Luận văn
Một số biện pháp nâng cao
năng lực tự học môn sinh học
10 cho học sinh trường PT
DTNT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà
nước và của Bộ giáo dục - đào tạo
Nghị quyết kỳ họp lần 2, BCH Trung ương Đảng khóa VIII trong phần IV
"Những giải pháp chủ yếu" nêu ra: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục-
đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương
tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học ” [1, tr.41].
Luật giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực tự giác, chủ động , tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho
người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên…” (Khoản 2 Điều 5)[29].
Với môn sinh học Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mục tiêu về kỹ năng:
"Phát triển kĩ năng học tập, đặc biệt là tự học: Biết thu thập và xử lí thông tin;
lập bảng biểu, sơ đồ, đồ thị làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; làm
báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp " [8, tr.6] .
học sinh học.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu bồi dưỡng để HS trường PT DTNT có được các năng lực tự học trong
khâu sử dụng SGK, các hoạt động trong lớp và ngoài lớp, thì sẽ tạo cho các em
lòng ham thích, sự tự tin, tính tích cực chủ động trong học tập và đặc biệt sẽ
nâng cao được chất lượng học tập bộ môn đáp ứng yêu cầu học tập bộ môn SH
đổi mới.
6. Những điểm mới của đề tài.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
* Phỏt hin tỡnh hỡnh thc tin kh nng t hc ca hc sinh dõn tc i vi
b mụn sinh hc qua cỏc s liu iu tra.
* Xỏc lp c s lớ lun v thc tin cựng cỏc gii phỏp i vi vic nõng
cao nng lc t hc cho hc sinh núi chung v HS trng PT DTNT núi riờng.
7. Gii hn nghiờn cu.
* i tng nghiờn cu i din: HS trng PT Dõn tc ni trỳ in
biờn v trng PT Vựng cao Vit Bc.
* Bi dng nng lc t hc cho hc sinh vi hỡnh thc lm vic vi SGK,
bi ging trờn lp v hot ng hc tp ngoi lp.
* Thụng qua vớ d phn II: Sinh hc t bo.
8. Nhim v nghiờn cu.
- Phỏt hin nhng khú khn c thự ca hc sinh trng PT Dõn tc ni trỳ
trong quỏ trỡnh hc tp b mụn sinh hc.
- Bi dng nng lc t hc, v cỏch thc bi dng nng lc t hc cho
hc sinh núi chung v hc sinh trng PT Dõn tc ni trỳ núi riờng.
- Thc nghim s phm kim tra, ỏnh giỏ tớnh kh thi ca gi thuyt ra.
9. Phng phỏp nghiờn cu.
9.1 Phng phỏp nghiờn cu lớ thuyt:
Nghiờn cu cỏc vn kin ca ng, cỏc vn bn phỏp quy ca Nh nc,
Tài liệu tham khảo
Phụ lục S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Phần II: Kết quả nghiên cứu
Chơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề tự
học và hớng dẫn tự học trong giáo dục nhà trờng
Trong lch s phỏt trin giỏo dc, t chc quỏ trỡnh hc tp theo hng
tng cng tớnh t hc ca hc sinh l vn c quan tõm v nghiờn cu t
lõu. Về vấn đề tự học nh vai trò của tự học, năng lực tự học của HS, cách
thức rèn luyện năng lực tự học cho HS nói chung và HS trờng PT DTNT
nói riêng đã đợc nhiều tác giả nghiên cứu.
1.1.1. Trờn th gii.
- Ngay t c i, nhiu nh giỏo dc li lc nh Xụcrat ( 470-399 TCN),
Khng T (551 -479 TCN) ó tng núi n tm quan trng to ln ca vic
phỏt huy tớnh tớch cc, ch ng ca HS v núi n nhiu bin phỏp phỏt huy
tớnh tớch cc nhn thc.
- T th k 17 n th k 19 nhiu nh giỏo dc ln nh J.A Conmesky
(1592-1670); Jacques Rousseau(1712-1778); A.ixtecvec (1790-1866)
Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ca mỡnh v giỏo dc phỏt trin trớ tu u
c bit nhn mnh: Mun phỏt trin trớ tu bt buc ngi hc phi phỏt huy
tớnh tớch cc, c lp, sỏng to t mỡnh dnh ly tri thc. Mun vy phi
tng cng khuyn khớch ngi hc t khỏm phỏ, t tỡm tũi v suy ngh trong
quỏ trỡnh hc tp [14, tr.26-33].
định: Lên lớp mà GV chỉ thông báo kiến thức là ít có hiệu quả, cần thay dần
việc thông báo bằng việc tổ chức HS tự tìm tòi để phát hiện kiến thức.
Tóm l
ại hoạt động tự học đã được các tác giả xem xét tương đối cụ thể, từ
vai trò c
ủa tự học, các kỹ năng tự học cần thiết đến các điều kiện để tổ chức
quá trình tự học đạt kết quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Hoạt động tự học được các tác giả kết luận là nó phải được thực hiện
trong mối quan hệ tương tác hợp lý giữa các yếu tố, cá nhân người học, giá o
viên và các điều kiện hỗ trợ khác.
1.1.2. Trong nước.
Trong l
ịch sử phát triển của giáo dục ở Việt Nam, vấn đề tự học, tự bồi
dưỡng đã được chú ý từ rất lâu.
Thời kì phong kiến, tư tưởng Nho giáo là hệ tư tưởng thịnh hành nhất ở
nước ta, đã xuất hiện các lớp tự phát của các ông đồ tâm huyết với nghề dạy
học, song còn nhiều hạn chế.
Thời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nước ta rất chậm đổi mới. hoạt
động tự học không được nghiên cứu và phổ biến, nhưng thực tiễn giáo dục lại
xuất hiện nhu cầu tự học có tính tự giác rất cao ở nhiều tầng lớp xã hội.
Ở Miền Nam thời Mỹ - nguỵ, hoạt động tự học đã được chú ý nghiên cứu
bởi nhiều tác giả, trong đó phải kể đến Đinh Gia Trinh với quan niệm có 2 hình
thức học là học lấy và học ở nhà trường. Ông cho rằng: “Học lấy là tự mình
học lấy triết h
ọc, khoa học, văn chương, không cần theo sự giảng dẫn tuần tự
của một ông thầy … Người ta ai cũng cần học lấy dù cả những người đỗ đạt
cao” [44].
"bin quỏ trỡnh dy hc thnh quỏ trỡnh t hc", tc l khộo lộo kt hp quỏ
trỡnh dy hc ca thy vi quỏ trỡnh t hc ca trũ thnh mt quỏ trỡnh thng nht
bin chng [40, tr 60-66].
Riờng lnh vc SH cú rt nhiu cụng trỡnh nghiờn cu v t hc in hỡnh nh
inh Quang Bỏo [3] [4] [5][6], . Nguyn c Thnh[43], Trn Bỏ Honh[16]
[17] v nhiu tỏc gi khỏc. Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn c u ca mỡnh, tỏc gi
Trn Bỏ honh ó phõn tớch c s khoa hc, cỏch thit k bi hc sinh hc theo
phng phỏp tớch cc v k thut thc hin cỏc phng phỏp tớch cc nh KT
xỏc nh mc tiờu bi hc s dng cõu hi, phiu hc tp, k thut ỏnh giỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Trong đó ông nhấn mạnh Phát triển trí sáng tạo của học sinh, Ông chỉ rõ "Giáo
viên ph
ải biết hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức
mới, dạy cho học sinh không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó
cốt lõi là phương pháp tự học… Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng,
phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những
tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ
lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy
thì kết quả học tập sẽ tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ
dàng thích ứng với cuộc sống xã hội"[17, tr.50].
Nhiều công trình, nhiều bài báo viết về tự học nói chung ở các lĩnh vực
như “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn HS tự học” - Thái Duy Tuyên;
“Dạy học phát huy năng lực cá nhân của học sinh”– Nguyễn Gia Cầu và nhiều
bài báo khác.
Một số luận án tiến sỹ của các tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh; Hoàng Thị
Lợi, Nguyễn Thị Tính … Nhiều luận văn thạc sỹ viết về những vấn đề có liên
quan đến tự học như luận văn của các tác giả Bùi Thúy Phượng, Vũ Phương
Thảo, Ngô thị Mai H ương. …Các tác giả đã nêu và phân tích cơ sở khoa học
thông, có một số ít viết về tự học đối với học sinh trường PTDTNT nhưng các
công trình này chủ yếu m ới phản ánh một cách khái quát việc tổ chức hoạt
động học tập cho học sinh dân tộc trong giờ lên lớp hoặc hoạt động ngoài giờ
lên lớp, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc nghiên cứu các
biện pháp tổ chức tự học cho học sinh trường PTDTNT dưới góc độ môn Sinh học 10.
+ Để tổ chức, nâng cao năng lực tự học cho HS có hiệu quả, cần làm rõ cơ
sở lí luận và thực tiễn của các biện pháp, trên cơ s
ở đó xây dựng được các biện
pháp nâng cao năng lực tự học cho phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, độc
lập sáng tạo, rèn luyện kĩ năng tự học và nâng cao chất lượng học tập bộ môn
của HS.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Chơng 2
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng
lực tự học cho học sinh trờng PTDTNT
2.1 Một số khái niệm công cụ
2.1.1 Tự học và tự học có hớng dẫn
*Khái niệm về tự học: Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh
hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hớng
dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục và đào tạo
[15, tr.458] . Cụ thể hơn Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (nh trung thực, khác
quan có ý chí tiến thủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa
học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sở hữu của mình[40,tr.59].
* Tự học có hớng dẫn: Tự học có hớng dẫn là việc học cá nhân và
hớng dẫn. Tự học có hớng dẫn là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức
và hình thành kỹ năng tơng ứng với sự hớng dẫn tổ chức chỉ đạo của
giáo viên thông qua tài liệu hớng dẫn tự học
Nh vậy tự học là tự mình thực hiện việc học, tự học không thể thiếu
trong hoạt động học, trong đó học sinh phải biết huy động hết khả năng
trí tuệ, tình cảm và ý trí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kỹ
năng, và hoàn thiện nhân cách của mình dới sự hớng dẫn của giáo viên.
Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực tự học của mỗi cá
nhân và đặc biệt với học sinh phổ thông thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến
sự hớng dẫn của giáo viên.
2.1.2.Năng lực tự học và sự hình thành năng lực tự học cho HS
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
* Năng lực: Đc im ca cỏ nhõn th hin mc thụng tho - tc l
cú th thc hin mt cỏch thnh thc v chc chn - mt hay mt s dng hot
ng no ú. Năng lực gn lin vi nhng phm cht v trớ nh, tớnh nhy
cm, trớ tu, tớnh cỏch ca cỏ nhõn. Năng lực cú th phỏt trin trờn c s nng
khiu (c im sinh lớ ca con ngi, trc ht l ca h thn kinh trung
ng), song khụng phi l bm sinh , m l kt qu phỏt trin ca xó hi v ca
con ngi (i sng xó hi, s giỏo dc v rốn luyn, hot ng ca cỏ nhõn)
[2]. Nng lc c hỡnh thnh v hon thin dn trờn c s rốn luyn cỏc k
nng.
* K nng: Giai on trung gian gia tri thc v k xo trong quỏ trỡnh
nm vng mt phng thc hnh ng. c im ũi hi s tp trung chỳ ý
cao, s kim soỏt cht ch ca th giỏc, hnh ng cha bao quỏt, cũn cú ng
tỏc tha. c hỡnh thnh do luyn tp hay do bt chc [2].
Nói cách khác Kĩ năng là một việc gì đó mà HS phải thể hiện cái
phải làm. Kĩ năng bao hàm một hành vi trong đó kiến thức, hiểu biết và
lập luận đợc vận dụng một cách công khai [49, tr. 35]
các ghi nhớ, tái hiện. Cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi cố
gắng lặp lại y nguyên, ngại đào sâu, suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của
nội dung vấn đề nghiên cứu ( học vẹt).
- Hình thức học tập của HS vẫn hay sử dụng là học thuộc lòng trong
vở ghi, các hình thức ôn tập mang tính tích cực ít đợc sử dụng, kỹ năng
xây dựng dàn ý tóm tắt bài học, kĩ năng xây dựng sơ đồ , lập bảng tóm tắt
của HS đa số ở mức yếu và hầu nh cha đợc hình thành.
- Sự nỗ lực của bản thân trong tự học cha cao, khi gặp những khó
khăn trong học tập ( một bài tập khó, một vấn đề cha hiểu ) hầu hết các
em bỏ qua, một số ít hỏi bạn hỏi thầy, còn một số nhỏ tự mình mày mò,
tiếp tục suy nghĩ, tìm tài liệu để giải quyết vấn đề.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
- Môi trờng tự học khác với HS phổ thông. Tự học của HS trờng
PTDTNT đợc diễn ra trong môi trờng học tập giáo dục tập trung, dới
sự quản lý theo dõi, tổ chức điều khiển thống nhất ở những địa điểm nhất
định thờng là trên giảng đờng tại các lớp học.Việc tự học của mỗi HS tốt
hay không còn phụ thuộc ít nhiều vào việc tự học của các HS khác. Do vậy
việc tổ chức tự học cho HSDTNT phải có tổ chức hớng dẫn của giáo viên
và liên quan đến việc tổ chức, quản lý giờ tự học trong tập thể.
Nh vậy với đặc điểm nhận thức, phơng pháp học tập và những đặc
điểm về hoạt động tự học của HS trờng PTDTNT nh đã trình bày ở
trên, thì việc bồi dỡng cho các em năng lực tự học nói chung và năng lực
tự học bộ môn sinh học nói riêng là vấn đề rất quan trọng, cần giúp cho
HS trờng PTDTNT có phơng pháp học hợp lý, khoa học mà trọng tâm
chính là phơng pháp tự học, cần đặc biệt nhấn mạnh việc rèn luyện cho
các em thói quen tự học có khoa học, thờng xuyên đặt ra các câu hỏi: Tại
sao? Nh thế nào? Tại sao nh thế này mà không phải thế kia? Nếu thế
này thì sao? Cũng nh rèn luyện cho các em một số kĩ năng trong tự học
Về mức độ phát triển cần đạt đợc là học sinh làm chủ từng bớc
các mối quan hệ xã hội của bản thân, phát triển nhân cách với t cách là
chủ thể xã hội.[46]
Với những đặc điểm tâm lí trên rất thuận lợi cho việc dạy - tự học vì
dạy - tự học không phải là một phơng pháp cụ thể nào đó mà nó bao gồm
nhiều tập hợp phơng pháp. Hầu hết các phơng pháp đều nhằm phát huy
tính tích cực học tập của HS và đều có đặc điểm chung là:
- Dạy học bằng việc tăng cờng tổ chức các hoạt động cho HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phơng pháp tự học.
- Tăng cờng học tập cá nhân và hoạt động nhóm.
- Dạy HS tự đánh giá, tự điều chỉnh.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
* Cơ sở sinh lý học
Mô hình dạy - tự học (hớng dẫn tự học) có cơ sở sinh học là: Học
thuyết về phản xạ có điều kiện chủ động của B.F.Skinner với hai thí
nghiệm nổi tiếng là: thí nghiệm dạy chim bồ câu tự tìm lấy thức ăn trong
các hạt có hình thù giống nhau nhng mầu sắc khác nhau, và thí nghiệm
Dạy chuột đạp cần câu cơm[26].
Theo học thuyết này, bài học là vì lợi ích của chính ngời học; mục
đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của ngời học. Chim bồ câu tự
tìm thấy thức ăn, chuột đạp từ cần câu cơm trong sơ đồ dạy học của
Skinner là hình ảnh của ngời tự học, tích cực chủ động tìm ra kiến thức -
thức ăn tinh thần bằng hành động của chính mình. Đó chính là dạy - tự
học trong đó việc học (tự học) thực chất là một quá trình:
- Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ta các cầu
nối nhận thức trong tình huống học.
- Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lợm và
xử lý thông tin từ môi trờng sống xung quanh mình.
việc học tập sinh học(SH) ở trờng PT dân tộc nội trú
Phiếu số 2: Khảo sát về việc tự học môn sinh học ở trờng PT dân tộc nội
trú
Phiếu số 3: Khảo sát về cách thức thầy (cô) giáo bộ môn thờng
hớng dẫn HS tự học trong trờng PT dân tộc nội trú.
* Các phơng pháp khác: Chúng tôi tiến hành dự giờ dạy, tham khảo bài
soạn của một số giáo viên dạy môn sinh học 10, tiến hành quan sát hoạt
động tự học của học sinh, gặp gỡ trao đổi với các giáo viên và học sinh về
vấn đề quan tâm.
2.4.2 Kết quả điều tra
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Qua kết quả ở bảng [Phần phụ lục] kết quả điều tra có thể đợc tóm tắt nh
sau:
*Về những khó khăn thờng gặp của HS trong việc học tập sinh học ở
trờng PT dân tộc nội trú
- HS trờng PTDTNT thờng gặp khó khăn khi phát biểu trớc đám
đông vì ngại ngùng, thiếu tự tin, một số HS gặp khó khăn trong diễn đạt
bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt) các kiến thức vốn đã hiểu (tức là tuy trong
óc thì hiểu mà lại khó khăn để nói, viết ra), Đặc biệt có 61% HS gặp khó
khăn trong việc tự tìm hiểu các loại sơ đồ , hình vẽ trong sách giáo khoa. Qua
dự giờ và trao đổi với HS chúng tôi thấy khi làm việc với hình vẽ, nhiều HS
còn cha chú ý xem xét các bộ phận các chi tiết cụ thể của hình vẽ, khă năng
nhận biết ý nghĩa của các dấu hiệu và mối liên quan giữa các bộ phận trên
hình vẽ còn rất hạn chế.
*Về việc tự học môn sinh học ở trờng PT dân tộc nội trú
Qua kết quả ở bảng 1.2, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Về việc chuẩn bị bài mới trớc khi lên lớp: Nếu các thầy cô giao
nhiệm vụ, yêu cầu HS đọc bài ở nhà thì phần lớn HS có ý thức đọc trớc,
có thắc mắc.
- Về vấn đề thảo luận nhóm: Qua dự giờ và trao đổi với các em HS và
GV chúng tôi thấy: Khi giáo viên yêu cầu nghiên cứu SGK trao đổi nhóm
và thảo luận, một số nhỏ HS không làm gì chỉ nghe các bạn trong nhóm
làm và báo cáo, phần lớn các em có tham gia (để giáo viên không phê
bình) nhng không nhiệt tình. Chỉ những HS học khá, hay phát biểu (
năng động) thì giữ vai trò chủ chốt trong giờ học khi GV sử dụng hình
thức trao đổi nhóm. Đa số các em biết bám sát yêu cầu của câu hỏi khi
thảo luận song khả năng diễn đạt ý kiến rõ ràng, ngắn gọn và khả năng
tranh luận đặc biệt là tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, của nhóm
mình còn hạn chế.
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
- Về ý thức môn học thì phần lớn các em chỉ coi học môn sinh học là
nhiệm vụ bắt buộc, không hứng thú, say mê môn học. Chỉ một phần nhỏ là
yêu thích và say mê nó.
* Về việc giáo viên bộ môn thờng hớng dẫn HS tự học trong trờng
PT dân tộc nội trú
- Giáo viên thờng chỉ yêu cầu học sinh học bài cũ và chuẩn bị bài
mới theo câu hỏi và bài tập trong SGK, một số GV có hớng dẫn học sinh
học bài cũ và chuẩn bị bài mới. Một số GV quan tâm đến việc yêu cầu học
sinh lập dàn ý và xây dựng sơ đồ Grap cho các bài học và các bài ôn tập
chơng.
- Trong giờ lên lớp hầu hết giáo viên thờng đặt các câu hỏi dễ, các
câu hỏi tái hiện kiến thức cũ hoặc yêu cầu học sinh tóm tắt kiến thức cơ
bản để từ đó dạy kiến thức mới, một số GV quan tâm đến việc hớng dẫn
học sinh phân tích bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, hình vẽ cũng nh đặt ra các
tình huống có vấn đề hớng dẫn học sinh thảo luận nhóm để tìm ra kiến
thức mới nhng không thờng xuyên.
thụ động chủ yếu nghe cô giảng, HS khác phát biểu và ghi chép nội dung
kiến thức của bài, các em chỉ hiểu mang máng cha nắm rõ bản chất. Đa
số GV vẫn lo không đủ thời gian cho giờ học ( lo cháy giáo án) vì vậy hoạt
động của giáo viên chiếm phần lớn thời lợng của tiết học ( Giảng bài, đặt
các câu hỏi và thậm chí phải tự trả lời câu hỏi), các em HS chủ yếu trả lời
những nội dung câu hỏi dễ, câu hỏi có đáp án sẵn trong SGK, có ít HS trả
lời đợc các câu hỏi mang tính phát hiện và nếu có thờng phải mất nhiều
thời gian. Việc giải mã hình vẽ, sơ đồ, đồ thị chủ yếu do GV giải thích,
không có câu hỏi định hớng nghiên cứu cho HS.
- Việc hớng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà nhiều GV cha thật quan tâm
mặc dù có thể nói rằng khâu này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
hớng dẫn HS tự học có hiệu quả, nâng cao đợc tính chủ động, sáng tạo
trong quá trình học bài mới ở trên lớp. Hầu hết GV chỉ nhắc các em về học
bài cũ và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi cuối SGK, chứ không hớng dẫn
cụ thể các em học bài cũ nh thế nào và chuẩn bị bài mới theo hệ thống
câu hỏi nào.
* Qua quan sát hoạt động tự học của HS trong giờ tự học buổi chiều
và buổi tối theo quy định chúng tôi thấy rằng hầu hết các em ở các lớp
ngồi tự quản rất trật tự, song cha thật sự say mê tự hoc, chỉ khoảng 17 %
các em nghiêm túc học, say mê, tích cực chủ động trong tự học, số còn lại
vẫn tự học song không chuyên tâm, học môn này cha song lại chuển sang
môn khác, khi gặp bài khó thì bỏ dở, một số HS vẫn quen học theo lối học
vẹt đọc to gây ảnh hởng đến việc học của các bạn khác, một số ít ngồi
chơi hoặc không làm gì
Nh vậy thực chất với hơn hai tiếng học buổi chiều và ba tiếng buổi
tối dành cho các em tự học là rất bổ ích nếu HS biết cách sử dụng nó.
Ngợc lại sẽ quá lãng phí khi các em không chuyên tâm vào việc tự học và
của việc tổ chức quản lý giờ tự học của các giáo viên và của cả nhà trờng.
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng nói trên.
Qua điều tra, phỏng vấn và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng thực trạng
nói trên có thể do một số nguyên nhân sau :
* Về phía HS:
- Do các em đã quá quen với cách học từ cấp 2 theo lối bị động, cha
có phơng pháp tự học hiệu quả.
- Do có nhiều HS thiếu hụt về kiến thức, động vào đâu cũng thấy khó
thành ra chán nản với việc học và từ đó dẫn đến không quan tâm đến tự
học.