LUẬN VĂN:
Phân công lao động xó hội theo hướng hình
thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông -
công nghiệp - dịch vụ ở tỉnh Bến Tre
Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh" đã quan tâm đến vấn đề sắp xếp, tổ chức lao động
để giải quyết việc làm cho người lao động; khẳng định đây là vấn đề bức bách
hiện nay đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân trong cả nước, đặc biệt là đối với nông
nghiệp, nông thôn, trong đó có tỉnh Bến Tre phải thực hiện.
Căn cứ vào vị trí địa lý, vào đặc điểm kinh tế - xã hội, vào thực trạng
phân công lao động thể hiện qua thành quả lao động của từng ngành, dựa vào
quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 của tỉnh Bến Tre, là phấn đấu
để thu nhập bình quân đầu người 440 USD/năm; muốn thực hiện được các mục
tiêu chiến lược đó thì vấn đề " Phân công lao động xó hội theo hướng hỡnh
thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ ở tỉnh Bến
Tre (2000 - 2010)" là vấn đề đòi hỏi phải được thực hiện có hiệu quả. Do đó
chúng tôi đã chọn đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu
Phân công lao động xã hội là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
kinh tế - xã hội rất lớn. Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu
vấn đề này ở những góc độ khác nhau, trong đó bàn nhiều về phân công lao động
ở phạm vi từng địa phương, từng ngành, tiêu biểu như: "Bàn về phân công lại lao
động xã hội ở Việt Nam" của Chế Viết Tấn, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982; "Phân
công lại lao động xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
vấn đề lao động quân sự'" của Nguyễn Đăng Khoa, chuyên ngành kinh tế chính
trị, Trường đại học Biên Phòng; "Phân công lại lao động ngành nông nghiệp trên
địa bàn huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình (1996 - 2000)" của Nguyễn Văn Vọng,
chuyên ngành kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; "Về
phân công lao động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp" của PTS Hồ Vũ,
Lao động và xã hội, tháng 2/1996, tr. 18; "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sự
gắn bó với phân công lại lao động xã hội" của PGS.PTS Phan Thanh Phố và
3.2.1. Khái quát lại những vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin và quan điểm của Đảng ta về lao động, về phân công lao động về cơ cấu
kinh tế làm cơ sở khoa học cho đề tài.
3.2.2. Phân tích một số đặc điểm cơ bản về tự nhiên, kinh tế - xã hội có
quan hệ trực tiếp đến tiến trình phân công lao động và hoàn thiện cơ cấu kinh tế
của Bến Tre. Những đặc điểm này làm tiền đề cho việc phân công lao động mới.
Khảo sát thực trạng lực lượng lao động và thực chất của việc sử dụng lực lượng
lao động hiện nay, trên cơ sở đó rút ra những kết luận có căn cứ xác thực đề xuất
một số giải pháp trước mắt cho việc phân công lao động theo hướng hình thành
và hoàn thiện cơ cấu kinh tế mới nói trên của địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi không có tham vọng và cũng không có khả
năng nghiên cứu hết những nội dung của phân công lao động xã hội mà chỉ tập
trung nghiên cứu dự kiến phân công lao động đã được đề ra qua các chỉ tiêu kế
hoạch của tỉnh, nghiên cứu phân công lao động theo hướng từng bước hình thành
và hoàn thiện cơ cấu kinh tế của Bến Tre từ nay đến năm 2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về lao động, phân công lao
động và cơ cấu kinh tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp chung: Chúng tôi dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Về phương pháp cụ thể: Chúng tôi sử dụng các phương pháp kết hợp
chặt chẽ lý luận và thực tiễn, phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng
hợp, so sánh và các phương pháp nghiên cứu khác.
động là "quá trình hoạt động tự giác, hợp lý của con người, nhờ đó, con người
làm thay đổi các đối tượng tự nhiên và làm cho chúng thích ứng để thỏa mãn nhu
cầu của mình. Lao động là điều kiện đầu tiên và cơ bản của sự tồn tại của con
người. Nhờ lao động, con người đã tách khỏi thế giới động vật, đã có thể chế ngự
lực lượng tự nhiên và bắt chúng phục vụ lợi ích của mình, biết chế tạo công cụ
lao động, có thể phát huy khả năng và kiến thức của mình; tất cả những điều đó
gộp lại đã quyết định sự phát triển tiến bộ hơn nữa của xã hội" [25, 222].
Lao động là hoạt động tự giác, có tổ chức, có kế hoạch của con người và
chỉ có ở con người. Trong tự nhiên mặc dù hoạt động của một số loài vật có vẻ
giống như hoạt động của con người, tuy nhiên "việc sử dụng và sáng tạo ra
những tư liệu lao động, tuy đã có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó,
nhưng vẫn là một nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người" [ ,
269]. Hoạt động tự giác đầu tiên của con người là hoạt động tác động vào tự
nhiên, cho nên theo C.Mác "lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con
người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con
người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [
, 266]. Trong quá trình đó con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể
của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có mục
đích, có ý thức nhằm biến đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu
cầu của mình. Vì vậy, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào kể cả nền sản xuất
hiện đại, lao động bao giờ cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu của sự
tồn tại và phát triển đời sống xã hội loài người, là một sự tất yếu vĩnh viễn, một
điều kiện chung của sự trao đổi chất giữa con người với giới tự nhiên.
Khi xã hội loài người sản xuất ra sản phẩm để trao đổi thì thực thể xã hội
chung của tất cả các hàng hóa đó là lao động. Như vậy, lao động sản xuất là một
quá trình hoạt động của con người do kết hợp giữa các yếu tố sức lao động, công
cụ lao động và đối tượng lao động. Nếu tách riêng biệt của từng yếu tố đó thì
nhiều loại để chuyển những lao động cụ thể khác nhau vào những ngành sản xuất
khác nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Phân công lao động xã hội tạo nên sự
tách rời giữa các ngành sản xuất xã hội, hình thành những ngành sản xuất chuyên
môn hóa và những vùng sản xuất chuyên môn hóa.
Phân công lao động xã hội theo Lênin là sự phân chia, sự tách rời nhau
giữa các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Trong mỗi ngành đó lại chia ra nhiều
loại nhỏ. Phân công lao động xã hội là nét đặc trưng của nền kinh tế hàng hóa,
phân biệt nền kinh tế hàng hóa với nền kinh tế tự nhiên. Như vậy, phân công lao
động xã hội là sự phân chia lao động xã hội ra thành ngành, thành loại, thành thứ
khác nhau để sản xuất ra các giá trị sử dụng hay hàng hóa khác nhau, nhằm đáp
ứng nhu cầu nhất định của xã hội. C.Mác viết: "Toàn bộ những giá trị sử dụng
hay vật thể hàng hóa khác nhau thể hiện toàn bộ những lao động có ích, cũng
nhiều hình nhiều vẻ, cũng chia ra bấy nhiêu loại, giống, họ, nhánh và biến chủng
khác nhau - nói tóm lại là thể hiện sự phân công lao động xã hội" [13, 72].
Theo khái niệm đó, phân công lao động là sự tồn tại đồng thời của nhiều
loại lao động và sự phân chia đó làm tách rời các loại lao động khác nhau. Đồng
thời tạo nên mối liên hệ tất yếu phụ thuộc lẫn nhau giữa các loại lao động đã
được phân chia. Sự ràng buộc giữa chúng do sự bảo đảm những điều kiện vật
chất của sản xuất quyết định.
Theo từ điển Triết học, phân công lao động "là hệ thống các loại lao
động, chức năng sản xuất công việc nói chung được phân biệt theo những dấu
hiệu của mình và đồng thời tác động qua lại lẫn nhau, cũng như là hệ thống các
mối liên hệ xã hội giữa chúng".
"Phân công lao động xã hội với tư cách là hoạt động của con người, khác
với sự chuyên môn hóa, là một quan hệ xã hội có tính chất tạm thời trong lịch sử.
Sự chuyên môn hóa lao động là việc phân chia các loại lao động theo đối tượng;
nó trực tiếp biểu hiện sự tiến bộ của các lực lượng sản xuất và góp phần thúc đẩy
bước phát triển và trình độ sản xuất của người lao động ngày càng nâng lên thì sự
phân chia trong cùng ngành cũng ngày càng phát triển. Phân công lao động trong
nông nghiệp là sự phân công lao động đặc thù. Trong ngành nông nghiệp, lúc đầu
việc trồng trọt và chăn nuôi không phân định rõ, dần dần hình thành việc chuyên
trồng trọt, chuyên chăn nuôi; trong trồng trọt lại phân công lao động chuyên
trồng cây lượng thực, chuyên trồng cây công nghiệp. Mặt khác, cũng trong ngành
nông nghiệp, lúc đầu sản xuất và chế biến nông sản gắn chặt nhau như một chức
năng kinh tế, dần dần chế biến nông sản mới hình thành một cách riêng biệt có
chức năng kinh tế khác với sản xuất nông nghiệp và tách khỏi sản xuất nông
nghiệp. Phân công lao động trong nông nghiệp có hai hình thức cơ bản, đó là
phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo vùng lãnh thổ. Sở dĩ
có sự phân công lao động theo vùng lãnh thổ là do đặc điểm riêng biệt của sản
xuất nông nghiệp, vì sản xuất nông nghiệp gắn rất chặt với điều kiện tự nhiên: đất
đai, thời tiết, khí hậu từng miền, từng vùng lãnh thổ.
Tóm lại, theo C.Mác thì sự phân công lao động đặc thù là sự phân chia
ngành sản xuất ra thành loại và thứ.
- Phân công lao động cá biệt
Phân công lao động là một phạm trù gắn liền với tất yếu kỹ thuật của sản
xuất. Sản xuất chuyên môn hóa đòi hỏi lao động phải chuyên môn hóa. Chuyên
môn hóa trong nông nghiệp khác hẳn với chuyên môn hóa trong công nghiệp.
Phân công lao động trong công nghiệp là phân công lao động độc chuyên, còn
phân công lao động trong nông nghiệp là phân công lao động theo chuyên khâu.
Phân công lao động trong xí nghiệp hay phân công lao động cá biệt như
C.Mác thường gọi là sự phân công trong xưởng thợ. Đó là sự phân công công
việc cho người lao động cá biệt, là sự phân chia chức năng, nhiệm vụ giữa những
người lao động cùng sản xuất ra một sản phẩm trong nội bộ từng xí nghiệp riêng
biệt. C.Mác - Ph.Ăngghen viết: "Nếu chỉ xét riêng bản thân lao động thì người ta
Phân công lao động xã hội hình thành các lĩnh vực, các ngành mới. Các
lĩnh vực, các ngành kinh tế trong xã hội có quan hệ với nhau; chúng vừa hợp tác,
hỗ trợ nhau, vừa cạnh tranh với nhau để tồn tại và phát triển; trong quá trình đó
cơ cấu kinh tế hình thành. Như vậy, phân công lao động xã hội và sự tác động
giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế là cơ sở để hình thành cơ cấu kinh tế.
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Bởi vì lực lượng sản xuất phát triển thúc đẩy phân công lao động xã
hội, khi phân công lao động có sự tự giác thì nó là một mặt trong quan hệ sản
xuất, mà cơ sở để hình thành cơ cấu kinh tế là phân công lao động xã hội.
Khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế, C.Mác cho rằng: đó là một sự phân chia
về mặt chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của quá trình tái sản xuất xã hội. Rõ
ràng, giữa các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế có quan hệ chủ yếu về số lượng
và chất lượng tương đối ổn định trong những điều kiện cụ thể.
Xem xét cơ cấu kinh tế, người ta không chỉ hình dung nó ở phạm vi của
một quốc gia, mà cả của một ngành, một địa phương, thậm chí cả của một khu
vực gồm nhiều quốc gia trên thế giới. Bởi vì, khi nền kinh tế thị trường phát triển
rộng rãi, đòi hỏi quốc tế hóa đời sống kinh tế của người lao động, thì nhiều khu
vực kinh tế trên thế giới có ưu thế riêng, hình thành cơ cấu kinh tế riêng của khu
vực.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể khái quát cơ cấu kinh tế như sau: cơ
cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế, chúng có quan hệ hữu
cơ với nhau và được sắp xếp theo vị trí, tỷ lệ nhất định cho phù hợp với những
điều kiện cụ thể.
1.1.3.2. Nội dung cơ cấu kinh tế
Như đã phân tích ở trên, nghiên cứu cơ cấu kinh tế thực chất là nghiên
cứu cơ cấu kinh tế kỹ thuật và cơ cấu kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân,
trong đó có cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế.
bao gồm quan hệ giữa:
Nuôi thủy sản nước ngọt, nuôi thủy sản nước mặn.
Thủy sản ngắn ngày và dài ngày.
Nuôi cá, tôm và các thủy sản khác.
Đánh bắt trên sông, trên biển,
Trong ngành công nghiệp, cơ cấu kinh tế thể hiện quan hệ giữa: công
nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp.
Sản xuất tư liệu tiêu dùng trong những ngành này còn có quan hệ giữa
những ngành nhỏ khác.
Công nghiệp khai thác trên biển, khai thác nội địa.
Trong ngành xây dựng, cơ cấu kinh tế biểu hiện quan hệ giữa quy hoạch
xây dựng, thiết kế xây dựng và ngành trực tiếp thi công xây dựng.
Về cơ cấu kinh tế vùng:
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế vùng là nghiên cứu cơ cấu kinh tế của một
vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đương nhau. Vì thế,
vùng kinh tế không chỉ được đề cập đến những vùng rộng lớn trong một quốc gia
mà còn đề cập đến những vùng có phạm vi nhỏ trong một địa phương, một tỉnh.
Nội dung cơ cấu kinh tế vùng thể hiện quan hệ:
Giữa các vùng kinh tế trong một nền kinh tế nhất định.
Giữa các ngành trong nội bộ vùng kinh tế.
Khi đề cập đến cơ cấu kinh tế vùng, cần nghiên cứu quan hệ giữa vùng
đồng bằng với vùng cao.
Trong vùng đông fbằng cũng cần nghiên cứu cơ cấu kinh tế giữa những
vùng: nước ngọt, nước lợ, nước mặn. Trong vùng cao cũng cần nghiên cứu cơ
cấu kinh tế giữa vùng gò đồi với vùng núi.
Tóm lại, nội dung cơ cấu kinh tế gồm nhiều mối quan hệ giữa các ngành,
các vùng kinh tế. Nắm vững mối quan hệ này, có tác động thích hợp với điều
hướng phân công lao động xã hội hiện nay là phân công lao động theo hướng ưu
tiên cho công nghiệp mới đến nông nghiệp và dịch vụ.
1.2. tác động của phân công lao động xã hội đối với việc hình thành
cơ cấu kinh tế
1.2.1. Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Lịch sử kinh tế - xã hội chỉ cho chúng ta thấy rằng quá trình chuyển biến
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn là quá trình không ngừng phát triển của lực lượng
sản xuất. Sự lớn mạnh đó là nhờ tác động của phân công lao động xã hội. Tuy
nhiên, để có thể thực hiện được sự phân công lao động xã hội thì đòi hỏi lực
lượng sản xuất phải đạt được trình độ phát triển nhất định.
Trong xã hội công xã nguyên thủy cũng đã hình thành bước đầu sự phân
công lao động, tuy nhiên sự phân công lao động đó mới ở hình thức đơn giản
nhất, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đương thời, mang
đậm nét giới tính. Chẳng hạn đàn ông thì săn bắn, đánh cá; đàn bà thì hái lượm
hoa quả, trông nom việc nhà, làm nghề nông và chăn nuôi v.v Còn người già
thì chế tạo công cụ lao động thô sơ. C.Mác - Ph.Ăngghen đã viết: "Lúc đầu chỉ là
sự phân công lao động trong hành vi theo giới tính và về sau là phân công lao
động tự hình thành hoặc hình thành một cách tự nhiên", do những thiên tính bẩm
sinh (như thể lực chẳng hạn) do những nhu cầu, do những sự ngẫu nhiên" [9, 44-
45].
Sang chế độ chiếm hữu Nô lệ và chế độ Phong kiến do lực lượng sản
xuất phát triển, phân công lao động xã hội cũng ngày càng phát triển.
Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 của CNTB đã
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất đến trình độ cao. Hàng loạt máy móc,
công cụ sản xuất chuyên môn hóa ra đời đã làm cho quá trình chuyên môn hóa
lao động gắn chặt với chuyên môn hóa công cụ lao động, lao động càng chuyên
môn hóa sâu thì công cụ lao động cũng ngày càng được hoàn thiện. Quá trình đó
lợi ích độc quyền của giai cấp tư sản, nhà nước tư sản đã can thiệp ngày càng sâu
vào quá trình kinh tế nói chung và sự phân công lao động nói riêng. Trong giai
đoạn lịch sử này, phân công lao động xã hội vừa diễn ra tự phát theo yêu cầu của
các quy luật kinh tế thị trường, vừa có sự tác động một cách tự giác theo các kế
hoạch phát triển kinh tế và sử dụng nguồn lao động được chuẩn bị của nhà nước
tư sản.
Đến nay nhân loại đã trải qua và đang đi tới những phương thức sản xuất
xã hội khác nhau, thực tiễn lịch sử đó đã chỉ cho chúng ta thấy: sự phát triển của
phân công lao động xã hội luôn luôn được biểu hiện qua sự phát triển của lực
lượng sản xuất và sự phát triển các hình thức phân công lao động xã hội cũng tác
động mạnh trở lại đối với sự phát triển của lượng sản xuất.
Mác - Ăngghen đã khẳng định: "Trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất của một dân tộc bộc lộ rõ nét nhất ở trình độ phát triển của phân công lao
động xã hội" [9, 30]. Đồng thời sự phát triển của phân công lao động xã hội đến
lượt nó lại thúc đẩy sức sản xuất của lao động phát triển. Mác Viết: "Sức sản xuất
của lao động chủ yếu phải phụ thuộc vào sự phân công lao động" [12, 175].
Phân công lao động xã hội đã thúc đẩy quá trình sử dụng công cụ ngày
càng hiện đại hơn làm tăng sức sản xuất của lao động xã hội và hiệu quả tất yếu
dẫn đến năng suất lao động xã hội tăng lên. Năng suất lao động tăng lên nói lên
trình độ tiến bộ của người lao động và trình độ, năng lực của người lao động trở
thành điều kiện để sử dụng công cụ hiện đại. Nói về mối quan hệ này, Mác giải
thích: "Việc phát triển sản xuất cơ khí cũng giống như việc mở rộng phân công
lao động, sẽ dẫn đến một việc là: trong khoảng thời gian ngắn hơn có thể sản
xuất được nhiều hơn gấp bội" [11,740]. Cũng vì thế mà một phát minh lớn nào về
công cụ lao động về máy móc cũng đều đem lại một sự phân công lao động mới
hơn và ngược lại mỗi lần phân công lao động cao hơn lại thúc đẩy sự ra đời
những phát minh mới về máy móc. Đến lượt nó máy móc ảnh hưởng đến sự phân
người, ví dụ nhằm làm ra một bộ phận nào đó của một sản phẩm toàn bộ, thì cần
làm cho việc sản xuất bộ phận đó được chuyên môn hóa, trở thành một ngành sản
xuất riêng biệt, sản xuất được hàng loạt sản phẩm và vì lẽ đó có thể là cần phải
sử dụng máy móc. Qua đây, chúng ta thấy việc chuyên môn hóa lao động cũng là
quá trình phát triển lực lượng sản xuất, tăng thêm tính chất xã hội hóa của sản
xuất.
1.2.2. Phân công lao động thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển
Phân công lao động xã hội hình thành dựa trên trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Phân công lao động xã hội đã thúc đẩy những ngành sản xuất độc
lập, những ngành sản xuất chuyên môn hóa tạo ra những sản phẩm mới thỏa mãn
nhu cầu tiêu dùng làm cho nền kinh tế hàng hóa phát triển ngày càng sâu, rộng và
do đó cũng thúc đẩy thị trường phát triển mạnh. Do vậy, phân công lao động là
điều kiện của nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển của thị trường. Lênin đã
khẳng định: "Sự phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa phân công xã
hội là nhân tố chủ yếu trong quá trình hình thành thị trường trong cả nước của
chủ nghĩa tư bản" [8, 23]. Người còn kết luận: Như vậy sự phân công xã hội là cơ
sở của toàn bộ quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa của chủ nghĩa tư bản.
Lịch sử kinh tế xã hội đã chỉ rõ phân công lao động xã hội càng cao thì
thị trường càng đa dạng, phong phú. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển thì đồng
thời số lượng các ngành sản xuất riêng biệt, độc lập cũng tăng lên.
Khi nền kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển lại tác động đến tiến
trình mới của sự phân công lao động xã hội. Tầng lớp thương nhân ra đời, như
vậy chức năng tiêu thụ sản phẩm tách khỏi chức năng sản xuất, hình thành đội
ngũ lao động chuyên làm trong lĩnh vực lưu thông. Sự chuyên môn hóa như trên
là cơ sở cho sự tách rời giữa các ngành. Trong ngành công nghiệp, một khi đã
sản xuất ra hàng hóa, tức là cũng đặt ra vấn đề cần trao đổi đầu tiên giữa công
nghiệp và nông nghiệp. Rõ ràng kinh tế hàng hóa có vai trò tích cực đối với phân
công lao động xã hội. tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là cốt để sử dụng mặt tích cực
của nó phục vụ cho mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con
đường Tư bản chủ nghĩa" [1, 4].
Phân công lao động xã hội có tác động thúc đẩy việc hoàn thiện quan hệ
sản xuất, nhưng việc thúc đẩy đó nhanh hay chậm, đúng định hướng hay không
còn tùy thuộc vào phương thức quản lý nền kinh tế của Nhà nước. Đối với nước
ta, thực tiễn đòi hỏi Nhà nước phải nhận thức cho được sự tác động khách quan
của các quy luật kinh tế thị trường đối với phân công lao động xã hội, từ đó có
giải pháp và chính sách hợp lý tác động có hiệu quả đến tiến trình phân công lao
động xã hội nhằm vừa thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vừa hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới ở nước ta.
1.2.4. Mối quan hệ của nhận thức với hiện thực khách quan trong
tiến trình hình thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế
Khi lãnh đạo quản lý nền kinh tế, bất kỳ Nhà nước nào cũng đều phải
dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, điều kiện địa lý tự nhiên
khác của đất nước, của địa phương để xác định cơ cấu kinh tế. Bởi vì, quá trình
lao động sản xuất bao giờ cũng là sự kết hợp giữa lao động, tư liệu lao động và
đối tượng lao động; tài nguyên thiên nhiên là đối tượng có sẵn trong tự nhiên,
Nhà nước căn cứ vào loại tài nguyên nào nhiều hay ít mà tập trung lực lượng lao
động để khai thác nhằm thu được nguồn lợi kinh tế nhanh nhất, đạt hiệu quả cao
nhất. Nhà nước còn phải căn cứ vào nguồn lao động về thể lực, trí lực, trình độ
chuyên môn sản xuất, kinh nghiệm sản xuất mà phân bố lực lượng lao động vào
các ngành nghề cho phù hợp với khả năng của người lao động, có như vậy mới
tạo điều kiện cho người lao động sáng tạo. Ngoài ra, nhà nước còn phải căn cứ
vào điều kiện địa lý tự nhiên của các vùng trong nước, của từng địa phương mà
bố trí lực lượng lao động nhằm khai thác thế mạnh kinh tế của đất nước. Do vậy,
việc xác định cơ cấu kinh tế phải tùy thuộc vào các nguồn lực vật chất hiện có
của đất nước mới mong thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Chương 2
Thực trạng phân công lao động xã hội
và những vấn đề đặt ra hiện nay ở tỉnh Bến Tre
Phân công lao động xã hội theo hướng hình thành và hoàn thiện cơ cấu
kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ ở Bến Tre là một tất yếu như các tỉnh khác
nông nghiệp, tuy nhiên do điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên của tỉnh
Bến Tre có những nét đặc trưng riêng, làm cho quá trình phân công lao động xã
hội có những nét đặc thù. Điều đó đòi hỏi những người có trách nhiệm đối với
quá trình này cần phải nắm bắt, nhất là việc xây dựng lực lượng lao động để hoàn
thiện cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ của tỉnh.
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến tiến trình
phân công lao động của tỉnh
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Bến Tre là một trong mười hai tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, nằm
về phía Đông Nam của vùng. Tỉnh Bến Tre là một vùng đất thấp được bồi lắng
qua nhiều thế kỷ bởi bốn nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông
Hàm Luông và sông Cổ Chiên), hình thành nên ba dãy cù lao, trong đó có ba cù
lao lớn là: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh. Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến
Tre có hình rẻ quạt mà cán quạt nằm ở phía thượng nguồn, các nhánh sông lớn
giống như những nan quạt xòe rộng ra ở phía Đông.
Phía Bắc của Bến Tre giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông
Tiền; phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới
chung là sông Cổ Chiên; phía Đông giáp biển Đông với chiều dài hơn 65km.
Diện tích tự nhiên vùng đất liền của tỉnh Bến Tre là 2.287 km