LUẬN VĂN:
Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào
thị trường EU giai đoạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam,
là một trong những biện pháp quan trọng để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần
giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì việc lựa chọn mặt hàng
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải
pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU trong giai
đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Đó cũng là lý do để tác giả chọn vấn đề "Xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU giai đoạn hiện nay" làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
ở nước ta những năm gần đây đã có một số công trình, bài viết xung quanh vấn
đề này, tiêu biểu như: PGS.TS. Vũ Chí Lộc: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường châu âu, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004; Bộ Thương
mại: Thị trường hàng dệt, may thế giới
và khả năng xuất khẩu của Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số
98-78-006; TS. Nguyễn Xuân Thắng: Thị trường EU và một số vấn đề đặt ra đối với
chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Thị trường EU
và các yêu cầu của thị trường EU đối với xuất khẩu của Việt Nam", Trường Đại học
Ngoại thương, Hà Nội, 11/2001; ThS. Nguyễn Thu Thủy: Ngành dệt may - xuất khẩu
Việt Nam với các thách thức mới, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 3(65), 2000;
TSKH. Trần Nguyễn Tuyên: Thực trạng và triển vọng phát triển quan hệ kinh tế EU -
Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6(98), 2004; Từ Thanh Thủy: Mười
năm quan hệ thương mại Việt Nam - EU, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2(64),
2000
Các công trình, bài viết nói trên đã tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về
mặt lý luận và thực tiễn hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung, xuất khẩu hàng dệt
may nói riêng. Song cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam vào thị trường EU dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị để đưa ra
những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
vào thị trường EU, đặc biệt trong điều kiện hàng dệt may Việt Nam được tự do xuất khẩu
vào thị trường EU kể từ 1/1/2005. Vì thế, đề tài luận văn này không trùng lặp với các
công trình, bài viết đã công bố và vẫn cần thiết, có tính thời sự cấp bách.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin. Trong quá trình thực hiện, luận
văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: điều tra khảo sát, thu thập số liệu, tiến hành phân
tích, đánh giá để rút ra các kết luận cần thiết làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
6. Giá trị thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu,
hoạch định chính sách xuất nhập khẩu và phát triển ngành dệt may Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo ở phạm vi nhất định cho việc giảng dạy môn khoa học chuyên ngành.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
cơ sở lý luận - thực tiễn của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị
trường EU
1.1. phát triển hàng dệt may và vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với
sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm của phát triển hàng dệt may
Các sản phẩm dệt may gắn liền với nhu cầu tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng xã hội,
tiêu dùng sản xuất. Trong đó tiêu dùng cá nhân - mặc là một trong những nhu cầu vật
chất thiết yếu nhất của con người, chiếm tỷ trọng cao nhất và quyết định sự phát triển
ngành dệt may. Sản phẩm của ngành dệt may là một trong những hàng hóa đầu tiên tham
gia vào mậu dịch quốc tế. Sự tồn tại và phát triển của ngành dệt may gắn liền với sự phát
triển của xã hội loài người. Xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được cải
thiện, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nói chung, sản phẩm dệt may nói riêng, ngày càng tăng
lên. Mặt khác, tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn tới khả năng đáp ứng ngày càng tốt hơn
những nhu cầu phong phú, đa dạng của con người cả về số lượng, chất lượng và mẫu mã
thời trang.
Ngành dệt may trên thế giới đã trải qua quá trình phát triển lâu dài- từ sản xuất
nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của người tiêu dùng. Do vậy, bên cạnh các
máy móc, thiết bị sử dụng công nghệ hiện đại thì trong một số khâu của ngành dệt may
vẫn có thể kết hợp sử dụng các công nghệ trung bình trong sản xuất. Đây là đặc điểm
quan trọng giúp các nước đang phát triển có cơ hội đầu tư cho ngành công nghiệp dệt
may trong điều kiện còn nhiều hạn chế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý
Ngành dệt may là ngành công nghiệp thu hút được nhiều lao động và lao động
của ngành dệt may đa phần thuộc loại lao động phổ thông, dễ đào tạo. Do vậy, các nước
có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ có thể phát huy được lợi thế của mình
trong phát triển công nghiệp dệt may. Thực tiễn phát triển ngành công nghiệp dệt may ở
nhiều nước cho thấy tầm quan trọng của ngành này trong việc thu hút lao động. Theo tác
giả Dương Đình Giám [10, tr. 19-20], lao động trong ngành dệt may của Trung Quốc lên
tới
15 triệu người, của Banglades xấp xỉ 10 triệu lao động. Ngay cả ở khu vực EU - một trong
những khu vực kinh tế phát triển nhất thế giới thì ngành dệt may vẫn thu hút một lượng
đáng kể lao động. Lao động trong ngành dệt may tại EU sau khi kết nạp thêm 10 thành
viên mới vào năm 2004 là khoảng 2,7 triệu người. Phần lớn lao động trong ngành dệt
may không đòi hỏi trình độ hiểu biết cao, chỉ cần sự tinh xảo, khéo léo ở mức độ cần
thiết, do đó cũng phải được đào tạo ở một mức độ nhất định mới có thể đáp ứng được yêu
cầu sản xuất công nghiệp, nhất là trong việc điều khiển các máy móc, thiết bị hiện đại.
Một bộ phận của lao động trong ngành dệt may, tuy không cần số lượng đông nhưng đòi
hỏi trình độ chuyên môn cao về khoa học công nghệ, về thiết kế mẫu mã, về quản lý. Đội
ngũ này đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển hàng dệt may xuất khẩu.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ngành dệt may trong tương lai sẽ
chịu tác động của những bước đột phá công nghệ cho phép giảm sự phụ thuộc vào chi phí
nhân công của lao động phổ thông. Tuy nhiên, dù có được hiện đại hóa đến mức nào, thì
trước mắt và lâu dài, ngành dệt may vẫn tồn tại những công đoạn cần tới lao động thủ
công của con người.
Thứ hai: Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, dưới tác động của cách mạng
khoa học công nghệ, không có một quốc gia nào khép kín phát triển ngành dệt may để
triển được ngành trồng dâu nuôi tằm) với chất lượng sản phẩm cao, sẽ chủ động nguồn
nguyên liệu và khi kết hợp được các nguồn lực khác như vốn, lao động, công nghệ, thì sẽ
có nhiều lợi thế trong việc hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của hàng
dệt may của nước đó, từ đó làm cho ngành dệt may phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên, ngày nay không quốc gia nào chọn hình thức khép kín, phát triển tất
cả các công đoạn của ngành dệt may cũng như các ngành có mối quan hệ mật thiết, có
ảnh hưởng quan trọng đến phát triển ngành dệt may. Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế
hiện nay, dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, hàng hóa và dịch vụ của mỗi
nước có cơ hội mạnh mẽ để phát triển trên thị trường tiêu thụ quốc tế, điều đó làm kích
thích tính chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Xu thế chung hiện nay
là các nước phát triển tập trung vào việc sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm dệt may có
hàm lượng kỹ thuật cao, các mặt hàng cao cấp với mẫu mã, thời trang mới và các sản
phẩm phục vụ cho công nghiệp dệt may trong các ngành hóa chất, chế tạo máy móc, thiết
bị với công nghệ hiện đại. Còn các nước đang phát triển tập trung sản xuất, xuất khẩu các
sản phẩm dệt may giá rẻ, cần nhiều nhân công. Các quốc gia đều chú trọng đến việc xuất
khẩu các sản phẩm ở các công đoạn của ngành dệt may mà mình có lợi thế tuyệt đối và
tương đối trên thị trường quốc tế.
Thứ ba: Sản phẩm dệt may có tính nhạy cảm cao trong thương mại quốc tế.
Các sản phẩm dệt may lâu nay thường được các nước trên thế giới bảo hộ chặt
chẽ bằng những chính sách, thể chế đặc biệt. Việc bảo hộ đối với sản phẩm dệt may
không chỉ xuất hiện ở những nước đang phát triển tham gia xuất khẩu hàng dệt may,
thường muốn bảo hộ sản xuất trong nước, mà các nước phát triển-đóng vai trò là các
nước nhập khẩu lớn, cũng đặt ra nhiều rào cản để hạn chế việc gia tăng nhập khẩu sản
phẩm dệt may từ các nước đang phát triển. Cùng với hàng rào thuế quan, từng nước còn
đề ra những điều kiện riêng về kỹ thuật, môi trường, lao động… đối với hàng dệt may
nhập khẩu. Những rào cản đó đã gây nên những căng thẳng trong thương mại quốc tế và
ảnh hưởng lớn đến đến việc sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới. Thực chất
của việc đặt ra các rào cản chính là do các nước phát triển muốn khống chế và chi phối
các nước đang phát triển thông qua việc hạn chế lợi thế so sánh của các nước này.
phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật đã làm thay đổi về cơ cấu sản xuất của các
nước. Công nghiệp dệt may thường đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang trong
giai đoạn công nghiệp hóa. Khi một nước trở thành nước công nghiệp phát triển có trình
độ công nghệ cao, giá nhân công cao thì nước đó thường tập trung đầu tư vào những
ngành công nghiệp khác có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, tốn ít lao động và mang lại lợi
nhuận cao. Khi đó, công nghiệp dệt may lại phát huy vai trò của mình ở các nước khác
kém phát triển hơn. Từ cuối thế kỷ XVIII, ngành dệt may đã phát triển mạnh mẽ ở nước
Anh, sau đó đã có sự chuyển dịch sản xuất hàng dệt may từ nước Anh sang các nước
châu âu khác và khu vực Bắc Mỹ vào giữa thế kỷ XIX. Chuyển dịch sản xuất lần thứ hai
của ngành dệt may thế giới là chuyển dịch từ châu âu sang Nhật Bản vào những năm 40,
thế kỷ XX. Sau đó công nghiệp dệt may lại được chuyển dịch từ Nhật Bản sang các nền
kinh tế mới ở châu á như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và vào những năm 80 thế kỷ
XX, khi các nền kinh tế mới ở châu á có sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tập trung đầu tư
cho các ngành có công nghệ và kỹ thuật sản xuất cao như điện tử, ô tô thì công nghiệp
dệt may lại được chuyển dịch sang các nước kém phát triển hơn như Trung Quốc, Thái
Lan, Indonexia, Maylayxia, Bangladesh, Việt Nam… Trong tương lai, ngành dệt may sẽ
còn tiếp tục dịch chuyển tới các nước kém phát triển hơn.
Toàn cầu hóa kinh tế có tác động mạnh mẽ đến quá trình phân công chuyên môn
hóa và hợp tác trên phạm vi quốc tế đối với phát triển ngành công nghiệp dệt may. Trong
quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, ngành dệt may Việt Nam có nhiều cơ hội tận
dụng các nguồn tài chính từ bên ngoài dưới nhiều hình thức như vay vốn, kêu gọi đầu tư
trực tiếp, gián tiếp, hợp tác kinh doanh Việc tranh thủ được nguồn vốn từ bên ngoài là
yếu tố rất quan trọng để ngành dệt may Việt Nam có thể tập trung đầu tư đổi mới trang
thiết bị, mở rộng sản xuất trong điều kiện nguồn vốn tích luỹ từ trong nước còn nhiều hạn
chế. Dưới con mắt của nhiều nhà đầu tư nước ngoài thì ngành dệt may nước ta hiện nay
còn nhiều tiềm năng phát triển và có thể mang lại những nguồn lợi lớn hơn ở những quốc
gia khác. Do vậy, thời gian tới dệt may vẫn tiếp tục là lĩnh vực có thể thu hút nhiều nhà
đầu tư nước ngoài. Bên cạnh yếu tố về vốn, ngành dệt may nước ta có điều kiện để tiếp
cận trực tiếp các công nghệ, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý từ các nước có
có sự gia tăng to lớn về lượng hàng xuất khẩu may mặc sang các thị trường nhập khẩu
lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, giá cả hàng dệt may sẽ giảm và nhiều nước xuất khẩu hàng
dệt may sẽ khó đứng vững trong cuộc cạnh tranh mang tính chất toàn cầu này. Nhiều
nước sẽ phải đương đầu với sức ép cạnh tranh vô cùng lớn từ những nước có tiềm lực
mạnh về phát triển hàng may mặc xuất khẩu giá rẻ, điển hình là Trung Quốc. Nghiên cứu
của Ngân hàng thế giới dự đoán rằng thị phần của Trung Quốc trong sản xuất hàng may
mặc trên thế giới sẽ tăng lên trên 50% vào năm 2010. Sau Trung Quốc thì ấn Độ,
Bănglades, Pakistan cũng được đánh giá là những nước có khả năng nâng cao vị thế của
mình trong thị trường dệt may thế giới.
Để duy trì và phát triển hàng dệt may xuất khẩu, đòi hỏi các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam phải nhanh chóng đề ra các chiến lược, chính sách và biện pháp
thích hợp về sản xuất, công nghệ, marketing… nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng dệt may nước mình trên thị trường thế giới.
1.1.2.2. Các nhân tố của Việt Nam
- Đổi mới kinh tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố đầu tiên để phát triển công nghiệp dệt may
Việt Nam theo hướng hiện đại
Đường lối đổi mới kinh tế được Đảng ta đề ra và lãnh đạo đất nước thực hiện gần
20 năm qua đã đem lại những kết quả hết sức to lớn. Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương
đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế được thực hiện sâu rộng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế, trong đó có ngành dệt may.
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, ngành công nghiệp dệt may ở các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam đều hướng mạnh về xuất khẩu. Thị trường nước ngoài có một vị
trí rất quan trọng trong phát triển ngành dệt may Việt Nam. Do vậy, quan hệ đối ngoại giữa
Việt Nam với các nước, các khu vực trên thế giới có tác động to lớn đến phát triển kinh tế
quốc dân nói chung, ngành dệt may nói riêng. Nếu quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các
nước, các khu vực trên thế giới không được mở rộng thì Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn
cả trong việc tìm kiếm thị trường đầu vào (vốn, nguyên liệu, công nghệ) và thị trường đầu
giới - chỉ sau Trung Quốc), nhiều địa phương có truyền thống trồng bông và trồng dâu
nuôi tằm. Tuy nhiên, thời gian qua, do đầu tư không đồng bộ nên những lợi thế về tài
nguyên đó chưa được khai thác tốt. Hàng năm, nước ta phải chi khoảng 100 triệu USD
cho nhập khẩu nguyên liệu bông và vẫn phải nhập tơ sống từ Trung Quốc để xe tơ và dệt
lụa với số lượng lên đến trên 200 tấn/năm. Nghịch lý này còn cho thấy chúng ta chưa
thực hiện tốt việc phân công, hiệp tác giữa các ngành để phát triển ngành dệt may. Ngành
trồng bông, trồng dâu chưa được chú trọng đầu tư đúng mức về vốn, về công nghệ, đời
sống người lao động trong các ngành này chưa được đảm bảo. Trong những năm qua,
việc chủ động trong nguyên phụ liệu nước ta là chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển của ngành dệt may nước ta.
Nước ta cũng có điều kiện thuận lợi về mặt địa lý để phát triển ngành dệt may.
Nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam á, Việt Nam ở trong
khu vực châu á - Thái Bình Dương là khu vực năng động của thế giới. Với diện tích
330.363 km
2
đất liền và phần biển rộng lớn chạy suốt theo chiều dài biên giới 3.260 km
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may trong vận chuyển hàng hóa xuất
khẩu bằng đường biển, giúp giảm chi phí vận chuyển, tạo lợi thế trong cạnh tranh về giá
với sản phẩm dệt may các nước khác.
+ Đội ngũ lao động:
Sự dồi dào về nguồn lao động và mức tiền lương thấp ở các nước đang phát triển
là điều kiện quan trọng để các nước này đi vào phát triển ngành công nghiệp dệt may.
Việt Nam là nước có dân số đông và trẻ trong khu vực và trên thế giới. Dân số Việt Nam
hiện nay có trên 80 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 45 triệu
người. Trong hơn thập kỷ qua, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta đã có những
chuyển biến tích cực, được minh chứng rõ nét qua sự tăng lên về sức khỏe, trình độ văn
hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật. Lực lượng lao động dồi dào và được đánh giá là khéo
tay, nhanh nhẹn, thích hợp với những công việc tỷ mỷ, đó là lợi thế lớn của Việt Nam
trong phát triển ngành dệt may. Tuy nhiên, để phát triển ngành công nghiệp dệt may theo
hướng hiện đại, đòi hỏi phải có chính sách đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực này một cách
lượng vốn đầu tư cũng không phải là nhỏ, đặc biệt là đối với các nước đang trong giai đoạn
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với cơ sở vật chất còn rất lạc hậu như Việt Nam
hiện nay.
Không những chỉ có các nước đang phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu
mới chú trọng đến việc đầu tư vốn để nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh hàng dệt
may mà việc đầu tư vốn cho phát triển công nghiệp dệt may cũng là vấn đề được quan tâm
ở nhiều nước đã có ngành công nghiệp dệt may phát triển. Trong năm 1995, Hàn Quốc đã
đầu tư cho ngành dệt 3 tỷ USD, tăng 58,1% so với năm 1994. Để nâng cao năng lực cạnh
tranh của sản phẩm hàng dệt may trên thị trường thế giới, Hiệp hội các nhà may mặc Thổ
Nhĩ Kỳ ước tính phải đầu tư 6 tỷ USD để hiện đại hóa máy móc và đổi mới công nghệ
trong giai đoạn 2000-2005 [10, tr. 33].
Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam hiện nay xác định mục tiêu đến
năm 2010 xuất khẩu hàng dệt may đạt kim ngạch 8 tỷ đến 9 tỷ USD, tỷ lệ giá trị nguyên
phụ liệu nội địa trên sản phẩm dệt may xuất khẩu đạt trên 70% đến năm 2010… Để đạt
được mục tiêu, Chiến lược cũng xác định tổng vốn đầu tư phát triển ngành dệt may Việt
Nam cho giai đoạn 2001-2005 vào khoảng 35.000 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư cho giai đoạn
2006-2010 khoảng 30.000 tỷ đồng. Đây là khoản vốn rất lớn trong điều kiện nước ta hiện
nay, đòi hỏi phải huy động từ nhiều nguồn mới có thể đáp ứng được yêu cầu.
- Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với phát triển công nghiệp dệt may
Để ngành công nghiệp dệt may phát triển cần rất nhiều nhân tố tác động cả từ
bên trong và bên ngoài nền kinh tế. Giao lưu quốc tế mở rộng tác động mạnh mẽ đến nhu
cầu tiêu dùng các sản phẩm dệt may, dẫn đến kích thích sản xuất phát triển. Trình độ phát
triển kinh tế và các lợi thế so sánh của một nước, bao gồm trình độ công nghệ, nguồn
nhân lực, khả năng cung ứng nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu là những nhân tố quan trọng
chi phối vị trí của công nghiệp dệt may trong nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, vị trí của
các ngành công nghiệp nói chung, ngành dệt may nói riêng không phải là bất di bất dịch
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước, mà nó phải phù hợp với điều kiện và chủ
trương phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn. Một ngành kinh tế có thể từ
vị trí mũi nhọn trở thành một ngành kém phát triển hơn các ngành khác, và ngược lại nếu
lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 được xây dựng và Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt.
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta
Hiện nay, ngành dệt may đã trở thành một trong những ngành có tốc độ phát triển
cao, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu hàng
năm hiện đứng thứ hai (sau dầu thô). Xuất khẩu hàng dệt may có vai trò to lớn đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, thể hiện ở những điểm sau:
- Phát triển xuất khẩu hàng dệt may có tác động trực tiếp đến công nghiệp dệt
may Việt Nam
Từ nhiều thập kỷ qua, ngành công nghiệp dệt may luôn có một vị trí quan trọng
trong nền kinh tế Việt Nam. Đó là ngành công nghiệp tạo nhiều việc làm cho người lao
động và đảm bảo nhu cầu may mặc tối thiểu cho nhân dân. Từ khi Đảng và Nhà nước ta
tiến hành công cuộc cải cách kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, nhưng đã có sự thay đổi sâu sắc và nhanh chóng trong mục tiêu và định
hướng phát triển. Cũng như các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nền kinh tế, ngành dệt may nước ta hiện nay là ngành kinh tế hướng về xuất khẩu, lấy
việc xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài là yếu tố sống còn. Do vậy, mặc dù
sản phẩm của ngành dệt may vẫn rất cần thiết cho việc phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong
nước nhưng yếu tố trực tiếp quyết định đến khả năng phát triển ngành công nghiệp dệt
may nước ta hiện nay chính là việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Xuất khẩu hàng dệt may được đẩy mạnh giúp tạo nhiều công ăn việc làm, cải
thiện đời sống cho người lao động trong ngành dệt may và các ngành phụ trợ. Ngành dệt
may ở nước ta hiện nay là một ngành sử dụng nhiều lao động, phần lớn là lao động phổ
thông. Hiện nay, có khoảng 2 triệu lao động làm việc trong ngành công nghiệp dệt may,
chưa kể lực lượng lao động tham gia trong các lĩnh vực phát triển cây bông và trồng dâu
nuôi tằm (ước tính hiện nay khoảng 70.000 người). Theo chiến lược tăng tốc phát triển
ngành dệt may, đến năm 2010 ngành dệt may phải đáp ứng được nhiệm vụ là tạo công ăn
và có tác động tích cực tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế của Việt
Nam. Sản xuất nông nghiệp, cụ thể là nghề trồng dâu và nuôi tằm chịu ảnh hưởng lớn của
phát triển ngành công nghiệp dệt may. Các sản phẩm có nguồn gốc từ bông và tơ tằm
đang và sẽ vẫn tiếp tục chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sản phẩm dệt may thế giới. Để việc
xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng ổn định và bền vững thì điều quan trọng đặt ra là
phải phát triển nguồn nguyên liệu nội địa. Khi đó phải có sự đầu tư lớn để tạo điều kiện
cho ngành trồng bông và trồng dâu phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển của công nghiệp dệt may có tác động tích cực đến sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế các vùng. Vùng có ngành dệt may phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của
các ngành sản xuất phụ trợ cho ngành dệt may, từ đó tăng tỷ trọng công nghiệp trong cơ
cấu nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng sẽ kéo theo hàng loạt các thay đổi
về mặt kinh tế xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển các ngành
kinh tế mũi nhọn, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Xuất khẩu hàng dệt may góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và là một
nguồn thu ngoại tệ quan trọng, đóng góp to lớn vào quá trình tích lũy vốn phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu hàng hóa có vai trò rất quan trọng.
Với những đặc trưng của mình, ngành dệt may Việt Nam thời gian qua đã vươn lên là
một trong những ngành xuất khẩu chủ lực. Hàng dệt may Việt Nam đã được xuất khẩu đến
nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới. Xuất khẩu dệt may phát triển tạo cơ hội mở rộng
các mối quan hệ thương mại nói riêng, quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung của Việt Nam
với khu vực và thế giới. Hàng dệt may xuất khẩu nước ta ngày càng được người tiêu
dùng ở nhiều nước trên thế giới biết đến đã tạo ảnh hưởng tốt đến uy tín của hàng hóa
Việt Nam xuất khẩu nói chung và do vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng khác
xâm nhập vào các thị trường mà hàng dệt may Việt Nam đã có chỗ đứng.
Với vị trí là ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, ngành dệt may nước ta đã đóng góp đáng kể vào quá trình tích lũy vốn
để phát triển kinh tế. Phát triển xuất khẩu hàng dệt may giúp Nhà nước thu được một
thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) vào năm 1951. Năm 1957, các nước này
ký Hiệp ước Roma thành lập Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu âu (EURATOM) và
Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC). Từ năm 1965, cơ quan điều hành các cộng đồng trên
được hợp nhất và gọi là Cộng đồng châu Âu (EC). Việc hợp nhất này xác nhận một cấp
độ nhất thể hóa kinh tế cao hơn giữa các quốc gia EC, thể hiện việc thành lập một thị
trường thống nhất; trong đó, ngoài việc hàng hóa, lao động và vốn đầu tư được tự do di
chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng được dỡ bỏ, hệ thống thuế quan và
chính sách thương mại chung được thành lập, một số chính sách đối với các lĩnh vực kinh
tế khác cũng được thống nhất để tăng sức cạnh tranh với các khối kinh tế bên ngoài, tiến
tới một liên minh chặt chẽ về chính trị. Hiệp ước Maastricht thành lập Liên minh châu Âu
(EU) được ký ngày 7/2/1992 tại Maastricht - Hà Lan, với sự nhất trí hoàn toàn của 12 nước
thành viên EC lúc đó. Với những quy định tại Hiệp ước Maastricht, EU đã được bổ sung
thêm các nội dung liên kết mới về các mặt an ninh, chính trị, đối ngoại; tiến tới hợp nhất
về kinh tế thông qua việc tạo ra một khu vực kinh tế rộng lớn, một khu vực thị trường tự
do, thống nhất, tạo điều kiện cho việc thống nhất về chính trị và hài hòa về xã hội trong
liên minh.
Trong lịch sử phát triển của mình, EU đã có 5 lần mở rộng thông qua việc kết
nạp thêm các nước châu Âu. Lần mở rộng thứ năm vào 1/5/2004 đã kết nạp thêm 10
thành viên mới, là các quốc gia thuộc Đông và Trung Âu: Séc, Hunggaria, Ba Lan,
Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta và Síp. Đây là lần kết nạp đông nhất từ
trước đến nay và đưa số thành viên hiện nay của EU lên 25 nước thành viên với diện tích
4 triệu km
2
, dân số 455 triệu người. Việc mở rộng lần này cũng giống như những lần
trước ở chỗ là tạo thêm sức mạnh, sự gắn kết và tạo thêm ảnh hưởng của Liên minh trên
trường quốc tế, giúp EU có vị trí vững chắc hơn để đối phó với những thách thức của quá
trình toàn cầu hóa. Với lần mở rộng này, EU trở thành khối liên kết kinh tế lớn và là thị
trường tiềm năng nhất thế giới. EU sẽ có một diện mạo mới và cả một tầm vóc mới cả về
kinh tế, chính trị trên trường quốc tế.