LUẬN VĂN: Đẩy mạnh họat động thông tin với việc cải cách nền hành chính quốc gia trong giai đọan hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Đẩy mạnh họat động thông tin với việc
cải cách nền hành chính quốc gia trong
giai đọan hiện nay

1
A. Toffler. Thăng trầm quyền lực, Nxb. Thanh niên, T.1, tr.117. xây dựng được năng lực tiếp thu kho tàng tri thức nhân loại, để vượt qua nghèo đói, lạc
hậu và tiến tới phát triển, tham gia vào sáng tạo tri thức mới.
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, sự phát triển như vũ bóo của khoa học,
cụng nghệ mà mũi nhọn là cụng nghệ thụng tin đó và đang tác động đến mọi nền kinh tế,
mọi chế độ xó hội trờn phạm vi toàn cầu. Một xó hội thụng tin, một nền kinh tế tri thức bắt
đầu hỡnh thành. Trong nền kinh tế đó, thông tin là tất cả, thành công của công việc là nhờ
vào “tư liệu thông tin, chứ chẳng phải là nhờ vào số tiền anh có Tri thức có quyền lực
lớn nhất trong giao dịch”
1
. Việc tỡm kiếm, khai thỏc và sử dụng hiệu quả thụng tin cú ý
nghĩa quyết định đối với sự phát triển và thành công của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng
và quốc gia. Thực tiễn xó hội đang chứng tỏ rằng, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào
có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có
của nhân loại. Ở Việt Nam, nhu cầu phát triển trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước đũi hỏi phải huy động được mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực thông tin là
vô cùng quan trọng.
Cải cách nền hành chính quốc gia là một đũi hỏi thường xuyên, luôn được coi là
nhiệm vụ chính trị hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào bởi vỡ nhiệm vụ này vừa đáp ứng yêu
cầu của phát triển kinh tế - xó hội của đất nước, vừa tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xó hội.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đó đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong nhận
thức và tư duy. Với sự đổi mới sáng suốt đó, Việt Nam đó vượt qua thử thách gian nan và
đi lên. Con đường đi đến đổi mới không hề đơn giản. Đó là kết quả của cả quá trỡnh
nghiờn cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy, dựa trên những thông tin khoa học,
thông tin lý luận về thời đại, về cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, về những nhận

nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa. Nội dung chủ yếu của cải cỏch bao
gồm: Cải cỏch thể chế; Cải cỏch tổ chức bộ mỏy hành chớnh; Đổi mới, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Cải cách tài chính công.
Toàn cầu hoá buộc các cộng đồng phải đoàn kết lại. Sự thông minh của từng người
chỉ phát huy được thông qua sự thông minh tập thể, sự thông minh hệ thống của cả cộng
đồng. Sự thông minh hệ thống của cả cộng đồng là nguồn trí tuệ cộng đồng, là nguồn cộng
năng tạo ra sức mạnh to lớn đưa cộng đồng vươn lên.
Từng người dân thông minh, từng nhà khoa học giỏi, sẽ chưa đủ. Điều hết sức
quan trọng, mấu chốt của sự thành công là một cơ chế quản lý cú thể tập hợp và phỏt huy
được khả năng của mỗi người, hỗ trợ họ không ngừng phát triển tri thức trong suốt cuộc

1
Hoàng Tuỵ. Trí tuệ cộng đồng: Chỡa khoá vào kinh tế tri thức. Báo Người Lao động, Số Xuân
Tân Tỵ, 2001. đời hoạt động, có cơ chế biến xó hội thành xó hội học tập suốt đời, thường xuyên trao đổi,
chuyển giao, vận dụng, sản xuất và phát triển tri thức. Tất cả những con người tài giỏi đó
sẽ chỉ được phát huy mọi khả năng, tài trí trong môi trường kinh tế - xó hội lành mạnh và
thoỏng đóng, tạo nờn bởi cơ chế quản lý thụng minh, biết khuyến khích mọi sáng kiến chủ
động, mọi tài năng sáng tạo,biết hạn chế, loại trừ mọi yếu tố, mọi xu hướng tiêu cực.
Bước vào thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
thông tin khoa học cung cấp những thông tin như thế nào, con đường, cách thức thông tin
ra sao để góp phần đổi mới sự lónh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhà nước, cải
cách hành chính? Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, trong thời đại kinh tế tri
thức, không dựa vào trí tuệ, học vấn thỡ khú cú thể vươn lên. Việc khơi dậy và phát huy
mọi tiềm năng trí tuệ của dân tộc là vấn đề quan trọng, song tổ chức, khai thác triệt để mọi
tiềm năng ấy cho sự phát triển của đất nước nhờ một cơ chế quản lý thụng minh là điều vô
cùng quan trọng, không thể thiếu. Đó là bài toán không hề đơn giản, trong đó, thông tin, tri
thức, công nghệ thông tin đóng vai trũ hết sức quan trọng. Hiện nay, Việt Nam đang tích

với khái niệm phản ánh. Thông tin là khái niệm tồn tại và hiện diện trong mọi vật, phản
ánh quan hệ giữa hai ngôi: nguồn tin và người dùng tin.
* Về sự hỡnh thành và phát triển của thông tin học. Những năm 90 của thế kỷ XX,
người ta càng nói nhiều hơn về sự ra đời của xó hội thụng tin và nền kinh tế dựa trờn tri
thức (GS. Nick Moore, ) với những đặc trưng cơ bản: Thông tin được coi là nguồn lực
phát triển quan trọng nhất; Việc sử dụng thông tin ngày càng được mở rộng trong cộng
đồng; Ra đời phát triển ngành công nghiệp mới ở ngay trong nền kinh tế: ngành công
nghiệp thông tin.
Tài liệu nghiên cứu về thông tin học ngày càng nhiều. Theo thống kê, toàn thế giới
hàng năm công bố gần 10 ngàn tên tài liệu khác nhau về các vấn đề của thông tin học. Hơn
nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đó đạt được những thành tích đáng kể, lý giải được nhiều
quy luật, phần nhiều là những quy luật riêng về hiện tượng thông tin, về quá trỡnh và hệ
thống thụng tin, về mụi trường của hoạt động thông tin.
* Những nghiên cứu về xó hội thụng tin
Bước vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Hoa Kỳ mà đại diện là
F. Machlup, D. Bell và M. Porat đó đi tiên phong trong việc nghiên cứu cú hệ thống về xó
hội thụng tin và nền kinh tế thụng tin. Năm 1962, trong công trỡnh cú tờn gọi “Sản xuất và phổ biến kiến thức ở Hoa Kỳ”, F. Machlup cho biết rằng, ngành công nghiệp kiến thức
Hoa Kỳ vào năm 1958 đó chiếm tới 29% tổng sản phẩm xó hội, với 31% tổng lao động
đang hoạt động của cả nước. Đến năm 1990, con số này là: ở Mỹ - 47,4%; ở Anh – 45,8%;
ở Pháp – 45,1%; ở Đức – 40,0% tổng lao động đang làm việc. Theo sự xác định của tác
giả, nền công nghiệp ấy bao gồm giáo dục, nghiên cứu, xuất bản và truyền thanh, truyền
hỡnh. Năm 1967, D. Bell nói đến sự xuất hiện của xó hội hậu cụng nghiệp với nguồn lực
quan trọng nhất để phát triển thuộc về thông tin và kiến thức. Năm 1974, trong luận án tiến
sĩ của mỡnh, M. Porat nghiờn cứu một cỏch chi tiết về khu vực thông tin. Các nhà khoa
học đó phõn chia cỏc quốc gia theo mức độ thông tin thành: Xó hội thụng tin cao; Xó hội
thụng tin trung bỡnh; Xó hội thụng tin thấp.
2.2. Nghiờn cứu trờn bỡnh diện tổ chức và quản lý thụng tin

chức nghiên cứu và biên soạn các chương trỡnh đào tạo hệ cử nhân và sau đại học về
chuyên ngành thông tin học. Những cố gắng ban đầu đó cú kết quả khả quan.
2.4. Nghiờn cứu vai trũ và tỏc động của thông tin
Là một dạng “tài nguyên” với những đặc điểm như: số lượng vô tận, luôn luôn được
bổ sung, đổi mới và càng được sử dụng càng thêm phong phú, thông tin khoa học giúp con
người sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và tiềm lực kinh tế - xó hội. Chớnh vỡ vậy, vai
trũ và tỏc động của thông tin được các nhà khoa học hết sức quan tâm.
Trong những năm 90 thế kỷ XX, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề liên quan
tới vấn đề thông tin phục vụ phát triển do UNESCO bảo trợ đó được tổ chức ở nhiều khu
vực trên thế giới. Các chủ đề đó được thảo luận liên quan đến hội nghị chuyên môn gồm:
Các tiền đề thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xó hội; Xỏc định người dùng tin và khả
năng khai thác thông tin quốc gia; Các nguồn lực trong lĩnh vực thông tin phục vụ phát
triển - gồm 3 lĩnh vực chủ yếu để phát triển hoạt động thông tin: nguồn nhân lực, nguồn
thông tin tư liệu và các phương tiện kỹ thuật; Thông tin phục vụ phát triển có tính chất
công khai và hạn chế; Chiến lược tổ chức hệ thống các cơ quan thông tin thích hợp trong
quá trỡnh phỏt triển.
2.5. Thông tin với cải cách nền hành chính quốc gia
Về vấn đề này, rải rác có những cụng trỡnh nghiờn cứu từng khớa cạnh của vấn đề
như: Tin học hoỏ quản lý hành chớnh nhà nước với quá trỡnh cải cỏch hành chớnh hiện nay (TS. Đinh Hữu Phí); Đề xuất một số biện pháp để đẩy mạnh cải cách hành chính
(ThS. Phạm Thanh Trung); Phát triển bền vững và xó hội thụng tin: cỏc xu hướng, vấn đề
và mâu thuẫn (A. Levin – Nga); Bản chất thụng tin của quỏ trỡnh xõy dựng quan điểm
quản lý hành chính (Phan Huy Quế); Chính phủ điện tử - lý luận và thực tiễn (Trung tâm
Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia. Tổng luận khoa học),
Ngoài những bỡnh diện chủ yếu trờn, cỏc nhà khoa học trong nước và trên thế giới
cũn nghiờn cứu rất nhiều bỡnh diện khỏc của thụng tin, thế nhưng vấn đề thông tin với
việc cải cách nền hành chính quốc gia vẫn là vấn đề cũn bỏ ngỏ, ít được bàn tới, chưa có
đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu.

nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30).
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận mác xít với quan điểm thực tiễn, biện chứng, lịch sử,
khách quan để nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của vấn đề thông tin, phát triển thông tin,
ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông phục vụ cải cách nền hành chính quốc gia.
Đề tài tiếp cận từ góc độ thông tin học. Thế kỷ XXI là thế kỷ kinh tế tri thức chiếm
vị trí chủ đạo. Trong nền kinh tế đó, năng lực đổi mới của quốc gia có liên quan đến tiền
đồ và vận mệnh của dân tộc. Cải cách hành chính là công việc thường xuyên của bất kỳ
quốc gia nào trên thế giới. Hoạt động thông tin gắn bú mật thiết với việc tỡm kiếm tri thức,
sản xuất và phổ biến tri thức, giao lưu, trao đổi tri thức, góp phần đẩy mạnh dân chủ nên
nó ngày càng trở thành hệ thống trợ giúp không thể thiếu hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới
quốc gia nói chung cũng như cải cách hành chính quốc gia nói riêng.
Đề tài tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước. Cải cách hành chính ở Việt Nam là
công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành
chớnh nhà nước trong bối cảnh mới – kinh tế tri thức, toàn cầu hoá, khu vực hoá – có
nhiều vấn đề vừa phải làm, vừa học hỏi, vừa phải rút kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm
trong và ngoài nước. Việc hỡnh thành quan niệm và những nguyờn tắc cơ bản chỉ đạo
công cuộc cải cách hành chính, việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải
pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trỡnh tỡm tũi sỏng tạo khụng ngừng, là một quỏ trỡnh nhận thức liờn tục, thống nhất trong tiến trỡnh đổi mới, trong đó thông tin và tri
thức đóng vai trũ hết sức quan trọng.
Ngoài ra, Đề tài cũn vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Thống kê;
Điều tra; Phân tích - Tổng hợp; Phân tích văn bản; Đối chiếu – So sánh,
6. Lực lượng nghiên cứu
Tham gia thực hiện đề tài gồm các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Thông tin
khoa học, cỏc nhà khoa học trong lĩnh vực thụng tin, quản lý nhà nước, cải cách hành
chính trong và ngoài Học viện.


người nhận trước khi nhận được nó. Thông tin chỉ có thể được suy ra từ dữ liệu chính xác,
hợp thời, thích hợp và bất ngờ. (4) Cỏc ý nghĩa gỏn cho dữ liệu bởi cỏc quy ước được thừa
nhận dùng trong biểu diễn nó. Nếu nội dung của một thông báo đó được biết trước khi
nhận nó thỡ khụng cú thụng tin mới nào được truyền tải
1
.
Như vậy, thông tin nằm trong hệ thống các phạm trự của lý luận nhận thức, là một
loại hỡnh của lĩnh vực hoạt động tinh thần, gắn liền với con người và hoạt động của con
người với tư cách là chủ thể thông tin. Thông tin cũng là một khái niệm cơ bản và quan
trọng của khoa học, vừa là một tiềm lực khoa học, vừa là một sản phẩm khoa học.
Nội dung của thông tin hàm chứa tri thức. Nhưng tri thức được chuyển tải trong
hoạt động thông tin là tri thức được lựa chọn. Tri thức là nội dung cơ bản của ý thức con
người, có liên quan đến sự phản ánh một thuộc tính chung của mọi đối tượng vật chất.
Song sự phản ánh của tri thức không giống như sự phản ánh vật lý, hoỏ học ở vật chất vụ
cơ; cũng không giống như sự phản ánh ở động vật cấp thấp. Sự phản ánh của ý thức là sự
phản ỏnh tớch cực, cú sự lựa chọn ở con người, thông qua cơ quan phản ánh là bộ óc
người - một dạng vật chất có tổ chức cao nhất. Sự phản ánh ở con người không trực tiếp
đưa đến tri thức mà phải qua một quá trỡnh nhận thức, quỏ trỡnh tư duy với nhiều hỡnh
thức, với cỏc cấp độ khác nhau của sự phản ánh, bằng lao động và ngôn ngữ tác động đến

1
Ban Từ điển. Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh. Nxb. Khoa học và kỹ thuật, H.,
2001, tr. 317. đối tượng vật chất “bị phản ánh”, nhằm cải tạo tự nhiên, tái tạo lại hiện thực theo tính chất
và theo nhu cầu thực tiễn xó hội.
Quan hệ giữa tri thức và thông tin là quan hệ tương tác. Tri thức chuyển hoá
thành thông tin và thông tin lại trở thành nguyên liệu, tiền đề cho tri thức mới mà cơ sở sâu
xa là thực tiễn, là hiện thực khách quan. Sự phân biệt giữa tri thức và thông tin cũng có

tính chất, loại hỡnh và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó.
a. Xét về chất liệu vật mang tin, vốn tài liệu có thể được chia làm hai loại cơ bản
sau:
* Vốn tài liệu văn bản gồm các loại tài liệu bằng văn bản như: sách, báo, tạp chí,
luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu, các số liệu thống kê, Hiện tại, vốn tài liệu này
chiếm tỷ lệ lớn trong các cơ quan thông tin.
* Vốn tài liệu điện tử gồm những tư liệu được lưu trữ dưới dạng số (các loại tài liệu
được lưu giữ trên băng từ, đĩa CD-ROM, ) sao cho có thể truy nhập được bằng các thiết
bị xử lý dữ liệu. Vốn tài liệu này thường bao gồm:
- Các cơ sở dữ liệu phục vụ khai thác trực tuyến của thư viện và các trung tâm
thông tin: Mục lục tra cứu công cộng trực tuyến (OPAC).
- CD-ROM chứa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được phục vụ riêng lẻ hay trên
mạng máy tính.
- Nguồn tư liệu do được số hoá và tập hợp dưới hỡnh thức bộ sưu tập số của cơ
quan thông tin.
- Các tạp chí, sách, tài liệu điện tử trên mạng Internet mà các cơ quan có thể đặt
mua như tạp chí, tài liệu in và sẽ được cấp quyền truy cập.
b. Xét về mức độ công bố hay không công bố, vốn tài liệu có thể được chia làm
hai loại
* Vốn tài liêu được công bố
- Trước hết, đó là những tài liệu do các nhà xuất bản ấn hành bằng văn bản được
phân phối qua các kênh phát hành chính thức như nhà xuất bản, các công ty, các đại lý
phỏt hành, mà cơ quan thông tin thu thập được thông qua việc mua, được biếu, tặng, trao đổi, Loại này chiếm tỷ trọng lớn trong các loại vốn tài liệu hiện có ở các cơ quan thông
tin.
- Thứ hai, gồm các tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin, cơ quan nghiên cứu
khoa học, các công ty, sản xuất dưới dạng băng từ, các đĩa CD-ROM, các xuất bản điện
tử trên mạng Internet, được truy cập miễn phí hoặc các cơ quan thông tin có thể mua

thông tin này đó được xử lý, biờn tập và cú thể dựng trực tiếp, không cần tới một nguồn dữ
liệu bổ sung nào.
* Cơ sở dữ liệu toàn văn chứa các thông tin cung cấp toàn bộ văn bản tài liệu.
b. Căn cứ theo loại hỡnh tài liệu có các cơ sở dữ liệu sau: cơ sở dữ liệu sách, cơ sở
dữ liệu tạp chí, cơ sở dữ liệu về phát minh, sáng chế, cơ sở dữ liệu các công trỡnh khoa
học,
Ngày nay, cơ sở dữ liệu là bộ phận không thể thiếu được trong các hệ thống thông
tin.
1.1.5. Công nghệ thông tin
Có nhiều định nghĩa về công nghệ thông tin.
Theo Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh, công nghệ thụng tin là sự
thu nhận, xử lý, lưu giữ và phổ biến thông tin tiếng nói, hỡnh ảnh, văn bản và số nhờ sự
kết hợp dựa trên vi điện tử của tin học, viễn thông và video. Công nghệ thông tin nảy sinh
như một công nghệ tách riêng nhờ sự quy tụ của các kỹ thuật tin học, viễn thông và video,
tin học cung cấp khả năng xử lý và lưu giữ thông tin, viễn thông cung cấp phương tiện để
truyền thông nó và video cung cấp thiết bị hiển thị hỡnh ảnh chất lượng cao. Sự quy tụ đó
đó được xúc tác nhờ sẵn có các linh kiện và thiết bị vi điện tử phức tạp, tin cậy và chi phí
có hiệu quả. Các phát triển tổng thể trong điện tử học cũng đó kớch thớch việc tỡm kiếm
những tiờu chuẩn quốc tế chung, nhất là trong tin học và viễn thụng, mở đường cho các
ứng dụng quy mô lớn của công nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên
quan đến thông tin và các quá trỡnh xử lý thụng tin. Theo quan niệm này, thỡ cụng nghệ
thụng tin là hệ thống cỏc phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao
gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi
lĩnh vực hoạt động kinh tế, xó hội, văn hoá, của con người
1
.

điểm, người hoặc thiết bị tới một điểm, người, hoặc thiết bị khác
1
.
1.1.7. Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia
Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia là hệ thống các mạng truyền thông, máy tính, các
cơ sở dữ liệu, các phương tiện điện tử dân dụng, sẵn sàng đưa đến những lượng thông tin
to lớn với mọi hỡnh thức thể hiện, sử dụng mọi lỳc và ở bất kỳ đâu, do đó nó tạo ra những
phương thức hoạt động hoàn toàn mới cho con người.
Cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính trên Website:
là một trong những thành tố của kết cấu hạ tầng
thông tin quốc gia.
1.1.8. Hành chính
Thuật ngữ “hành chính” xuất phát từ tiếng Latinh “Administratio” là quản lý, lónh
đạo.
Theo từ điển tiếng Pháp, thỡ “hành chớnh” là hoạt động quản lý, điều hành các
công việc hàng ngày của cơ quan nhà nước bằng pháp luật, là dịch vụ công.
Theo Đại từ điển tiếng Việt
2
, hành chính thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước theo
luật định, thuộc về công văn, giấy tờ, kế toán trong cơ quan nhà nước.
Trong Hành chính học đại cương, các tác giả lại có cách định nghĩa khác. Theo
nghĩa rộng, hành chính là những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các
nhóm, các đoàn thể, hợp tác trong hoạt động của mỡnh để đạt được mục tiêu chung. Theo
nghĩa hẹp, hành chính, là hoạt động quản lý cỏc cụng việc nhà nước, xuất hiện cùng với
nhà nước.
Như vậy, theo các cách tiếp cận trên thỡ hành chính đều có điểm chung là hoạt
động tổ chức, quản lý, điều hành, là hoạt động có mục đích, phục vụ lợi ích chung. Đa số
các hoạt động hành chính là hoạt động của cơ quan nhà nước.

1

kế hoạch, cải cách thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính công, điều hành, phối hợp,
kiểm tra và đánh giá.
Theo nghĩa hẹp, cải cỏch hành chớnh là quỏ trỡnh thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực
và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ mỏy hành chớnh nhà
nước.
Trong cỏc tài liệu của Liờn Hợp Quốc về cải cỏch hành chớnh thỡ đó chính là
những cố gắng có chủ định nhằm đưa những thay đổi cơ bản vào hệ thống hành chính nhà
nước thông qua những cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất một
trong bốn yếu tố cấu thành của nền hành chính công: 1. Thể chế; 2. Cơ cấu; 3. Đội ngũ
công chức; 4. Tiến trỡnh.
Ở nước ta, căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung
ương Khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Khoá X, có
thể hiểu cải cách hành chính là trọng tâm của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn
Nhà nước Cộng hoà Xó hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định
nhằm hoàn thiện thể chế của nền hành chính; cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy
hành chính các cấp và đội ngũ cán bộ công chức để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu
quả hoạt động của nền hành chính phục vụ nhân dân tốt hơn.
1.1.10. Thủ tục hành chính là một quy phạm pháp luật quy định trỡnh tự về thời
gian, về khụng gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách
thức giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ
chức và cá nhân công dân.
Thủ tục hành chính là cơ sở và là điều kiện cần thiết để cơ quan nhà nước giải quyết
công việc của công dân và các tổ chức theo pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính là điều
kiện cần thiết để tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường
sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các
doanh nghiệp, các tổ chức theo pháp luật.
1.1.11. Chính phủ điện tử

cần đăng nhập một lần theo cơ chế một cửa.
1.1.13. Cổng chính phủ điện tử (e-government portal)
Cổng chính phủ điện tử là nơi mà mọi người dân đều có thể truy nhập được và được
thụ hưởng các dịch vụ công cộng trực tuyến một cách bỡnh đẳng. Mọi công dân và doanh
nghiệp được coi như khách hàng và chính phủ được coi như một doanh nghiệp thống nhất.
Các công dân/doanh nghiệp có thể truy nhập dịch vụ công qua một cổng duy nhất – đây chính là khái niệm “một cửa” - từ bất kỳ thiết bị hỗ trợ nào, tại bất kỳ đâu và vào bất cứ
lúc nào.
Mỗi cổng chính phủ điện tử đều có thể vận hành ở ba cấp độ phức tạp khác nhau.
Mức thứ nhất, đơn giản nhất là chỉ cung cấp thông tin một chiều và không hỏi đáp
(Information – Web Presence and Publishing), chúng ta cũng đó khỏ quen thuộc với loại
dịch vụ này thụng qua cỏc trang Web tại Việt Nam. Vấn đề ở đây là những thông tin có giá
trị thực sự với người dân hay không.
Mức thứ hai, là mức giao dịch, xử lý (transaction – single agency systems), nghĩa là
hệ thống cung cấp những dạng mẫu đơn giản, nhận những yêu cầu, xử lý và đưa ra kết quả,
nhưng việc xử lý chỉ liờn quan đến hệ thống của một cơ quan, tổ chức nào đó.
Mức thứ ba, được coi là mức cao nhất, mức tích hợp (Intergation – Intergration
Across Multiple Agencies), nghĩa là người dân không cần biết đến mức độ phức tạp, cồng
kềnh của chính phủ tổng thể ra sao, bất kể họ ở đâu, bất kỳ lúc nào, tại một “điểm dừng”
(one stop) họ cũng có thể giải quyết được những việc liên quan đến nhiều bộ ngành khác
nhau của chính phủ.
1.2. ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ TRI THỨC
Toàn cầu hoá đó tạo ra những thỏch thức to lớn cho các dân tộc, đồng thời cũng mở
ra những cơ hội và khả năng nhảy vọt thần kỳ cho những cộng đồng thông minh và biết giá
của trí tuệ.
Ngay từ những năm 1970, người Nhật đó cho rằng “thời đại thông tin đó đến rồi”
và tin tưởng rằng, thông tin, tri thức mới là chỡa khoỏ để mở cổng “bá quyền kinh tế” thế

làm biến đổi cơ cấu lực lượng sản xuất xó hội, nõng cao năng suất lao động.
Hiện nay, thế giới coi tri thức như nguồn tài nguyên chủ chốt. Đất đai, khoáng sản
lao động và vốn trước đây vẫn được coi là những nguồn tài nguyên chính của các quốc gia.
Khụng cú chỳng thỡ thậm chớ tri thức cũng khụng thể phỏt huy tỏc dụng được. Không có
chúng thỡ ngay cả quản lý cũng khụng thể thực hiện được. Nhật Bản là một thí dụ đặc
trưng, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này rất nghèo nàn, nhưng họ rất chú trọng tri
thức và quản lý nên Nhật Bản đó trở thành quốc gia giàu có thứ hai trên thế giới. “Tri thức
đó trở thành nguồn tài nguyờn duy nhất, chứ khụng phải tài nguyờn thiờn nhiờn là nguồn
duy nhất. Nú làm thay đổi nền tảng, cấu trúc của xó hội. Nú tạo ra những sự năng động xó hội mới. Nú tạo ra sự năng động kinh tế mới. Nó tạo ra sự năng động chính trị mới”
1
.
Người quản lý là người chịu trách nhiệm về ứng dụng và hiệu quả của tri thức.
Ngày nay, nhân loại đang vươn tới một nền kinh tế tri thức, một xó hội thụng tin
hiện đại, trong xó hội như vậy, thông tin, tri thức là nguồn lực tiềm tàng không bao giờ vơi
cạn. Nó được coi là nhân tố động lực cho sự phát triển. Nhà bác học N. Winner từng nói:
“Sống hiệu quả là sống với thông tin”. Các đại gia kinh tế ở phố Wall (Wall Street) thỡ coi
thụng tin là “thứ hàng hoỏ cú giỏ trị nhất mà họ biết”. Trong xó hội học tập, thụng tin liờn
quan nhiều tới giỏo dục và bỏo chớ. Cả ba hoạt động: giáo dục, báo chí, thông tin đều đối
mặt với việc vận chuyển tri thức của con người trong xó hội.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế thị trường làm cho hoạt động
thông tin trong xó hội ngày càng trở nờn sụi động và phức tạp, thông tin trở thành một loại
nguồn lực và hàng hoá. Thông tin ngày càng nhiều, nhu cầu thông tin càng cấp thiết đũi
hỏi phải được thoả món nhanh nhất đó đặt ra thách thức vượt qua sự hạn chế của các
phương pháp truyền thống và kinh nghiệm xử lý thụng tin từ trước đến nay của con người.
Các chính phủ ngày càng nhận ra rằng, con đường phía trước trong quá trỡnh phỏt
triển nằm trong tiến bộ của việc xõy dựng tri thức và chia sẻ tri thức. Cải cỏch hành chớnh
cũng khụng nằm ngoài dũng chảy đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII). Ngày 23/01/1995. Hội nghị đó ra Nghị
quyết về “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam,
trọng tõm là cải cỏch một bước nền hành chính”.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính là nhất quán từ
Đại hội VII, được tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII với việc xác
định cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà
nước trong những năm trước mắt, công cuộc cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp
luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây
dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính.
Tiếp đó, tháng 6/1997, Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VIII)
đó ban hành Nghị quyết về phỏt huy quyền làm chủ của nhà nước, tiếp tục xây dựng Nhà
nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh và Nghị quyết về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 26/2/1998,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đó ban hành Phỏp lệnh Cỏn bộ, Cụng chức, tạo cơ sở pháp lý
để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, trỡnh độ cho cả hệ thống chính trị
theo yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Trích đoạn Phương hướng chung về đẩy mạnh hoạt động thông tin phục vụ cải cách hành chính quốc gia Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy Nhóm giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin phục vụ cải cách hành chính Nhóm giải pháp về xây dựng cở sở dữ liệu thông tin Nhóm giải pháp về yếu tố chuẩn hoá của nền hành chính nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status