Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại công ty dịch vụ du lịch và thương mại TST - Pdf 15


Luận văn

Thực trạng và một số giải
pháp kỹ thuật nghiệp vụ
nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động nhập khẩu tại
công ty dịch vụ du lịch và
thương mại TST
1

LỜI NÓI ĐẦU

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cơ
chế quản lý kinh tế nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong bối cảnh mới, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở rộng quan
hệ ngoại thương. Kinh doanh xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng
trong công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước. Xuất khẩu là nguồn tăng thu
ngoại tệ, nâng cao khả năng phát triển nền kinh tế. Song nhập khẩu lại là điều
kiện cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở rộng, thực hiện công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Nhập khẩu cho phép tận dụng được tiềm năng về khoa
học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới.
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước nhu cầu về máy móc thiết
bị, vật liệu vật tư không ngừng tăng lên . Cùng với tiến trình phát triển của đất
nước, công ty Thương mại du lịch và dịch vụ TST đã không ngừng vươn lên
tự hoàn thiện mình. Hoạt động kinh doanh XNK nói chung và kinh doanh
nhập khẩu máy móc thiết bị, vật liệu vật tư nói riêng đã đạt được những kết


CHƯƠNG I
NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ - MỘT HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế.
1.1. Khái niệm và vai trò của Thương mại Quốc tế đối với sự phát
triển của mỗi Quốc gia.
Thương mại quốc tế là mối quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa một
quốc gia với quốc gia khác, là một bộ phận trong quan hệ kinh tế quốc tế của
một nước với các nước khác trên thế giới.
Thương mại Quốc tế làm tăng khả năng thương mại của mỗi quốc gia.
Từ sự khác biệt về tài nguyên, khoáng sản, lực lượng sản xuất, kỹ thuật công
nghệ… đã làm cho chi phí để sản xuất ra mỗi sản phẩm có sự khác biệt giữa
nước này với nước khác.
Thương mại Quốc tế góp phần mở rộng thị trường của mỗi quốc gia.
Thương mại Quốc tế trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu dẫn
đến cạnh tranh, theo dõi, kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ thể kinh
doanh Thương mại Quốc tế.
Thương mại Quốc tế cho phép mua được những hàng hoá và dịch vụ ở
những thị trường có giá rẻ hơn, sau đó bán chúng ở những thị trường có giá
cao. Nhưng điều lý thú hơn cả là không phải lúc nào ta cũng mua được các
sản phẩm có giá rẻ và bán chúng với giá đắt mà cái chính là chúng ta lợi dụng
được lợi thế so sánh, nhờ đó qua trao đổi Quốc tế mà cả hai bên đều có lợi.
Nói đến Thương mại Quốc tế không thể không tìm hiểu về các lý
thuyết kinh tế, đặc biệt là quy luật lợi thế so sánh. Quy luật lợi thế so sánh

năng của nước chúng ta trong phân công lao động Quốc tế một cách có lợi

5

nhất. Thương mại Quốc tế chỉ ra cho một nước lợi thế của mình, nên đầu tư
vào đâu, đầu tư vào lĩnh vực nào có lợi nhất. Nhập khẩu sẽ giúp chúng ta gỡ
những vướng mắc mà những nước nghèo thường mắc phải, phương châm đó
là vay mượn công nghệ nước ngoài trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu.
Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành hoạt động ngoại
thương. Có thể hiểu đó là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục
vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi. Nhập
khẩu thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia
với nền kinh tế Thế giới. Hiện nay khi các nước đều có xu hướng chuyển từ
đối đầu sang đối thoại, nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập với nền kinh tế Thế
giới thì vai trò của nhập khẩu đã trở nên vô cùng quan trọng.
- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu
dùng một lượng hàng hoá lớn hơn khả năng sản xuất trong nước và tăng mức
sống của nhân dân.
- Nhập khẩu làm đa dạng hoá mặt hàng về chủng loại, quy cách, mẫu
mã cho phép thoả mãn nhu cầu trong nước.
- Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển
vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều
về trình độ phát triển trong xã hội.
- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra
động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên,
tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.
- Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế
đóng, chế độ tự cấp, tự túc.
- Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hoá hiếm hoặc

ngoài, còn hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nước thì sau khi hàng về sẽ lập.

7

3.2. Nhập khẩu uỷ thác.
Hoạt động nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa
một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số
mặt hàng nhập khẩu nhưng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối
tác kinh doanh nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao
dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình. Bên
nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập
khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một hoa hồng gọi là phí uỷ
thác. Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được
quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác.
Nhập khẩu uỷ thác có đặc điểm: trong hoạt động nhập khẩu này, doanh
nghiệp Xuất nhập khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn
ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu
thụ hàng nhập mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn
hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt
cho bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì đại diện của các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính
doanh số, không chịu thuế doanh thu. Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu này (nhận uỷ thác) phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài
- Một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.
3.3. Nhập khẩu liên doanh.
Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuật
một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng

một nước hay một nhóm nước, điều đó không những chỉ ảnh hưởng đến nước
đó mà còn ảnh hưởng đến các nước có quan hệ kinh tế xã hội với những nước

9

đó. Đồng thời, hoạt động xuất nhập khẩu phải nhất định tuân theo những quy
định luật pháp Quốc tế chung. Luật pháp quốc tế buộc các nước vì lợi ích
chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt
động của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tưởng cũng
như hiệu quả cao trong hoạt động này. 4.2. Tỷ giá hối đoái.
Nhân tố này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định mặt hàng, bạn
hàng, phương án kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh
nghiệp xuất nhập khẩu mà tới tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu nói chung. Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây ra những biến động lớn
trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Ví dụ khi tỷ giá hối đoái của
đồng tiền thanh toán có lợi cho việc nhập khẩu thì lại bất lợi cho xuất khẩu và
ngược lại.
Mặt khác có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá
hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái thả nổi tự do và tỷ giá hối đoái thả nổi có
quản lý. Vì vậy khi tiến hành bất cứ một hoạt động thương mại xuất nhập
khẩu nào, doanh nghiệp cũng cần nắm vững xem hiện nay quốc gia mà mình
định hoạt động đang áp dụng loại tỷ giá nào, bởi việc ấn định này sẽ có ảnh
hưởng rất lớn đến lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanh hàng nhập
khẩu.
4.3. Sự biến động thị trường trong nước và nước ngoài.
Có thể hình dung hoạt động nhập khẩu như một chiếc cầu nối thông
thương giữa hai thị trường: đầu cầu bên này là thị trường trong nước, đầu cầu

do chủ thể của hoạt động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu, sự phát triển của doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện một
cách có hiệu quả các hoạt động nhập khẩu. Trong một nước mà các doanh

11
nghiệp Thương mại không được tự chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâu
của Nhà nước thì hoạt động nhập khẩu cũng không thể phát huy thế chủ động,
tinh thần sáng tạo không thể vươn mạnh ra nước ngoài từ đó tạo ra sự bí bách
trong nền kinh tế.
4.5. Hệ thống tài chính ngân hàng.
Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh,
nó can thiệp sâu tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dưới
hình thức nào, thuộc thành phần kinh tế nào.
Có được điều đó là bởi nó đóng vai trò hết sức to lớn trong hoạt động
quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, chính
xác, nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực
hiện được nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên các
thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho
họ về mặt lợi ích kỹ thuật cũng như xã hội và cũng nhiều trường hợp do có
lòng tin với ngân hàng mà các doanh nghiệp với số lượng vốn lớn kịp thời tạo
điều kiện cho doanh nghiệp chớp được những thời cơ kinh doanh.
4.7. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc:
Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời với hoạt động
vận chuyển và thông tin liên lạc. Nhờ có thông tin liên lạc hiện đại mà công
việc có thể tiến hành thuận lợi, kịp thời. Còn việc vận chuyển hàng hoá từ
nước này sang nước khác là một công việc hết sức quan trọng trong hoạt động
nhập khẩu. Do đó sự hiện đại hoá công việc nghiên cứu và áp dụng những
công nghệ tiên tiến của khoa học kỹ thuật vào hệ thống thông tin và giao
thông vận tải là tất yếu ảnh hưởng to lớn đến hoạt động nhập khẩu.
Trên đây, chúng ta đã xem xét một số nhân tố chính ảnh hưởng có tính

để nhập khẩu hàng hoá về thoả mãn đúng, đủ, kịp thời những nhu cầu đó.

13
* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống? Tình hình sản
xuất mặt hàng đó ở trong nước như thế nào?
Mỗi sản phầm hàng hoá đều có chu kỳ sống riêng. Chu kỳ sống của
mỗi sản phẩm bao gồm các pha: pha giới thiệu, pha phát triển, pha hưng
thịnh, pha bão hoà, pha suy thoái, ở mỗi pha chu kỳ sống, nhu cầu của người
tiêu dùng về sản phẩm là rất khác nhau, biểu hiện ra thành hành động mua
cũng cũng rất khác nhau. Do vậy để kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao
cần thiết phải nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm và nắm bắt được sản
phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống.
Bên cạnh nghiên cứu nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu, cần phải nghiên
cứu để biết được cung trong nước về hàng hoá đó. Chênh lệch nhu cầu về
hàng hoá và cung trong nước của hàng hoá đó chính là nhu cầu về hàng hoá
nhập khẩu. Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đến cung của một hàng hoá
là khả năng sản xuất và tốc độ phát triển sản xuất của hàng hoá đó. Do vậy,
muốn biết được nên kinh doanh nhập khẩu mặt hàng gì với số lượng là bao
nhiêu cần phải nghiên cứu tình hình trong nước về sản xuất mặt hàng đó như
thế nào.
1.2. Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế.
Một trong những yếu tố quan trọng của thị trường là cung về hàng hoá.
Kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế là
một yếu tố khách quan.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế bao gồm việc nghiên cứu toàn
bộ quá trình tái sản xuất trên phạm vi quốc tế. Tức là việc nghiên cứu không
chỉ dừng lại ở lĩnh vực lưu thông mà còn nghiên cứu cả trong lĩnh vực sản
xuất và phân phối hàng hoá.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá nhằm hiểu biết về quy luật hoạt động
của chúng- thể hiện qua nhu cầu, cung ứng, và giá cả - liên hệ với điều kiện


15
thời vụ đến dung lượng thị trường của những hàng hoá khác nhau cũng rất
khác nhau. Nghiên cứu nhân tố này đòi hỏi phải nắm vững đặc điểm của mặt
hàng kinh doanh và tính chất thời vụ của nó để ra các quyết định đúng đắn về
hành động mua, vận chuyển và phân phối hàng hoá đó trong nước.
* Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài.
Có những nhân tố không làm thay đổi dung lượng thị trường hàng hoá
một cách nhanh chóng mà ta có thể dễ dàng nhận biết ngay được. Những nhân
tố này có thể gây những biến động rất lớn về dung lượng thị trường nhưng
phải trải qua một quá trình chứ không phải trong một thời gian ngắn. Có thể
đến các nhân tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp và chính sách
của nhà nước và các tập đoàn tư bản lũng đoạn, thị hiếu và tập quán người
tiêu dùng, ảnh hưởng của các hàng hoá thay thế.
* Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời:
Các nhân tố có thể kể đến là: các yếu tố tự nhiên, thiên tai, bão lụt, hạn
hán gây ra sự biến đổi cung cầu của một số mặt hàng nhất định. Cần phải
nghiên cứu các yếu tố này để có thể đối phó được với các tình huống bất ngờ
xảy ra.
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên phạm vi thị trường thế giới.
Trên thị trường thế giới, giá cả không những phản ánh mà còn điều tiết
cung cầu. Việc xác định đúng đắn giá cả trên thị trường quốc tế trong hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả
Thương mại Quốc tế. Cụ thể nó sẽ làm tăng thu ngoại tệ trong xuất khẩu và
giảm chi ngoại tệ trong nhập khẩu.
* Dự đoán xu hướng biến động của giá cả và các nhân tố ảnh hưởng
đến xu hướng ấy.
Tuỳ theo mục đích mà dự báo xu hướng biến động của giá cả trong thời
gian ngắn và dài. Kết quả nghiên cứu dự báo trong thời gian dài thường được


đoán được xu hướng biến động của giá cả trên thị trường thế giới, từ đó xác
định được mức giá cho từng mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập.
Nếu hàng hoá nhập khẩu là đối tượng giao dịch phổ biến hoặc có các
trung tâm giao dịch quốc tế thì nhất thiết phải tham khảo thị trường thế giới
về hàng hoá đó. Đồng thời cần tham khảo giá xuất khẩu loại hàng hoá đó từ
khu vực thị trường các nước bạn hàng đi các nước nhập khẩu khác. Cần chú ý
tới cước phí vận tải, các chế độ ưu đãi thuế quan để định giá cho chính xác.
Với các mặt hàng nhập khẩu thông thường, có thể dựa vào giá chào
hàng của các đơn vị cung ứng, giá nhập khẩu của các năm trước đó có tính
đến các thay đổi của sản phẩm và các yếu tố có liên quan để đưa ra một mức
giá nhập khẩu hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
2. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu.
2.1. Lựa chọn đối tượng giao dịch
Lựa chọn đối tượng giao dịch bao gồm vấn đề lựa chọn đối tượng để
giao dịch và lựa chọn thương nhân. Khi lựa chọn nước để nhập khẩu hàng hoá
nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, chúng ta cần nghiên
cứu tình hình chung của nước đó như khả năng và chất lượng hàng xuất khẩu
của họ, chính sách, luật pháp, tập quán thương mại Khi lựa chọn thương
nhân để giao dich, trong điều kiện cho phép, hiệu quả nhất là nên chọn người
sản xuất để nhập khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, khi muốn thâm nhập vào thị
trường mới, mặt hàng mới thì việc giao dịch qua trung gian với tư cách là đại
lý môi giới lại có ý nghĩa quan trọng. Để lựa chọn được chính xác và đúng
đắn, không nên căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới thiệu, mà cần phải
tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị của thương nhân, khả năng tài chính,
quan điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, uy tín và mối quan hệ của họ
trong kinh doanh.

18
Khi nghiên cứu những vấn đề trên đây, người ta áp dụng hai phương
pháp chủ yếu sau:

đây là lời thỉnh cầu trước khi bước vào giao dịch, về phương diện thương mại
thì đây là việc người mua đề nghị người bán cho biết giá cả hàng hoá và các
điều kiện mua hàng. Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người hỏi giá.
- Phát giá: luật pháp coi đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng. Phát giá có
thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Nhưng trong buôn bán ngoại
thương, phát giá là chào hàng thường do người xuất khẩu thể hiện ý định bán
hàng của mình bằng cách nêu rõ các điều kiện đã nêu trong hỏi giá (chú ý có
thêm điều kiện giao hàng).
- Hoàn giá: bên mua không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà đưa
ra đề nghị mới.
- Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện chào hàng.
- Xác nhận: hai bên mua và bán sau khi đã thống nhất với nhau về điều kiện
giao dịch có thể lập hai văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho nhau.
Trong các bước giao dịch đàm phán trên thì chào hàng và đặt hàng là
hai khâu được quan tâm hơn cả vì đó là cơ sở để dẫn đến ký kết hợp đồng
nhập khẩu. Việc giao dịch, đàm phán sau khi đã có kết quả sẽ dẫn đến ký kết
hợp đồng nhập khẩu.
b. Hợp đồng nhập khẩu.
Hợp đồng nhập khẩu chính là hợp đồng kinh tế ngoại thương, trong đó
có sự thoả thuận của đương sự có quốc tịch khác nhau về chuyển giao quyền
sở hữu hàng hoá, nghĩa vụ thanh toán, trả tiền nhận hàng.
Hợp đồng kinh tế ngoại thương của nước ta bắt buộc phải thể hiện dưới
hình thức văn bản. Bởi đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi
của hai bên, nó xác định rõ ràng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và

20
bên bán, tránh được những hiểu lầm do không thống nhất về quan niệm, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện.
Hợp đồng nhập khẩu có các điều khoản chủ yếu như sau:
+ Phần mở đầu: Ghi thông tin về số hợp đồng, ngày và nơi ký hợp

theo các loại sau:
Giá cố định: tức là giá được quy định khi ký kết hợp đồng mà không
sửa đổi.
Giá quy định: được xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Giá linh hoạt: là giá có thể được điều chỉnh trong quá trình thực hiện
hợp đồng.
Giá di động: người ta quy định mức giá ban đầu, sau đó tính toán lại
trong khi thực hiện hợp đồng trên cơ sở giá ban đầu.
Nhưng trong việc xác định giá cả, thông dụng hơn cả người ta luôn
luôn định rõ điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan với giá đó. Sở dĩ như vậy
là vì điều kiện giao hàng đã bao hàm các trách nhiệm và các chi phí mà người
bán phải chiụ trong việc mua hàng như: vận chuyển, bốc dỡ, mua bảo hiểm,
chi phí lưu kho, làm thủ tục hải quan Vì vậy trong các hợp đồng mua bán,
mức giá bao giờ cũng được xác định căn cứ và điều kiện cơ sở giao hàng và
điều kiện cơ sở giao hàng ấy thường được ghi bên cạnh rõ ràng.
+ Điều khoản giao hàng: nội dung của điều khoản này xác định thời
hạn, địa điểm, phương thức giao hàng và thông báo giao hàng. Thời hạn giao
hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các
bên không có thoả thuận gì khác thì thời hạn này là lúc di chuyển rủi ro, tổn
thất từ người bán sang người mua. Giao hàng không đúng hạn có thể thiệt hại
và phải bồi thường. Có ba kiểu quy định giao hàng: giao hàng có định kỳ,
giao hàng không có định kỳ và giao hàng ngay.

22
Phương thức giao hàng: có thể quy định tiến hành tại một địa điểm nào
đó, có thể giao sơ bộ, giao cuối cùng hoặc có thể giao nhận về số lượng, chất
lượng
Thông báo giao hàng: các điều kiện về cơ sở giao hàng đã bao hàm
nghĩa vụ thông báo giao hàng. Tức là quy định nội dung và số lần thông báo
khi người bán giao hàng xong.

ngân hàng không nắm được chứng từ, người mua có thể dùng bộ chứng từ
nhận được từ nước ngoài để đi nhận hàng mà không cần qua ngân hàng xong
vẫn trì hoãn được việc trả tiền. Loại phiếu nhờ thu kèm chứng từ là phương
thức trả tiền phải kèm chừng (documentary collection). Theo phương thức
này, ngân hàng khống chế bộ chứng từ, người mua muốn có chứng từ để nhận
hàng thì phải trả tiền và chấp nhận trả tiền.
+ Điều khoản bảo đảm hối đoái: vì đồng tiền trên thế giới luôn bị lạm
phát, mất giá hay bị thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy các bên
có thể thoả thuận quy định những điều kiện bảo đảm tỷ giá hối đoái. Có thể
dùng vàng hoặc đồng tiền mạnh, ổn định.
+ Điểu khoản bảo hành: là sự bảo đảm của người bán về chất lượng
hàng hoá trong thời gian nhất định được gọi là thời hạn bảo hành. Người ta
thường thoả thuận về phạm vi đảm bảo của người bán, thời hạn bảo hành và
trách nhiệm của người bán trong thời hạn bảo hành.
+ Điều kiện bất khả kháng: trong trường hợp nếu có rủi ro xảy ra, bên
đương sự được hoàn toàn và trong một chừng mực nào đó được miễn trách
nhiệm nếu rủi ro đó có tính chất khách quan mà không thể khắc phụ được.
Trách nhiệm của bên gặp rủi ro là phải lập tức thông báo cho bên kia bằng
văn bản. Người ta thường thoả thuận chỉ định một tổ chức chứng nhận sự việc
xảy ra, thường là phòng thương mại.
3. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.

24
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký hợp đồng phải tổ chức hợp
đồng đó. Đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ
luật pháp Quốc gia, Quốc tế, đảm bảo uy tín của cả hai bên. Về mặt kinh
doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc, đơn vị kinh doanh phải
cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của
các nghiệp vụ giao dịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status