởng kinh tế, tính chất các quan
hệ xã hội, pháp luật, chuẩn mực đạo đức truyền thống, định hướng giá trị, các yếu tố văn
hóa (dân trí, thẩm mỹ, truyền thông, giáo dục, y tế…), việc kết hợp tâm lý dân tộc và xu
hướng thời đại v.v…
Dân số, lao động và việc làm là những vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mức
gia tăng dân số càng nhanh thì nguồn lao động trong tương lai tăng cũng càng nhanh,
đồng thời nó sẽ tạo áp lực lớn đến giải quyết việc làm dưới nhiều chiều cạnh khác nhau.
Gia tăng dân số nhanh sẽ buộc xã hội phải chi tiêu nhiều hơn cho các mục đích tiêu dùng,
ít đầu tư cho sản xuất, phát triển, nhất là cho phát triển nguồn nhân lực. Quy mô nguồn
lao động lớn, cơ hội việc làm ở nông thôn ít, dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn ra đô thị
vì mục đích mưu sinh kiếm sống. Thành phần phổ biến trong hiện tượng thường là lao động
trẻ, khỏe có vốn kiến thức khá nhất ở khu vực nông thôn. Hậu quả là nông thôn bị mất đi
nguồn lao động có sức khỏe, có khả năng tiếp thu những tri thức mới cần thiết cho sự
nghiệp CNH, HĐH nông thôn. Nhưng tại đô thị, bộ phận lao động này cũng khó cạnh tranh
để có thể có việc làm trong khu vực kinh tế hiện đại mà chỉ chủ yếu gia nhập khu vực phi kết
cấu. Việc sử dụng nguồn nhân lực bị lãng phí. Đó là chưa kể đến số di dân mùa vụ, hình
thành các chợ lao động, làm phức tạp cho công tác quản lý đô thị, làm gia tăng tệ nạn xã
hội. Gia tăng dân số nhanh khiến cho việc phân bố dân cư bất hợp lý, không gắn lao
động với đất đai, tài nguyên, đối tượng lao động, với cơ sở vật chất, kỹ thuật khiến cho
tạo việc làm khó khăn, thất nghiệp và thiếu việc làm cao.
Dân số tăng nhanh sẽ làm cho đất nước khó khăn trong việc nâng cao chất lượng
nguồn lao động. Đầu tư vào lớp trẻ ít, chất lượng trong tương lai của nguồn lao động
thấp. Khó có khả năng đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng của những người trong
tuổi lao động. Kinh nghiệm và tri thức của người lao động cao tuổi cũng khó được phát
huy bởi phải nhường chỗ cho lớp trẻ. Đất nước luôn ở tình trạng các giải pháp tình thế để

đang sử dụng sức lao động của người khác và những người có nhu cầu đi làm thuê hoặc
đang làm việc cho người khác bằng sức lao động của mình để được nhận một khoản tiền
công.
Khi nghiên cứu thị trường lao động, dưới góc độ việc làm thì nội dung quyết định
nhất là quan hệ cung - cầu về lao động. Giải quyết việc làm hay giảm thất nghiệp, trong
cơ chế thị trường, về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu về lao động
trên thị trường lao động.
Trước hết ta hãy làm rõ khái niệm cung về lao động và cầu về lao động.
Cung về lao động
Cung lao động là khối lượng lao động sẵn sàng được sử dụng, đó là toàn bộ khối
lượng thời gian mà những người lao động có khả năng và sẵn sàng làm việc với những
mức tiền công khác nhau trong một thời gian nhất định. Cung về lao động phụ thuộc vào
các yếu tố sau:
- Số người tham gia lực lượng lao động xã hội.
- Mức tiền công thực tế được nhận.
- Mối quan hệ lợi ích giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi.
- Mức sống của dân cư.
- Trình độ phát triển, phong tục tập quán… Cầu về sức lao động (gọi tắt là cầu về lao động)
Cầu về lao động là số lượng sức lao động mà các chủ doanh nghiệp có khả năng
thuê và sẵn sàng thuê với các mức tiền công khác nhau trong một thời gian nhất định.
Cũng như cung, cầu về lao động cũng bị chi phối bởi nhiều yếu tố:
- Cầu về hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
- Tiền công lao động.
- Các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ.
- Mức độ ưu tiên đầu tư theo các ngành, vùng…
Quan hệ cung cầu về lao động chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó quan
trọng nhất là các yếu tố sau:

hợp chưa được xác định rõ ràng, cơ cấu kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch,
nhưng diễn ra chậm chạp và khó khăn.
Hai là, cung lớn hơn cầu về lao động còn được xem xét về mặt tăng cung lao động
với tỷ lệ còn cao, hàng năm lao động tăng 3,2% - 3,5%, dẫn đến mỗi năm có khoảng 1,1
triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Đến năm 2000 tỷ lệ tăng tự nhiên nguồn lao
động vẫn trên 2,8% [8, tr. 121-122]. Số này tham gia vào thị trường lao động ngày một
đông và với khả năng tự giải quyết việc làm rất khác nhau. Song họ có điểm chung rất cơ
bản là thường không có nghề. Vì vậy, công tác dạy nghề và phổ cập nghề trở thành vấn
đề cấp bách và có tính chiến lược, là khâu then chốt nâng cao chất lượng và sức cạnh
tranh của lao động trên thị trường.
Ba là, lao động nông thôn chiếm hơn 70% lao động của cả nước, nếu chỉ làm
thuần nông, tự cung, tự cấp, lao động thiếu hoặc không có việc làm lên đến 30%. Số này
sẽ tự do di chuyển ra thành phố hoặc khu công nghiệp tập trung để tìm kiếm việc làm.
Lao động tự do di chuyển từ nông thôn ra tìm kiếm việc làm ở thành thị và các vùng khác
sẽ làm cho cung về lao động trên thị trường lao động càng lớn. Bốn là, quan hệ cung cầu về lao động còn căng thẳng về mặt kết cấu, dẫn đến tình
trạng "thất nghiệp kết cấu". Điều này thể hiện ở chỗ một số ngành tiềm năng còn lớn, có
khả năng thu hút được nhiều lao động, nhưng chưa tạo ra được những điều kiện để biến
khả năng thành hiện thực (về vốn, hạ tầng cơ sở, kỹ thuật, công nghệ, thị trường tiêu
thụ…) như lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ và du lịch…ở một số vùng miền núi, đồng
bằng sông Cửu Long, ven biển còn nhiều đối tượng lao động và thiếu lao động, nhưng
khả năng di dân và di chuyển lao động đến rất hạn chế.
Trong khi đang có xu hướng đẩy lao động ra ở một số lĩnh vực, đồng thời lại xuất
hiện một số lĩnh vực và hình thức khác đang có khả năng thu hút thêm lao động như kinh
tế hộ gia đình, khu vực phi kết cấu, doanh nghiệp nhỏ, nhưng lại chưa có chính sách
khuyến khích thỏa đáng. Đặc biệt là thiếu một đội ngũ lao động trình độ cao để làm
việc trong một số lĩnh vực áp dụng công nghệ mới hoặc trong các khu chế xuất, các
đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…

Người sử dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp, nên đẩy mạnh đầu
tư tạo việc làm. Khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển, mở
ra khả năng to lớn tăng trưởng việc làm.
Đối với Nhà nước, vai trò trong giải quyết việc làm đã thay đổi cơ bản. Thay vì
bao cấp trong giải quyết việc làm, Nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chính sách
thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành chính và tạo điều kiện vật
chất đảm bảo cho mọi người được tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, tự do
hành nghề, hợp tác và thuê mướn lao động. Cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng
buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ý chí chủ quan của Nhà nước. Từng bước hình
thành cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế
và chính sách xuất khẩu lao động…
Giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp là mục tiêu xã hội hàng đầu của Đảng và
Nhà nước ta. Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm là chương trình trọng điểm
của Nhà nước. Đảng ta luôn coi: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện
vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân " [12, tr. 210].
Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước
phải tạo ra các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong
cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể. Có thể có rất nhiều chính sách tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn
chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao
động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau.
Theo Bộ luật Lao động, Nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lý hành chính về
lao động sang cơ chế thị trường. Việc triển khai Bộ luật này đã góp phần quan trọng vào
công cuộc xây dựng đất nước và ổn định xã hội trong thời gian qua. Từng bước hoàn
thiện hệ thống pháp luật: luật đầu tư nước ngoài, luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật
khuyến khích đầu tư trong nước… đã thúc đẩy các yếu tố của các thị trường, trong đó thị
trường lao động hình thành, mở ra tiềm năng mới giải phóng các tiềm năng lao động và

hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, hội nhập và mở
cửa, chính sách đất đai không chỉ là công cụ điều hành vĩ mô về kinh tế, mà còn trực tiếp
tác động đến đời sống xã hội, chính trị của đất nước, của các địa phương và cuộc sống
của hàng chục triệu con người.
Đối với nước ta đất đai là đối tượng cơ bản nhất của quá trình sản xuất và phát
triển việc làm, đặc biệt là ở nông thôn. Theo Luật Đất đai, đất đai thuộc sở hữu của toàn
dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Người nông dân được Nhà nước giao quyền sử
dụng ruộng đất lâu dài, được chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất để tập trung ruộng
đất vào các hộ gia đình có khả năng sản xuất nông nghiệp hàng hóa… Đó là những chính
sách rất cơ bản trong lĩnh vực ruộng đất, góp phần to lớn vào giải phóng tiềm năng lao
động, tạo mở việc làm. Tuy nhiên, dưới góc độ chính sách việc làm, cần tiếp tục hoàn
thiện chính sách đất đai theo hướng khuyến khích nông dân đầu tư khai phá và sử dụng có hiệu quả ruộng đất, tạo ra việc làm có giá trị kinh tế cao trên một đơn vị diện tích đất
canh tác.
Chính sách thuế
Thuế là nguồn thu quan trọng nhất, chủ yếu nhất của ngân sách Nhà nước, là công cụ
cơ bản điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư. Mặt khác, thuế còn là đòn bẩy mạnh mẽ
khuyến khích sản xuất phát triển, tạo mở việc làm. Xét cho cùng, thì vấn đề sau mới là quan
trọng nhất, quyết định nhất. Bởi vì chỉ có khuyến khích phát triển sản xuất, tạo việc làm mới
và tăng nguồn thu cho ngân sách ngày càng lớn. Mặc dù nước ta đã có luật thuế, Chính phủ
cũng luôn thay đổi mức thuế cụ thể cho phù hợp với thực tế. Song, để khuyến khích các chủ
thể kinh tế phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho nhiều người trong cơ chế thị trường,
Nhà nước "tiếp tục cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu,
thực hiện công khai, minh bạch, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước,
doanh nghiệp và dân cư; khuyến khích phát triển sản xuất và đảm bảo công bằng xã hội.
Tiến hành cải cách thuế giai đoạn 3 theo hướng thu hẹp dần các mức thuế suất, giảm tỷ
trọng thuế gián thu, áp dụng các sắc thuế mới như thuế thu nhập cá nhân, thuế bất động
sản" [12, tr. 327].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status