LUẬN VĂN: Đẩy mạnh xuất khẩu lao động của nước ta trong giai đoạn hiện nay potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đẩy mạnh xuất khẩu lao động của nước ta
trong giai đoạn hiện nay

Lời mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao dần đời sống của
nhân dân luôn là vấn đề nóng bỏng, là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và mọi
thành viên trong xã hội ta.
Nước ta có dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động năm 2000 là gần 40
triệu mà đa số ở nông thôn, trong khi bình quân ruộng đất đầu người thấp, ngành nghề
chưa phát triển, tỷ lệ tăng dân số cao Do vậy, số người lao động chưa đủ hoặc chưa có
việc làm ngày càng nhiều.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, việc sử dụng máy
móc và ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, cải tiến tổ chức sản
xuất tuy có tạo thêm nhiều chỗ làm việc nhưng cầu về lao động vẫn nhỏ hơn cung, đồng
thời xuất hiện tình trạng thừa lao động giản đơn, lao động lành nghề sử dụng chưa phù
hợp.

Nguyễn Lương Trào: Một số vấn đề về xuất khẩu lao động ở nước ta trong giai
đoạn mới.
Trần Văn Hằng: Thị trường lao động Việt Nam và cơ chế giải quyết việc làm
ngoài nước.
Minh Đức: Đánh giá hợp tác lao động 10 năm 1985 - 1995 và phương hướng
1996 - 2000.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình trên chỉ là những bài báo về từng mặt của xuất
khẩu lao động:
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chương trình hợp tác lao động quốc tế và XKLĐ.

- Phân tích một số thị trường lao động trên thế giới và trong khu vực.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh XKLĐ ở nước ta.
Còn có ít công trình phân tích một cách tương đối toàn diện công tác XKLĐ của
ta.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, ở nước ta còn có những cách hiểu khác nhau về nội dung của phạm trù
XKLĐ. Luận văn này chỉ sử dụng phạm trù "xuất khẩu lao động" theo nghĩa hẹp, nghĩa là
chỉ xét những người lao động Việt Nam được đưa đi làm việc tại các nước và các vùng
ngoài lãnh thổ Việt Nam.
5. Những đóng góp của luận văn
Tìm hiểu tình hình XKLĐ của một số nước từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể
vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Khái quát được những thành tựu, những thiếu sót chủ yếu và nguyên nhân trong
công tác XKLĐ ở nước ta những năm qua.
Đề xuất một số giải pháp khả thi đẩy mạnh XKLĐ trong thời gian tới.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các giảng viên,
các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội trong lĩnh vực hợp tác lao động quốc tế và
những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn

liên quan.
Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của luật này và quy định của luật
chuyên ngành về cùng một vấn đề, thì áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành" [21,
tr. 7].

Căn cứ vào luật này đã xuất hiện ý kiến cho rằng mọi doanh nghiệp nằm trên lãnh
thổ Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, quan
niệm như trên về XKLĐ không còn phù hợp.
XKLĐ hiện nay được hiểu là việc đưa người lao động từ nước xuất khẩu đến làm
việc ở các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động. Theo cách hiểu này thì XKLĐ chỉ bao
gồm trường hợp thứ hai của quan niệm trước, và đây cũng là cách hiểu được sử dụng trong
luận văn này.
Theo lý luận trừu tượng thì những người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể
dưới hình thức bán hàng hóa sức lao động hoặc dưới hình thức làm dịch vụ (như làm việc
nội trợ). Luận văn này không tách biệt mà gộp chung lại khi tính cung cầu trên thị trường
lao động.
1.1.2. Thị trường lao động
Thị trường lao động theo đúng nghĩa chỉ là mua bán hàng hóa sức lao động. ở đây
tính cả việc thuê người làm dịch vụ. Thị trường lao động cũng bị chi phối bởi các quy luật
của kinh tế hàng hóa, nhất là quy luật cung cầu. Việc hình thành thị trường lao động quốc
tế do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do sự mất cân đối về cung cầu lao động nói chung trên thị trường lao động các
nước. Nhiều nước có nhu cầu lớn về lao động như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, các
nước thuộc khu vực Trung Đông mà cung về lao động trong nước không đáp ứng đủ,
trong khi nhiều nước lại thừa lao động như Philipin, ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam,
Bănglađét Từ đó dẫn đến sự XKLĐ từ các nước thừa sang các nước có nhu cầu sử dụng
lao động ngoài nước.
- Do sự mất cân đối trong từng loại lao động khác nhau: nhiều nước thiếu lao động
có trình độ cao, đặc biệt là những nước đang phát triển, nhưng thừa lao động giản đơn,
trong khi đó, ở các nước phát triển thì những lao động 3D (nặng nhọc, độc hại, bẩn) người

tương đối trên mọi lĩnh vực, nên tất yếu phải tham gia thị trường quốc tế, trong đó có thị
trường lao động. XKLĐ đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nhiều thập kỷ
qua và còn có vai trò lớn trong hiện tại cũng như trong tương lai.

1.2.1. Cung về lao động của nước ta hiện nay lớn hơn cầu và việc làm trở
thành vấn đề cấp bách
Nghiên cứu về cộng đồng dân cư tùy theo mục đích nghiên cứu mà các nhà xã hội
học có thể phân chia cộng đồng theo những tiêu thức khác khau (lứa tuổi, giới tính, tôn giáo,
tín ngưỡng ). Dưới góc độ kinh tế và xã hội học lao động thì việc làm là một tiêu chuẩn
quan trọng. Pierre Naville - một trong những chuyên gia xuất sắc về xã hội học lao động
đã nhận định "sự phân biệt đầu tiên trong mọi sự mô tả về dân cư hoạt động là sự phân biệt
giữa những người có việc làm và những người không có việc làm" [36, tr. 8].
Trải qua các giai đoạn của lịch sử xã hội đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau về
thất nghiệp - việc làm. Các nhà kinh tế cổ điển, sống trong thời kỳ khoa học - công nghệ
chưa phát triển, lao động thủ công là chính, mức cầu về lao động rất lớn, nên họ cho rằng
thất nghiệp chỉ là hiện tượng tạm thời, có thất nghiệp là do lười biếng, không chăm chỉ
các nhà kinh tế thời kỳ này cho rằng thất nghiệp (tức sự lười biếng) tỷ lệ thuận với mức
tiền công. Nếu tiền lương cao sẽ khiến công nhân thích ăn chơi, nhậu nhẹt, không muốn
lao động.
Khi khoa học - kỹ thuật phát triển, sự ra đời của máy móc đã dẫn tới nạn "nhân
khẩu thừa" thì lý thuyết của Thomas Robert Malthus cho rằng thất nghiệp trong xã hội chỉ
do con người sinh đẻ quá nhiều.
Karl Marx (1818 - 1883) không phân tích việc làm nói chung mà tìm hiểu nó trong
phương thức sản xuất TBCN. Trong tác phẩm "Tư bản" (1867), K.Marx đã phát hiện ra
quy luật nhân khẩu thừa tương đối trong CNTB. Marx cho rằng cầu về lao động xã hội
không quan hệ trực tiếp với tổng số tư bản mà nó chỉ liên quan trực tiếp đến bộ phận tư
bản khả biến. Do sự phát triển của khoa học công nghệ và do quy luật tích lũy TBCN đã
làm cho cấu tạo hữu cơ tư bản ngày càng tăng, bộ phận tư bản khả biến có xu hướng giảm
tương đối trong tổng số tư bản là nguyên nhân gây ra hiện tượng thất nghiệp.
ở nước ta, dân số - lao động - việc làm đang trở thành vấn đề nhức nhối. Giải quyết

2,3 con

Những năm gần đây tỷ lệ gia tăng dân số và mức sinh con đã giảm dần nhưng số
người đến độ tuổi lao động vẫn tăng nhanh do hậu quả của tỷ lệ sinh cao trong mấy thập
niên trước. Số lượng dân cư mỗi năm tăng lên khoảng 1,5 triệu người, tương đương với
dân số của một tỉnh như Hà Nam hay Vĩnh Phúc. Do vậy, số người trong độ tuổi lao động
vẫn tăng cả về tuyệt đối và tương đối (so với tổng dân số).
Bảng 2: Cơ cấu lực lượng lao động Việt Nam năm 1999
(Chia theo nhóm tuổi)
Đơn vị: ngàn người
Lứa tuổi Số lượng lao động
Tỷ lệ % trọng
lực lượng
15 - 24 8.577,6 22,70
25 - 34 10.600,8 28,06
35 - 44 10.393,9 27,51
45 - 54 5.565,2 14,73
55 - 59 1.267,1 3,35
60 tuổi trở lên 1.379,1 3,65

Tổng cộng 37.783,7 100%
[37, tr. 26]
Năm 2000, ước tính dân số Việt Nam trong độ tuổi lao động đạt
gần 40 triệu và dự báo đến năm 2015 con số này sẽ lên đến 62 triệu. So với năm 1990,
năm 2015 sẽ có thêm 26 triệu người, bổ sung vào lực lượng lao động [5, tr. 43].
Tỷ lệ tăng dân số trong độ tuổi lao động cao vượt quá khả năng tạo ra việc làm
hàng năm.
Thời kỳ 1976 - 1980 tỷ lệ tăng nguồn lao động bình quân hàng năm là 3,25%,
nhưng tỷ lệ tăng việc làm chỉ là 2,80%. Con số tương ứng của thời kỳ 1981 - 1985 là
2,87% và 2,67%. Thời kỳ 1986 - 1990 là 3,06% và 2,54%. Trong giai đoạn 1991 - 1996 ta

sắp xếp lại doanh nghiệp có độ tuổi dưới 40 và có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tới
2/3 tổng số lao động dôi dư [27, tr. 10].
Bảng 3: Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (Khu vực thành
thị)
Đơn vị tính: %
Năm

Vùng
1996 1997 1998 1999
Đồng Bằng 7,57 7,56 8,25 9,34
Đông Bắc 6,42 6,34 6,60 8,72
Tây Bắc 4,51 4,73 5,92 6,58
Bắc Trung Bộ 6,96 6,68 7,26 8,62
Duyên Hải Nam
Trung Bộ 5,57 5,42 6,67 7,07
Tây Nguyên 4,24 4,99 5,88 5,95

Đông Nam Bộ 5,43 5,89 6,44 6,52
Đồng bằng sông Cửu Long 4,73 4,72 6,35 6,53
Theo tính toán để giải quyết số lao động dôi ra ở các DNNN do sắp xếp lại đòi hỏi
phải tốn kém khoảng 2.000 tỷ đồng, trong đó Nhà nước phải chịu 1.000 tỷ, 1.000 tỷ còn lại
do các doanh nghiệp trang trải.
Như vậy nước ta không những dôi dư về lao động giản đơn mà trong một chừng
mực cụ thể còn dư thừa cả lao động kỹ thuật, lao động có nghề.
Tìm lời giải bài toán tạo việc làm cho những người lao động nói trên là việc làm
vô cùng khó khăn đối với những nhà hoạch định chính sách. Đây là điểm nút quan trọng
gỡ những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để
tạo được một việc làm tốt trong các ngành công nghiệp nặng đòi hỏi phải đầu tư khoảng
100 triệu đồng. Một việc làm trung bình ở đó phải tốn 30 - 50 triệu, còn trong các ngành
tiểu thủ công nghiệp thì số tiền phải đầu tư từ 10 - 15 triệu [4, tr. 21]. Với lực lượng lao

ở nước ta, những năm qua xuất khẩu lao động đã có vai trò quan trọng thể hiện cụ
thể trên một số mặt chính như sau:
Xuất khẩu lao động góp phần đắc lực vào giải quyết việc làm, qua đó nâng cao
chất lượng nhân lực, tạo nhân tố quan trọng bền vững cho công cuộc phát triển đất nước.
Thời kỳ bùng nổ dân số đã qua đi. Tốc độ tăng dân số đã chững lại và được kiểm
soát nhưng tốc độ gia tăng nguồn lao động vẫn ở mức độ cao, trung bình từ năm 1981 đến
năm 2000 là 2,75%. Dự kiến từ năm 2005 trở đi tốc độ tăng lao động sẽ là 2,2%. Cầu lao
động trong nước thấp hơn cung, không sử dụng hết lao động trong nước là một khả năng
thực tế. Theo thống kê và dự báo trong 15 năm từ năm 1991 đến 2005, dân số trong độ tuổi
lao động sẽ tăng thêm 15,9 triệu, mỗi năm bình quân tăng thêm trên 1 triệu thanh niên
bước vào tuổi lao động. Đến năm 2005 nước ta có thêm 23,5 triệu lao động cần được giải
quyết việc làm. Số lao động trẻ (từ 16-35 tuổi) tăng từ 25 triệu vào năm 1990 lên 26,8 triệu
vào năm 1995 và 30,4 triệu vào năm 2005. Do khả năng tạo thêm việc làm có hạn nên bộ
phận người lao động chưa có việc làm, hoặc có việc làm không đầy đủ, không những
không giảm mà lại tăng lên. Điều đó đòi hỏi phải có một chương trình quốc gia về việc

làm hoàn chỉnh bao gồm cả tạo việc làm trong nước và đưa lao động đi làm việc ở nước
ngoài.
Trong 10 năm thực hiện các hiệp định về hợp tác lao động (1980 - 1989) Việt
Nam đã đưa đi làm việc ở 9 nước được 277.183 lao động, trong đó có 92.000 nữ (chiếm
33%). Ngoài lợi ích kinh tế thì việc tạo ra một khối lượng lớn việc làm là lợi ích xã hội
quan trọng. Bằng XKLĐ, hàng năm ta đã tạo ra việc làm tạm thời cho 3% số lao động đến
tuổi. Trong đó có 60% lao động chưa có nghề, 4 vạn lao động khi hết nghĩa vụ quân sự
Từ năm 1990 đến nay XKLĐ của ta được chuyển sang cơ chế thị trường. Thị
trường lao động được mở rộng sang những khu vực mới. Lao động của ta hiện có mặt ở
hơn 30 nước và lãnh thổ khác nhau trên thế giới, theo đánh giá của Bộ Lao động thương
binh và xã hội tính đến năm 1999 đã đưa đi được 89.140 người với nhiều ngành nghề,
trong đó có gần 15.000 sĩ quan thủy thủ và lao động đánh bắt hải sản, 1500 chuyên gia các
lĩnh vực, số còn lại là lao động kỹ thuật và lao động phổ thông, năm 1992: 810 người; 1993:
3.960 người; 1994: 9230 người; 1995: 10.050 người; 1996: 12.661; 1997: 18.470; 1998:

Chỉ với dân số 72,9 triệu người, Philipin đã có 980 doanh nghiệp được cấp giấy phép
XKLĐ. Lao động Philipin ở nước ngoài nói chung và XKLĐ nói riêng đã trở thành trụ cột
chống đỡ cho nền kinh tế trong nước. Thành tựu ấy có thể khái quát trên một số mặt chính
như sau:
- Lao động ở nước ngoài của Philipin đã giải quyết được phần lớn lao động dư
thừa trong nước, góp phần quan trọng thực hiện chiến lược giải quyết việc làm của chính
phủ Philipin.
Vào những năm 80, thế giới đã ghi nhận một sự gia tăng lao động mạnh mẽ trên
thị trường lao động quốc tế từ phía Philipin. Năm 1984, Nhà nước Philipin đã chính thức
chuẩn y chương trình xuất khẩu lao động. Sau một số năm hoạt động có tính thử nghiệm,
Philipin đã vươn lên trở thành nước XKLĐ lớn nhất trong khu vực và trên thế giới. Mỗi
năm trong thập kỷ này, Philipin đã đưa đi XKLĐ hơn 40 vạn lao động.
Bảng 4: Tình hình xuất khẩu lao động của Philipin
từ năm 1986 đến năm 1989

Năm 1986 1987 1988 1989
Số lao động được đưa đi (người) 378.214 449.271 417.030 500.000
Số ngoại tệ lao đ
ộng gửi về (triệu
USD)
640 791,9 856,8 1.000
[35, tr.19]
Bước sang thập kỷ 90, Philipin đã có bước chuyển mạnh mẽ trong công tác XKLĐ.
Theo POEA (Cục lao động nước ngoài Philipin) trong những năm gần đây mỗi năm Philipin
đưa đi XKLĐ khoảng 700.000 người bao gồm cả lao động trên đất liền và trên biển. Hiện
nay, Philipin có gần 7 triệu lao động làm việc ở 181 nước và các điểm trên thế giới, chiếm
10% số dân cả nước và 20% dân số trong độ tuổi lao động. Trong số đó có 4,2 triệu người
lao động hợp đồng có thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm.
Bảng 5: Xuất khẩu lao động của Philipin 1990 - 1998
(Đơn vị tính: người)

chính châu á và tốc độ phát triển chậm lại của nền kinh tế toàn cầu đã làm cho người lao
động của Philipin ở nước ngoài thất nghiệp tăng đáng kể. Lực lượng này trở về đã và đang
gây nên những trở ngại không nhỏ cho nền kinh tế vốn đã không mấy bền vững của
Philipin.
1.3.2. Thái Lan
Với hơn 60 triệu dân, Vương quốc Thái Lan có hơn 300 doanh nghiệp được phép
XKLĐ.
Trong thập niên 70, Thái Lan bắt đầu thực hiện chính sách XKLĐ sang các nước,
đầu tiên là sang Anh và lao động Thái Lan làm việc tại các ngành dịch vụ. Khi thế giới
bùng nổ sự thiếu hụt về dầu mỏ thì khu vực Trung đông - nơi sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế
giới đã đầu tư khai thác và thu hút nhiều lao động từ khắp các châu lục. XKLĐ của Thái
Lan cũng tập trung phần lớn lực lượng của mình vào thị trường này.

Bảng 6: Tình hình XKLĐ của Thái Lan qua một số năm trước đây
Năm 1976 1978 1980 1982 1984 1986
Số lao động được đưa
đi
15.000 10.000 30.000 112.000

78.000 85.000
[35, tr.19]
Bước vào thập kỷ 90, là một nước có nền kinh tế mạnh trong ASEAN, Thái Lan đã
phát triển nhiều ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ kỹ thuật cao cần sử dụng nhiều lao
động lành nghề nhưng Thái Lan không đào tạo kịp. Các ngành lao động cần sử dụng lao động
giản đơn vẫn gia tăng và thu hút nhiều lao động. Thái Lan đã phải nhập khẩu lao động có
trình độ và thực hiện việc di chuyển nhà máy tới biên giới để thu hút lực lượng lao động
giản đơn từ các nước láng giềng như Miama, Lào, Campuchia Tuy nhiên, trong điều kiện
thiếu lao động đó Chính phủ Thái Lan vẫn khuyến khích và duy trì chính sách XKLĐ bởi
chính sách này đã đem lại cho cả Nhà nước và người lao động Thái Lan nhiều lợi ích kinh
tế.

phép khoảng 250 doanh nghiệp được phép tham gia XKLĐ.
Theo tin từ "Thị trường lao động ngoài nước", số lượng XKLĐ của Bănglađét
trong những năm gần đây đã đạt kỷ lục trên 1 triệu lao động/năm. Mỗi năm Bănglađét thu
được khoảng 1,34 tỷ USD.
Thị trường lao động mà Bănglađét xuất khẩu sang chủ yếu là các nước Malaixia,
arậpxêut và Hàn Quốc. Hiện nay, chỉ riêng ở arậpxêut đã có khoảng 1 triệu lao động và
công nhân của Bănglađét đang làm việc trong nhiều ngành và trên nhiều cương vị khác
nhau. Phần lớn tiền từ nước ngoài gửi về Banglađet là tiền của công nhân nước này làm
việc ở arậpxêut.

1.3.4. Một số vấn đề rút ra qua công tác xuất khẩu lao động của các nước
Philippin, Thái Lan và Banglađet
Nghiên cứu chính sách XKLĐ của một số nước trong khu vực có điều kiện hoàn
cảnh tương đối giống và gần gũi với hoàn cảnh Việt Nam, có thể rút ra một số điểm chính
sau:
- Các nước này đều coi XKLĐ là một chiến lược kinh tế - xã hội, và khai thác có
hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào của mình bằng XKLĐ.
- XKLĐ đã đem lại những thành quả đáng kể cả về kinh tế và xã hội.
+ Về kinh tế: Thu nhập từ XKLĐ của các nước này đều đạt trên 1 tỷ USD/năm,
trong những năm cuối của thế kỷ. Đây là khoản tiền mà chỉ có một số ít ngành của họ đạt
được.
+ Về xã hội: Bằng chiến lược XKLĐ các nước này đã giải quyết được một số
lượng lớn việc làm, đồng thời tạo ra một số ngành dịch vụ mới phục vụ công tác XKLĐ.
Để khuyến khích và thúc đẩy XKLĐ, chính phủ các nước ấy đã đề ra những chính
sách đúng đắn: Đầu tư thích đáng; Cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia khai thác thị
trường và XKLĐ; Có chính sách tài chính phù hợp tạo điều kiện cho người lao động vay
vốn tham gia XKLĐ.
Bảng 9: Số lượng doanh nghiệp tham gia XKLĐ ở một số nước
Nước Dân số (triệu) Số DN được cấp phép
XKLĐ

những năm qua cũng như kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho
thấy đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một chính sách kinh tế đối ngoại hoàn toàn đúng đắn
phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình toàn cầu hóa và sự phân công

lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc. Xuất khẩu lao động là một trong những giải
pháp hữu hiệu góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống của nhân dân. Hoạt động này cũng góp phần quan trọng vào quá trình đào
tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước, và tăng cường tính đoàn kết
hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau giữa nước ta với các nước khác. Chính vì vậy việc nghiên cứu,
đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động trong những năm tới là việc làm cấp thiết góp phần
quan trọng thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế

Chương 2
Tình hình xuất khẩu lao động
của nước ta những thập kỷ qua

2.1. Tình hình xuất khẩu lao động của nước ta thời kỳ 1980 - 1990
Sau năm 1975, nước ta hoàn toàn độc lập bước sang một kỷ nguyên mới - Kỷ
nguyên khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc thành quả
cách mạng.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội nhưng
chúng ta cũng vấp phải không ít khó khăn mà một trong những khó khăn gay gắt nhất là sự
mất cân đối về cung cầu lao động, lực lượng lao động dư thừa lớn, số người chưa đủ việc làm
hoặc chưa có việc làm rất đông. Để giải quyết vấn đề trên "đưa công nhân và cán bộ đi bồi
dưỡng nâng cao trình độ và làm việc ở các nước XHCN" lúc này được coi là một trong những
giải pháp quan trọng và có tính thời sự. Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 46CP ngày
01/02/1980 chỉ rõ: "Trước yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi phải nhanh
chóng xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý giỏi
phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Để thực hiện
nhiệm vụ quan trọng này đi đôi với việc tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng trong

Chia theo ngành nghề: - Cơ khí 71.077
- Công nghiệp nhẹ 117.432
- Hóa chất 8.329
- Công nghiệp thực phẩm 3.542
- Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng 64.247
- Nông, lâm nghiệp 6.160
- Các ngành khác 10.119
[6, tr.6]

Thời kỳ này, nước ta chủ yếu đưa người đi hợp tác lao động ở 4 nước đã kể trên.
Bảng 11: Số người đi hợp tác lao động tại Liên Xô, Bungari,
CHDC Đức, Tiệp Khắc từ 1980 đến 1989
(chưa kể số học nghề chuyển sang hợp tác lao động)
Nước Tổng số Nữ
Liên Xô 103.610 52.916
Tiệp Khắc 37.028 9.472
Bungari 27.239 3.595
CHDC Đức 69.016 25.613
[6, tr. 7-13].
Giai đoạn 1980 - 1984 số lượng còn ít: khoảng hơn 6 vạn, nhưng đến giai doạn
1985 - 1990: Số lượng lên tới 20 vạn, trong đó 4 nước XHCN cũ là hơn 18 vạn. ở các nước
khác khoảng 2 vạn, chủ yếu là ở I-Rắc và Angiêri, còn lại là ở Angola, Cônggô, Li-bi,
Madagascar, Campuchia và Lào.
Trong tổng số trên lao động nữ chiếm 33%, tuổi từ 18-40.
b) Số ngoại tệ và hàng hóa mà người lao động và Nhà nước thu được
Theo đánh giá của Bộ Lao động thương binh và xã hội, sau 10 năm XKLĐ, Nhà
nước và người lao động đã có một nguồn thu không nhỏ. Về phía Nhà nước đã thu được
khoảng 800 tỷ đồng (theo tỷ giá năm 1990)
và trên 330 triệu USD đưa vào ngân sách để cân đổi thanh toán chung. Khoảng 30 vạn
người lao động ở nước ngoài đã gửi về nước một lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status