Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Với đà phát triển đi lên của đất nớc, đặc biệt là từ sau khi Đảng ta
tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển hớng quản lý nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa, kết quả là hơn mời năm qua tình hình kinh tế xã hội của cả nớc nói
chung và của Bến Tre nói riêng đã có bớc phát triển mới. Đời sống của nhân
dân trong tỉnh đã có nhiều khởi sắc, thu nhập bình quân đầu ngời từ 101,8
USD năm 1991 tăng lên 187,8 USD năm 1994 và chỉ tiêu cuối năm 2000 là
280 USD. Tuy nhiên, sự chuyển biến đó đến nay vẫn còn chậm chạp, đời
sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân vẫn ở vào hạng "nghèo"
trong khực vực mặc dù tiềm năng kinh tế - xã hội có thể cho là không thua
kém các tỉnh bạn bao nhiêu; có lẽ đây là tình trạng khá phổ biến ở các tỉnh
đa phần là nông nghiệp. Thực tế trên đã đợc Đại hội đại biểu lần thứ VI của
Đảng bộ tỉnh Bến Tre đánh giá: "nền kinh tế tỉnh ta phát triển cha vững
chắc một số mặt yếu kém chậm đợc khắc phục nh công nghiệp chế biến
yếu, thiết bị lạc hậu. Cơ sở hạ tầng dù các năm qua ta có nhiều cố gắng để
xây dựng nhng nhìn chung vẫn còn kém, cha đáp ứng đợc yêu cầu phát
triển. Thiếu vốn đầu t cho sản xuất và xây dựng. Thiếu đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế, sản xuất kinh doanh và cán bộ kỹ thuật giỏi" [3, 36]. Sự tăng tr-
ởng kinh tế của tỉnh còn thấp so với khu vực đồng bằng sông Cửu Long,
theo số liệu thống kê cuối năm 1999, tỉnh Bến Tre có gần 5,2% lực lợng lao
động thất nghiệp, trong khi số lao động tăng bình quân mỗi năm là 16.500
ngời và dân số phi nông nghiệp lại giảm từ 8,9% năm 1990 xuống còn 3,2%
năm 1998.
Vậy nguyên nhân từ đâu? Chúng tôi nghĩ rằng có nhiều nguyên
nhân, nhng quan trọng nhất là lao động, đào tạo nguồn lao động, tổ chức sử
1
dụng nguồn lao động. Do đó nếu có chủ trơng chính sách đúng, thật sự hợp
lý về việc phân công lao động vào các ngành sẽ tạo ra động lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội ở Bến tre phát triển nhanh và vững chắc.
theo giới" một số vấn đề đặt ra" của Lê Ngọc Văn, Khoa học về phụ nữ,
2/1999; "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam nhìn từ phân công lao
động xã hội" của Nguyễn Hữu Thảo, Phát triển kinh tế, số 92, 6/1998 Các
công trình nghiên cứu nêu trên đã khai thác, nêu bật những tiềm năng thúc
đẩy phân công lao động xã hội của từng ngành ở từng địa phơng trong nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã phân tích khá
sâu sắc thực trạng và bớc đầu nêu ra những giải pháp thúc đẩy phân công
lao động xã hội, phát triển ngành nghề ở nớc ta nói chung.
ở Bến Tre, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Bến Tre thời kỳ 1999 - 2010 đã đề ra "từ nay đến năm 2010 nền kinh tế - xã
hội của Bến Tre sẽ tiến tới hoàn chỉnh dần cơ cấu nông - công nghiệp - dịch
vụ góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội toàn
vùng đồng bằng sông Cửu Long" [26, 19]. Hiện nay, chúng tôi cha tìm thấy
đề tài nào bàn về phân công lao động theo hớng này; vì vậy, chúng tôi vận
dụng một số hiểu biết của mình để góp phần tìm hiểu thêm về thực trạng
phân công lao động và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phân công lao
động xã hội nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế ở Bến Tre hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề,
chúng tôi xác định mục đích của đề tài là trên cơ sở những luận điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và khảo sát
thực trạng lực lợng lao động, phân công lao động hiện nay của Bến Tre mà
đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phân công lao động theo hớng hình
thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ hiện đại
trong vòng mời năm tới của Tỉnh.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Khái quát lại những vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin và quan điểm của Đảng ta về lao động, về phân công lao động về cơ
Tre đợc trình bày một cách có hệ thống.
- Nêu đợc hệ thống giải pháp có ý nghĩa thực thi thúc đẩy quá trình
phân công lao động trên địa bàn tỉnh theo hớng hoàn thiện cơ cấu kinh tế
nông - công nghiệp - dịch vụ vào năm 2010.
7. ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến
vấn đề xây dựng lực lợng lao động, tổ chức phân công lao động xã hội
nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạo tỉnh
Bến Tre trong việc tổ chức phân công lao động theo hớng hình thành và
hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ của tỉnh đến năm 2010.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết.
5
Chơng 1
Phân công lao động xã hội với việc
hình thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế
1.1. Khái lợc một số vấn đề lý luận cơ bản về phân công
lao động xã hội và cơ cấu kinh tế
1.1.1. Lao động
Trong bất cứ xã hội nào con ngời cũng phải lao động để tồn tại. Lao
động là "quá trình hoạt động tự giác, hợp lý của con ngời, nhờ đó, con ngời
làm thay đổi các đối tợng tự nhiên và làm cho chúng thích ứng để thỏa mãn
nhu cầu của mình. Lao động là điều kiện đầu tiên và cơ bản của sự tồn tại
của con ngời. Nhờ lao động, con ngời đã tách khỏi thế giới động vật, đã có
thể chế ngự lực lợng tự nhiên và bắt chúng phục vụ lợi ích của mình, biết
chế tạo công cụ lao động, có thể phát huy khả năng và kiến thức của mình;
tất cả những điều đó gộp lại đã quyết định sự phát triển tiến bộ hơn nữa của
xã hội" [25, 222].
quá trình sản xuất, đồng thời cũng là yếu tố mang lại lợi ích cho quá trình
sản xuất. Sự phân công lao động xã hội phát triển càng sâu sắc, sự xã hội
hóa nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội của sức lao động của mỗi ng-
ời càng nhiều hơn.
Qua sự phân tích ở trên có thể khái quát mấy đặc trng cơ bản của
lao động:
- Lao động là sự vận dụng sức lao động thông qua công cụ lao động
tác động vào giới tự nhiên trong quá trình sản xuất ra những giá trị sử dụng.
- Lao động của con ngời là hoạt động tự giác, có ý thức.
- Lao động là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài ngời.
7
- Trong quá trình lao động con ngời không những sáng tạo ra lịch sử
mà còn sáng tạo ra cả chính bản thân mình.
- Lao động do đó là một phạm trù vĩnh viễn.
Những đặc trng nêu trên của lao động đồng thời cũng nói lên lợi ích
của lao động. Giai cấp thốngtrị lợi dụng những đặc trng đó của lao động,
biến nó thành công cụ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị thông qua quá
trình tổ chức và phân công lao động xã hội.
1.1.2. Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia những ngời lao động
thành nhiều loại để chuyển những lao động cụ thể khác nhau vào những
ngành sản xuất khác nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Phân công lao
động xã hội tạo nên sự tách rời giữa các ngành sản xuất xã hội, hình thành
những ngành sản xuất chuyên môn hóa và những vùng sản xuất chuyên
môn hóa.
Phân công lao động xã hội theo Lênin là sự phân chia, sự tách rời
nhau giữa các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Trong mỗi ngành đó lại
chia ra nhiều loại nhỏ. Phân công lao động xã hội là nét đặc trng của nền
kinh tế hàng hóa, phân biệt nền kinh tế hàng hóa với nền kinh tế tự nhiên.
biểu hiện của nó sẽ thay đổi. Phân công lao động xã hội hình thành trong
quá trình lao động sản xuất xã hội, nó có bớc phát triển từ thấp đến cao, từ
giản đơn đến tỷ mỷ theo sự phát triển của lực lợng sản xuất, phân công lao
động rõ nét nhất mỗi khi xuất hiện hình thái kinh tế xã hội mới.
Nh vậy, xét về tính chất của phân công lao động thì nó thuộc về
quan hệ sản xuất. C.Mác cho rằng: "Trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất của một dân tộc bộc lộ rõ nhất ở trình độ phát triển của sự phân công
theo lao động Những giai đoạn phát triển khác nhau của phân công lao
động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu" [14, 11].
9
Tóm lại, "phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội
ra các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa
lao động và theo đó là chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề
khác nhau" [7, 116].
Phân công lao động xã hội bao gồm sự phân công lao động nói
chung, phân công lao động đặc thù và phân công lao động cá biệt.
- Phân công lao động đặc thù.
Trong quá trình phát triển của bản thân mỗi ngành sản xuất, phân
công lao động lại đợc diễn ra trong nội bộ mỗi ngành. Tức là khi công cụ
lao động có bớc phát triển và trình độ sản xuất của ngời lao động ngày càng
nâng lên thì sự phân chia trong cùng ngành cũng ngày càng phát triển. Phân
công lao động trong nông nghiệp là sự phân công lao động đặc thù. Trong
ngành nông nghiệp, lúc đầu việc trồng trọt và chăn nuôi không phân định
rõ, dần dần hình thành việc chuyên trồng trọt, chuyên chăn nuôi; trong
trồng trọt lại phân công lao động chuyên trồng cây lợng thực, chuyên trồng
cây công nghiệp. Mặt khác, cũng trong ngành nông nghiệp, lúc đầu sản
xuất và chế biến nông sản gắn chặt nhau nh một chức năng kinh tế, dần
dần chế biến nông sản mới hình thành một cách riêng biệt có chức năng
kinh tế khác với sản xuất nông nghiệp và tách khỏi sản xuất nông nghiệp.
Phân công lao động trong nông nghiệp có hai hình thức cơ bản, đó là phân
1.1.3. Cơ cấu kinh tế
1.1.3.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế chỉ rõ trình độ kinh tế,
nó xác định nền kinh tế của một quốc gia đang ở trình độ cao hay thấp; vì
vậy, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế quan trọng đợc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm.
Để nhận dạng cơ cấu kinh tế của một quốc gia, ngời ta thờng dựa
vào quy mô của từng ngành, vị trí kinh tế và sự tác động của nó đối với toàn
bộ nền kinh tế trong những điều kiện cụ thể.
11
Cũng nh phân công lao động xây dựng, cơ cấu kinh tế không chỉ đ-
ợc hình thành một cách thụ động trong những điều kiện khách quan; con
ngời có thể xác lập cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ hơn; tuy nhiên, không thể
tùy tiện mà cần dựa vào trình độ mọi mặt của ngời lao động, dựa vào điều
kiện kinh tế - xã hội hiện thực và yêu cầu sản xuất - tiêu dùng của xã hội để
phân công lao động vào các ngành kinh tế theo hớng cơ cấu kinh tế mới,
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Do đó, cơ cấu kinh tế có
quan hệ mật thiết với phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội hình thành các lĩnh vực, các ngành mới.
Các lĩnh vực, các ngành kinh tế trong xã hội có quan hệ với nhau; chúng
vừa hợp tác, hỗ trợ nhau, vừa cạnh tranh với nhau để tồn tại và phát triển;
trong quá trình đó cơ cấu kinh tế hình thành. Nh vậy, phân công lao động xã
hội và sự tác động giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế là cơ sở để hình
thành cơ cấu kinh tế.
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất. Bởi vì lực lợng sản xuất phát triển thúc đẩy phân công lao
động xã hội, khi phân công lao động có sự tự giác thì nó là một mặt trong
quan hệ sản xuất, mà cơ sở để hình thành cơ cấu kinh tế là phân công lao
động xã hội.
Khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế, C.Mác cho rằng: đó là một sự phân
kinh tế xã hội, bao gồm:
+ Quan hệ giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp.
+ Quan hệ giữa công nghiệp, TTCN, xây dựng.
+ Quan hệ giữa các dịch vụ: du lịch, thơng mại, thông tin, giao
thông vận tải,
Trong ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế còn biểu hiện ở quan hệ
giữa trồng trọt và chăn nuôi.
13
Trong ngành trồng trọt, cơ cấu kinh tế biểu hiện quan hệ giữa trồng
cây lơng thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp.
Cơ cấu cây trồng công nghiệp biểu hiện quan hệ giữa cây công
nghiệp ngắn ngày và cây công nghiệp dài ngày.
Cơ cấu kinh tế cho cây lơng thực biểu hiện quan hệ giữa cây lúa và
cây màu khác.
Trong ngành ng nghiệp, cơ cấu kinh tế biểu hiện quan hệ giữa nuôi
trồng và đánh bắt thủy hải sản. Trong ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản
lại bao gồm quan hệ giữa:
Nuôi thủy sản nớc ngọt, nuôi thủy sản nớc mặn.
Thủy sản ngắn ngày và dài ngày.
Nuôi cá, tôm và các thủy sản khác.
Đánh bắt trên sông, trên biển,
Trong ngành công nghiệp, cơ cấu kinh tế thể hiện quan hệ giữa:
công nghiệp sản xuất t liệu sản xuất, công nghiệp.
Sản xuất t liệu tiêu dùng trong những ngành này còn có quan hệ
giữa những ngành nhỏ khác.
Công nghiệp khai thác trên biển, khai thác nội địa.
Trong ngành xây dựng, cơ cấu kinh tế biểu hiện quan hệ giữa quy
hoạch xây dựng, thiết kế xây dựng và ngành trực tiếp thi công xây dựng.
Về cơ cấu kinh tế vùng:
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế vùng là nghiên cứu cơ cấu kinh tế của
chung của các địa phơng trong cả nớc là chuyển dịch dần sang cơ cấu kinh
tế này.
Để có một nền kinh tế phát triển theo kịp với các nớc trong khu vực,
Việt Nam phải cố gắng chuyển dần sang cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp
- dịch vụ, đặc biệt đối với những tỉnh đất hẹp ngời đông nh tỉnh Bến Tre thì
15
càng phải chuẩn bị những điều kiện để chuyển dần sang cơ cấu kinh tế công
- nông nghiệp - dịch vụ mới có thể có một nền kinh tế phát triển đợc, nhng
trớc mắt Bến Tre vẫn là một tỉnh với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Vì
thế những năm trớc mắt Bên Tre vẫn phải theo hớng xây dựng cơ cấu kinh
tế nông - công nghiệp - dịch vụ ngày càng hiện đại, tạo tiền đề vật chất sau
năm 2010 chuyển sang xây dựng cơ cấu kinh tế mới hiện đại, phù hợp cơ
cấu kinh tế của cả nớc.
ở nớc ta hiện nay, xu hớng xây dựng và hoàn thiện cơ cấu kinh tế
công - nông nghiệp - dịch vụ là cơ sở để tổ chức đội ngũ lao động, phân công
lao động cho phù hợp với yêu cầu của những ngành nghề trong nền kinh tế.
Vì vậy, xu hớng phân công lao động xã hội hiện nay là phân công lao động
theo hớng u tiên cho công nghiệp mới đến nông nghiệp và dịch vụ.
1.2. tác động của phân công lao động xã hội đối với
việc hình thành cơ cấu kinh tế
1.2.1. Thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển
Lịch sử kinh tế - xã hội chỉ cho chúng ta thấy rằng quá trình chuyển
biến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn là quá trình không ngừng phát triển của
lực lợng sản xuất. Sự lớn mạnh đó là nhờ tác động của phân công lao động
xã hội. Tuy nhiên, để có thể thực hiện đợc sự phân công lao động xã hội thì
đòi hỏi lực lợng sản xuất phải đạt đợc trình độ phát triển nhất định.
Trong xã hội công xã nguyên thủy cũng đã hình thành bớc đầu sự
phân công lao động, tuy nhiên sự phân công lao động đó mới ở hình thức
đơn giản nhất, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất đơng
thời, mang đậm nét giới tính. Chẳng hạn đàn ông thì săn bắn, đánh cá; đàn
Khi phân tích sự phân công trong công trờng thủ công, C. Mác cũng
chỉ ra rằng: Do phân tích hoạt động của các nghề thủ công, do chuyên môn
hóa các công cụ, do đào tạo công nhân bộ phận, do chia nhóm và kết hợp
17
vào tổng cơ cấu, sự phân công trong công trờng thủ công tạo ra một sự phân
chia về chất lợng và một tỷ lệ về số lợng của những quá trình sản xuất xã
hội. Nghĩa là tạo ra một tổ chức lao động xã hội nhất định, cùng với điều đó
thì cũng đồng thời phát triển một sức sản xuất mới, có tính chất xã hội của
lao động.
Đến giai đoạn chủ nghĩa t bản độc quyền, lực lợng sản xuất có bớc
phát triển vợt bậc và cũng là sự phát triển mạnh mẽ của sự phân công lao
động xã hội. Trong giai đoạn này, do sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ
kinh tế, đặc biệt là quan hệ kinh tế đã mang tính chất quốc tế, tính chất xã
hội hóa của lực lợng sản xuất càng lớn thì mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất
với quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa càng gay gắt. Muốn duy trì chủ nghĩa
t bản, bảo vệ những lợi ích độc quyền của giai cấp t sản, nhà nớc t sản đã
can thiệp ngày càng sâu vào quá trình kinh tế nói chung và sự phân công
lao động nói riêng. Trong giai đoạn lịch sử này, phân công lao động xã hội
vừa diễn ra tự phát theo yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trờng, vừa có sự
tác động một cách tự giác theo các kế hoạch phát triển kinh tế và sử dụng
nguồn lao động đợc chuẩn bị của nhà nớc t sản.
Đến nay nhân loại đã trải qua và đang đi tới những phơng thức sản
xuất xã hội khác nhau, thực tiễn lịch sử đó đã chỉ cho chúng ta thấy: sự phát
triển của phân công lao động xã hội luôn luôn đợc biểu hiện qua sự phát
triển của lực lợng sản xuất và sự phát triển các hình thức phân công lao động
xã hội cũng tác động mạnh trở lại đối với sự phát triển của lợng sản xuất.
Mác - Ăngghen đã khẳng định: "Trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất của một dân tộc bộc lộ rõ nét nhất ở trình độ phát triển của phân công
lao động xã hội" [9, 30]. Đồng thời sự phát triển của phân công lao động xã
hội đến lợt nó lại thúc đẩy sức sản xuất của lao động phát triển. Mác Viết:
công lao động xã hội lớn lần thứ nhất. Nó đã đẩy mạnh năng suất lao động
19
xã hội và tạo tiền đề vật chất cho sự ra đời của chế độ t hữu và phân chia xã
hội thành giai cấp.
Trong lịch sử kinh tế xã hội có một giai đoạn sản xuất mà nghề thủ
công là nghề phụ nằm trong nghề nông, đến khi nghề thủ công tách biệt
khỏi nông nghiệp, điều đó đợc xem là sự phân công lao động xã hội lần thứ
hai. Lần phân công này đã thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển nâng cao
một bớc nữa năng suất lao động xã hội. Nền sản xuất xã hội ngày càng phát
triển, sản xuất hàng hóa càng tăng là tác nhân kích thích việc hình thành
tầng lớp thơng nhân, ngành mới xuất hiện đánh dấu sự phân công lao động
xã hội lần thứ ba. Lênin viết: Sự chuyên môn hóa lao động xã hội do bản
chất của nó là vô tận, cũng giống nh sự phát triển của kỹ thuật vậy. Muốn
nâng cao đợc năng suất lao động của con ngời, ví dụ nhằm làm ra một bộ
phận nào đó của một sản phẩm toàn bộ, thì cần làm cho việc sản xuất bộ
phận đó đợc chuyên môn hóa, trở thành một ngành sản xuất riêng biệt, sản
xuất đợc hàng loạt sản phẩm và vì lẽ đó có thể là cần phải sử dụng máy
móc. Qua đây, chúng ta thấy việc chuyên môn hóa lao động cũng là quá
trình phát triển lực lợng sản xuất, tăng thêm tính chất xã hội hóa của sản
xuất.
1.2.2. Phân công lao động thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển
Phân công lao động xã hội hình thành dựa trên trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất. Phân công lao động xã hội đã thúc đẩy những ngành
sản xuất độc lập, những ngành sản xuất chuyên môn hóa tạo ra những sản
phẩm mới thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng làm cho nền kinh tế hàng hóa phát
triển ngày càng sâu, rộng và do đó cũng thúc đẩy thị trờng phát triển mạnh.
Do vậy, phân công lao động là điều kiện của nền kinh tế hàng hóa và sự
phát triển của thị trờng. Lênin đã khẳng định: "Sự phân công xã hội là cơ sở
của kinh tế hàng hóa phân công xã hội là nhân tố chủ yếu trong quá trình
hình thành thị trờng trong cả nớc của chủ nghĩa t bản" [8, 23]. Ngời còn kết
trong ba mối quan hệ đó thì quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất đã bao
hàm sự phân công lao động xã hội và qua đó Nhà nớc đã tác động vào quá
21
trình phân công lao động xã hội. Nếu tác động phù hợp với quy luật khách
quan sẽ có tác động tốt đến việc phát triển lực lợng sản xuất và do đó có tác
động trực tiếp đến việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Nớc ta đã chuyển hớng nền kinh tế từ cơ chế quản lý hành chính
bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, vì vậy, các hình thức mới của quan hệ sản xuất vừa phải phù hợp với
quá trình tổ chức và phân công lao động xã hội, vừa phải phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất trong từng ngành, từng đơn vị sản
xuất nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực và tài nguyên của đất nớc.
Vấn đề này đã đợc nêu rõ trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII: "Vận dụng các hình thức kinh tế và phơng pháp quản lý nền
kinh tế thị trờng là cốt để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ cho mục
đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đờng T bản chủ
nghĩa" [1, 4].
Phân công lao động xã hội có tác động thúc đẩy việc hoàn thiện
quan hệ sản xuất, nhng việc thúc đẩy đó nhanh hay chậm, đúng định hớng
hay không còn tùy thuộc vào phơng thức quản lý nền kinh tế của Nhà nớc.
Đối với nớc ta, thực tiễn đòi hỏi Nhà nớc phải nhận thức cho đợc sự tác
động khách quan của các quy luật kinh tế thị trờng đối với phân công lao
động xã hội, từ đó có giải pháp và chính sách hợp lý tác động có hiệu quả
đến tiến trình phân công lao động xã hội nhằm vừa thúc đẩy lực lợng sản
xuất phát triển vừa hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở nớc ta.
1.2.4. Mối quan hệ của nhận thức với hiện thực khách quan
trong tiến trình hình thành và hoàn thiện cơ cấu kinh tế
Khi lãnh đạo quản lý nền kinh tế, bất kỳ Nhà nớc nào cũng đều phải
dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, điều kiện địa lý tự
tiễn, cơ cấu kinh tế không thúc đẩy phân công lao động xã hội. Nh vậy,
phân công lao động xã hội và cơ cấu kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau,
23
hoàn thiện dần cơ cấu kinh tế là cơ sở thúc đẩy phân công lao động xã hội
và ngợc lại. Xây dựng cơ cấu kinh tế mới là cơ sở để thực hiện sự phân công
lao động xã hội mới. Phân công lao động xã hội càng phát triển, nhiều
ngành, nghề mới đợc hình thành sẽ tác động mạnh đến tiến trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Nắm vững quan hệ này những nhà quản lý kinh tế sẽ
quản lý tốt và kích thích nền kinh tế phát triển.
Tóm lại, cơ cấu kinh tế không phải tự nó hình thành, nó cũng không
thể do ý chí chủ quan của chủ thể quản lý vĩ mô; dù đó là cơ cấu kinh tế của
cả nớc, của một địa phơng, hay cơ cấu nội bộ của một ngành kinh tế; mà
phải là sự kết hợp nhuần nhuyễn lý luận, đờng lối chiến lợc kinh tế với hiện
thực khách quan - có nh vậy mới có thể xây dựng đợc một cơ cấu kinh tế
hợp lý, và hình thành từ thấp đến cao, từ cha hoàn thiện đến hoàn thiện.
24
Chơng 2
Thực trạng phân công lao động xã hội
và những vấn đề đặt ra hiện nay ở tỉnh Bến Tre
Phân công lao động xã hội theo hớng hình thành và hoàn thiện cơ
cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ ở Bến Tre là một tất yếu nh các
tỉnh khác nông nghiệp, tuy nhiên do điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện tự
nhiên của tỉnh Bến Tre có những nét đặc trng riêng, làm cho quá trình phân
công lao động xã hội có những nét đặc thù. Điều đó đòi hỏi những ngời có
trách nhiệm đối với quá trình này cần phải nắm bắt, nhất là việc xây dựng
lực lợng lao động để hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ
của tỉnh.
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hởng đến
tiến trình phân công lao động của tỉnh
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên