BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
CHỨNG KHOÁN HÓA TÀI SẢN CÓ RỦI RO TÍN
DỤNG VÀ VIỆC ỨNG DỤNG ĐỂ HUY ĐỘNG
VỐN TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA VÀ CHỨNG KHOÁN
HÓA DANH MỤC TÀI SẢN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP 3
1.1. Tổng quan chứng khoán hóa và nội dung kỹ thuật chứng khoán hóa 3
1.1.1. Khái niệm 3
1.1.2. Mô hình chứng khoán hóa tổng quát 5
3.1.2. Vấn đề liên quan đến việc chọn lựa mô hình chứng khoán hóa 46
3.1.2.1. Lựa chọn loại tài sản tài chính cho các gói CDO 46
3.1.2.2. Lựa chọn chứng khoán chuyển hóa 47
3.1.3. Các định chế tài chính trung gian tham gia quy trình chứng khoán
hóa 47
3.1.3.1. Ngân hàng thương mại 47
3.1.3.2. Các định chế trung gian phát hành chứng khoán, bão lãnh chứng
khoán 48
3.1.3.3. Các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ 49
3.1.3.4. Thành lập và phát triển công ty định mức tín nhiệm 49
3.1.3.5. Thông tin minh bạch 50
3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng CDO ở Việt Nam 50
3.2.1. Những thuận lợi 50
3.2.2. Những khó khăn 51
3.3. M
ột số giải pháp kiến nghị đối với việc ứng dụng CDO vào việc huy động vốn ở thị
trường Việt Nam 52
3.3.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 52
3.3.2. Hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán – Ban
hành văn bản pháp lý về chứng khoán hóa 53
3.3.3. Thành lập công ty chuyên trách chứng khoán hóa (SPV) 54
3.3.4. Phát triển các công ty định mức tín nhiệm ở Việt Nam 56
3.3.5. Hoạt động của các tổ chức ủy thác phát hành 60 3.3.6. Lựa chọn tài sản tài chính để chứng khoán hóa 60
3.3.7. Lựa chọn chứng khoán chuyển hóa 60
3.3.8. Nâng cao chất lượng các khoản vay 61
3.3.9. Nâng cao sự cạnh tranh và thu hút nhà đầu tư đối với CDO 62
Kết luận chương 3 63
việt của thị trường tài chính thế giới. Lợi ích của các sản phẩm chứng khoán hóa tài
sản có rủi ro tín dụng đã được chứng minh trong suốt những thập kỷ qua. Do đó xây
dựng và phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản có rủi ro tín dụng là xu thế tất
yếu trong tương lai. Đặc biệt, đối với những những nước mà nguồn vốn vay phụ
thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng như Việt Nam. Việc ứng dụng các sản phầm
chứng khoán hóa tài s
ản có rủi ro tín dụng sẽ mở ra một nguồn huy động mới giúp
thỏa mãn nhu cầu cho vay, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính và giảm áp lực đối
với ngành ngân hàng nước ta. Bên cạnh đó, sử dụng sản phẩm chứng khoán hóa có
danh mục tải sản rủi ro làm đảm bảo, sẽ giúp thúc đầy quá trình cải cách hệ thống
ngân hàng bằng việc cấu trúc lại bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, để có thể phát triển th
ị trường chứng khoán hóa, Việt Nam hoàn
thiện các thị trường liên quan và phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ. Do
đó, cần có một chiến lược lâu dài, với từng bước đi cụ thể cho quá trình xây dựng và
phát triển chứng khoán hóa. Thực hiện được điều này sẽ là một bước tiến xa giúp
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trên thế giới.
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về chứng khoán hóa, phân tích vai trò mà chứng khoán hóa
mang lại, phân tích hạn chế của các kênh huy động vốn trên thị trường Việt Nam.
Qua đó, đánh giá những khó khăn, thuận lợi, và những điều kiện ứng dụng sản phẩm
chứng khoán có tài sản rủi ro tín dụng làm đảm bảo trong hoạt động huy động vốn
trên thị trường. Theo đó, đề tài tập trung nghiên cứu và đạt được những mục tiêu
sau:
2
- Chứng khoán hóa tài sản có rủi ro tín dụng làm giảm áp lực cho vay của hệ
thống ngân hàng Việt Nam, tạo thêm công cụ tài chính mới đáp ứng nhu cầu của
đông đảo nhà đầu tư. Đồng thời, là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh
1.1. Tổng quan về chứng khoán hóa và nội dung kỹ thuật chứng khoán hóa:
1.1.1. Khái niệm:
Chứng khoán hóa là một kỹ thuật tài chính trong đó một tập hợp các tài
sản tài chính được bán cho một công ty có mục đích đặc biệt (Special Purpose
Vehicle - SPV), mà tiền mua các hợp đồng này được tổ chức trung gian chuyên
trách huy động thông qua phát hành trái phiếu được đảm bảo bằng chính các tài
sản tài chính đó. Tiền nhận được từ việc bán các trái phiếu này sẽ được chuy
ển
đến chủ thể cho vay/người khởi phát để cho người thế chấp vay tiền. Có thể nói,
chứng khoán hóa là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp,
nơi mà chúng có thể được trao đi đổi lại, quá trình này biến các tài sản có tính
thanh khoản thấp thành những chứng khoán có tính thanh khoản cao.
Về bản chất chứng khoán hóa là một quá trình huy động vốn bằng cách sử
dụng các tài sản sẵn có trên bảng cân đối k
ế toán làm tài sản đảm bảo cho việc
phát hành các loại chứng khoán nợ. Thay vì cách làm truyền thống là mang các
tài sản này ra ngân hàng làm thế chấp để vay tiền thì doanh nghiệp (chủ thể tạo
lập tài sản) sử dụng chúng làm cơ sở đảm bảo phát hành các loại chứng khoán nợ
cho các nhà đầu tư. Như vậy, thay vì phải đi vay ngân hàng với một lãi suất cao
và thường với kỳ hạn ngắn thì việc chứng khoán hóa tài sản tạo m
ột kênh huy
động vốn dài hạn với lãi suất hấp dẫn hơn nhiều thông qua việc chuyển rủi ro
trực tiếp cho nhà đầu tư.
Nói cách khác, chứng khoán hóa là quá trình phát hành chứng khoán nợ
trên cơ sở đảm bảo bởi dòng tiền mặt tương lai sẽ thu được từ một nhóm tài sản
tài chính sẵn có. Do đó, các nhà đầu tư mua chứng khoán nợ chấp nhận rủi ro
(rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán sớm) đối với danh m
ục tài sản đảm bảo được
đem ra chứng khoán hóa. Các khoản vay trong cùng một tập hợp nợ được chứng
khoán hóa phải có cùng tính chất về thời hạn vay và lãi suất vay.
theo thời gian, số tiền gốc của MBS được hoàn trả dần thì cả tiền lãi và giá trị
của loại trái phiếu này cũng giảm tương ứng và khi đáo hạn có giá trị
bằng 0.
5
CDO là sản phẩm chứng khoán có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài
sản đảm bảo. Các tài sản có rủi ro tín dụng ở đây là tín dụng tiêu dùng,các khoản
phải thu thương mại, cho vay thế chấp bất động sản thương mại, trái phiếu doanh
nghiệp, và thậm chí trái phiếu CDO. Đặc điểm của CDO là giải quyết rủi ro tín
dụng của tài sản chứng khoán hóa . Rủi ro thánh toán sớm đối với các tài sản
dùng trong CDO là r
ất thấp hoặc gần như không có.
ABS theo nghĩa hẹp đại diện cho phần còn lại của thị trường chứng khoán
hóa, với các đặc tính dựa phụ thuộc vào sự hỗn tạp của các tài sản đảm bảo. Các
tài sản này có thể là những khoản vay tiêu dùng, thẻ tín dụng, cho vay sinh
viên… Trong các phần sau của bài viết, ABS được nhắc đến theo nghĩa hẹp.
Mô hình chứng khoán hóa ở phần tiếp theo sẽ giúp hiểu rõ hơn v
ề quá
trình chứng khoán hóa thực hiện như thế nào.
1.1.2. Mô hình chứng khoán hóa tổng quát:
Một ngân hàng A, để đáp ứng nhu cầu vay thế chấp mua nhà của khách
hàng đã tập hợp tất cả các khoản nợ có cùng lãi suất và thời hạn cho vay (lãi suất
10%/năm, thời hạn 10 năm đều có tài sản thế chấp bằng chính ngôi nhà) và bán
cho một công ty có mục đích đặc biệt (SPV). Ví dụ ngân hàng bán 100 khoản
vay (1 triệu USD/khoản) tương ứng 100 triệu USD cho tổ chức Freddie Mac
chứng khoán hóa các món nợ này thành 10.000 chứng khoán có giá trị
10.000USD/chứng khoán, ngân hàng có thể tự phát hành hoặc thông qua một tổ
chức bảo lãnh phát hành với lãi suất 8%/năm.
Ngân hàng lập hoặc thuê một công ty quản lý tài sản và thu các khoản gốc
và lãi của tài sản từ khách hàng chuyển đến ngân hàng, ngân hàng chuyển đến
của tài sản hoàn toàn chuyển sang cho SPV. Nhờ đó, SPV có thể toàn quyền
sử dụng dòng tiền tương lai của tài sản này làm cơ sở đảm bảo cho chứng
khoán nợ phát hành.
Trong thực tế, việc bán tài sản thường được cấu trúc theo dạng chủ thể
tạo lập tài sản vẫn có quyền lợi phát sinh liên quan đến tình hình hoạt động
của các tài sản tài chính. Ví dụ, trong tương lai, nếu danh mục cho vay này có
tỷ lệ thu hồi cao hơn một mức quy định nào đó thì ngân hàng sẽ có mộ
t
khoản thưởng dựa vào một công thức đã thỏa thuận trước. Quyền lợi này
nhằm gắn chặt chủ thể tạo lập tài sản với SPV.
Lúc này, SPV phải trải cho chủ thể tạo lập tài sản một khoản tiền cho
việc mua danh mục tài sản. Để có tiền trả cho hợp đồng này, SPV phải tiến
hành phát hành chứng khoán nợ cho nhà đầu tư.
Bước 3: Định mức tín nhi
ệm.
7
Tại hầu hết các quốc gia, để được phát hành chứng khoán nợ, SPV
phải được định mức tín nhiệm. Chủ thể tạo lập tài sản sẽ thuê một công ty
định mức tín nhiệm để thực hiện việc này. Các công ty định mức tín nhiệm sẽ
đánh giá mức độ bảo vệ đối với nhà đầu tư thông qua khía cạnh pháp lý cũng
như cấu trúc giao dịch.
Bước 4: Thuê công ty quản lý.
Nhiệm vụ của công ty quản lý là thay mặt điều hành SPV. Các đầu
việc bao gồm quản lý danh mục tài sản, thu các khoản gốc và lãi của tài sản
từ khách hàng, gửi thư nhắc nhở đôn đốc việc thu hồi nợ đúng hạn và thực
hiện các thủ tục xiết nợ khi cần thiết, thanh toán gốc và lãi cho nhà đầu tư
chứng khoán nợ theo đúng thứ tự ưu tiên.
Bước 5: SPV phát hành trái phiế
u có tài sản đảm bảo.
tạo lập tài sản thường là các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư.
Công ty có mục đích đặc biệt (SPV): Khi việc phát hành chứng khoán nợ
được hoàn tất, SPV độc lập với tài sản là các tài sản tài chính được chứng khoán
hóa. Đối ứng với các tài sản này là nguồn huy động được qua việc phát hành
chứng khoán nợ. Khi các tài sản được thu hồi dần, số tiền thu hồi sẽ dùng để
thanh toán cho các nhà đầu tư. Công ty dịch vụ được thuê để quản lý với nhiệm
vụ thu hồi tài sản và thanh toán chứng khoán nợ. Để quá trình thu hồi vốn và
phân chia quyền lợi được minh b
ạch cho các nhà đầu tư, đơn vị ủy thác có vai trò
quan trọng trong việc giám sát quá trình hoạt động này.
Báo cáo thu nhập của công ty có mục đích đặc biệt bao gồm các khoản
thu nhập mà tài sản mang lại (lãi suất, các khoản phí…). Các chi phí bao gồm
thanh toán lãi suất cho các chứng khoán nợ, thanh toán phí quản lý cho công ty
dịch vụ, bảo lãnh phát hành, phí cho công ty định mức tín nhiệm, các khoản phí
thanh toán cho cơ quan chức năng. Tổng chi phí phát sinh phụ thuộc vào quy mô
và loại tài sản, song nói chung mức phí trung bình khoảng 1% số vốn huy
động.
Giá trị tài sản được thu hồi dần và thanh toán cho nhà đầu tư, sau một khoảng
thời gian nào đó, số tài sản và nợ sẽ giảm dần và cuối cùng bị triệt tiêu. Phần lãi
9
hoặc lỗ cuối cùng của SPV do nhà đầu tư hưởng hoặc gánh chịu. Lúc đó, SPV
hoàn thành xong nhiệm vụ và được giải thể.
Nhà đầu tư: là các cá nhân, tổ chức mua chứng khoán từ tổ chức phát
hành.
1.1.5. Tính hai mặt của chứng khoán hóa:
1.1.5.1. Lợi ích của chứng khoán hóa:
Chứng khoán hóa được xem là một sáng tạo tài chính vì nó mang lại rất
nhiều lợi ích cho các bên tham gia (đặc biệt là chủ thể tạo lập tài sả
n) và nền kinh
pháp phù hợp nếu một doanh nghiệp muốn thoái bỏ một số tài sản không
còn phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình. Còn trong trường hợp
chủ thể tạo lập tài sản là các ngân hàng thì việc thoải bỏ tài sản ra khỏi
bả
ng cân đối, đặc biêt là những tài sản có hệ số tín dụng cao sẽ làm giảm
mức vốn cần thiết đáp ứng cho quy mô tổng tài sản.
- Kế đến, nhờ việc SPV được thiết kế với một cơ cấu mình bạch, được công
ty định mức tín nhiệm soát xét, nên các sản phẩm chứng khoán hóa sẽ
được định giá bán một cách tốt nhất. Thực chất của việc đóng gói các tài
s
ản không có tính thanh khoản cao để phát hành các chứng khoán nợ có
thể trao đổi trên thị trường thứ cấp là một cách gián tiếp tăng cường tính
thanh khoản của tài sản.
Tuy vậy, chủ thể tạo lập tài sản vẫn giữ quyền cung cấp dịch vụ quản lý danh
mục cho SPV nên sẽ được khoản thu từ phí quản lý. Bên cạnh đó, đối với ngân
hàng thì chứng khoán hóa cũng mang lại một khoản thu về phí như phí t
ư vấn,
bảo lãnh phát hành.
Đối với nhà đầu tư: Chứng khoán hóa góp phần đa dạng hóa các sản
phẩm đầu tư, tạo nhiều cơ hội đầu tư mà trước đây họ không được tiếp cận. Các
sản phẩm chứng khoán hóa được chọn lọc và đóng thành từng gói tương ứng với
mức độ rủi ro và định mức tín nhiệm rõ ràng, sẽ cho phép nhà đầu tư
lựa chọn để
xây dựng danh mục phù hợp với khẩu vị rủi ro của bản thân.
1.1.5.2. Rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện chứng khoán hóa:
Ngoài những lợi ích cho các bên tham gia như kể trên, chứng khoán hóa cũng có
những rủi ro của nó.
Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng của việc thực hiện chứng khoán hóa phát sinh chủ yếu từ
tình huống nhà phát hành hoặc các khoản phải thu đảm bảo cho chứng khoán
i, rủi ro tín dụng cũng có thể được
chuyển giao sang trái phiếu CDO thông qua công cụ phái sinh. Điều này sẽ được
giải thích rõ hơn trong những phần tiếp theo.
Vấn đề đạo đức:
Chứng khoán hóa mang lại mức lợi nhuận rất lất cho các chủ thể tham gia,
đồng thời nó cũng là một công cụ dẫn truyền rủi ro hiệu quả. Một khi các chủ thể
tạo lập tài sản chỉ
lo chạy theo lợi nhuận thì việc đóng gói các danh mục tín dụng
dưới chuẩn rủi ro cao sẽ trở nên phổ biến. Việc quay vòng chứng khoán hóa các
trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa sẽ tạo nên nguồn vốn vô hạn đối với
cho vay dưới chuẩn cùng với những sản phẩm tài chính vô cùng tinh vi. Một khi
12
nền kinh tế có vấn đề, hệ thống chứng khoán hóa sẽ làm cho tình trạng đó trở nên
trầm trọng hơn, do mối liên kết giữa nhiều chủ thể trong quá trình chứng khoán
hóa. Chúng ta có thể thấy được điều này từ bài học của cuộc khủng hoảng tài
chính 2008 ở Mỹ.
Phần trên đây đã giới thiệu tổng quan về quá trình chứng khoán hóa, sau
đây bài viết sẽ trình bày về mộ
t trong những dòng sản phẩm chính của chứng
khoán hóa là CDO.
1.2. Sản phẩm chứng khoán có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản đảm
bảo (CDO):
1.2.1. Khái niệm:
Trái phiếu có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản đảm bảo (CDO) là một
công cụ phái sinh tín dụng, tạo ra các chứng khoán có thu nhập cố định với các đặc
điểm rủi ro khác nhau từ một tập hợp các tài sản có rủi ro. CDO đại diện cho nhóm
sản phẩ
m chứng khoán hóa không liên quan đến các khoản cho vay thế chấp mua
nhà.
Sản phẩm chứng khoán hóa có trái phiếu làm đảm bảo (CBO).
Sản phẩm chứng khoán hóa các hợp đồng bảo hiểm (CIO): được đảm bảo
bằng các hợp đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm.
CDO Squared: CDO được bảo đảm bởi các gói được phân phối bởi những
CDO khác.
CDO^n: CDO được đảm bảo bởi các trái phiếu CDO được cấu tạo từ nhiều
trái phiếu CDO khác nữa
Ngoài ra, CDO còn có thể được phân loại theo động lực hình thành của
người phân phối. Bằng cách này CDO sẽ được phân thành ba nhóm:
CDO vì mục đích bảng cân đối kế toán (Balance sheet CDO): Đối với
dòng sản phẩm này, chứng khoán hóa được thực hiện nhằ
m tái cơ cấu bảng cân đối
kế toán của chủ thể tạo lập tài sản. Chủ thể tạo lập tài sản thường là ngân hàng
thương mại, ngân hàng đầu tư muốn tăng cường tỷ lệ an toàn vốn, nghiệp vụ này sẽ
giúp họ loại bỏ một số danh mục tài sản có rủi ro tín dụng cao. Bên cạnh đó, còn
một mục tiêu khác là làm giảm tỷ lệ đòn bẩy tài chính, tăng cường khả năng định
mức tín nhiệm từ đó giúp giảm chi phí huy động vốn. Các giao dịch CLO chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong dòng sản phẩm chứng khoán hóa này.
CDO vì mục đích khai thác chênh lệch lợi nhuận (Arbitrage CDO): Chủ
thể tạo lập tài sản sẽ tham gia nắm giữ các gói chứng khoáng không ưu tiên (gói cổ
phiếu) với hy vọng quản lý tốt danh mục tài sản để khai thác lợi nhuậ
n chênh lệch.
Giao dịch được thực hiện khi có khoảng chênh lệch giữa một danh mục các tài sản
có rủi ro cao, lợi nhuận thấp (thường được đánh giá tín dụng dưới mức BBB-) với
14
các chứng khoán hóa được xếp hạng cao, chi phí thấp, được phân phối để mua danh
mục đó. Chủ thể tạo lập tài sản áp dụng các biện pháp tăng cường khả năng tín dụng
tối đa cho các gói trái phiếu cao cấp để giảm thiểu phí lãi vay và chấp nhận phần rủi
chuyển giao chứng khoán thật sự trong CDO tổng hợp. Do việc sử dụng công cụ
phái sinh CDS, SPV không cần dùng tiền mặt để mua rủi ro tín dụng. Thay vào đó,
SPV sẽ dùng tiền thu được từ việc phát hành CDO tổng hợp và phí bảo hiểm tín
dụng đầu tư vào trái phiếu chính phủ.
Ban đầu, dòng sản phẩm CDO tiền mặt chiếm ưu thế trên th
ị trường CDO,
nhưng hiện nay, dòng sản phẩm CDO tổng hợp đang ngày càng phát triển, một phần
15 Tài sản rủi ro
tín dụng
SPV
990
1000
Gói siêu
cao cấp
300-5%
Gói
trung cấp
300-7%
Gói cao
cấp
300-6%
Gói cổ
phiếu
90
do tính thanh khoản cao của thị trường CDS và sự xuất hiện của các chỉ số tín dụng
tiêu chuẩn, ngoài ra với khi sử dụng mô hình chứng khoán hóa tổng hợp, người khởi
phát vẫn có thể thực hiện được mục tiêu chứng khoán hóa là bán rủi ro tín dụng sang
Giả sử hàng năm thu lãi trên 1.000 tỷ được 90 tỷ (9%). Sau khi trừ chi phí
quản lý, chí phí bảo lãnh và các chi phí khác còn 80 tỷ. Số lãi thanh toán cho các gói
như sau:
Gói siêu cao cấp: 300 x 5% = 15 tỷ VND
Gói cao cấp: 300 x 6% = 18 tỷ VND
Gói trung cấp: 300 x 7% = 21 tỷ VND
Gói cổ phiếu: phần lợi nhuận còn lại 26 tỷ VND
Như vậy, gói cổ phiếu có giá 90 tỷ VND với lợi nhuận 26 tỷ VND tương ứng
với lãi suất 27%/ năm.
Mức
độ ưu tiên thanh toán giảm dần từ gói siêu cao cấp đến gói cổ phiếu
tương ứng với mức rủi ro tăng dần. Phần lãi hàng năm sẽ được thanh toán cho gói
siêu cao cấp trước tiên và cuối cùng là gói cổ phiếu. Tương tự phần gốc thu được sẽ
thanh toán cho gói siêu cao cấp đầu tiên và cuối cùng là gói cổ phiếu.
Cấu trúc đóng gói của CDO tồng hợp cũng tương tự nhưng trong giao dịch
CDO tổng hợp. Tuy nhiên, công ty có mục đích đặc biệt không cần phải dùng tiền
mặt để mua rủi ro tín dụng, mà thông qua hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng.
Đối với mô hình CDO tổng hợp, ngân hàng bán rủi ro tín dụng sang cho SPV
bằng hợp đồng hoán đổi tín dụng. Qua đó ngân hàng sẽ thanh toán định kỳ một
1.2.4. Quá trình phát triển của CDO trên thế giới trước và sau khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2007-2008:
Trong những thập kỉ vừa qua, thị trường tài chính toàn cầu đã chứng kiến sự
bùng nổ và sự sụt giảm của thị trường các sản phẩm CDO trước và sau cuộc khủng
hoả
ng tài chính 2007-2008. Các giao dịch CDO không được công bố chính thức, nên
việc thống kê qui mô thị trường gặp phải một số khó khăn. Nhưng theo các báo cáo
nghiên cứu của các tổ chức tín dụng uy tín cho thấy con số các giao dịch này rất
khổng lồ. Theo Thomson Reuters ước tính khối lượng mua bán CDO năm 2000 là
68.6 tỷ $ và đạt đỉnh 534.2 tỷ $ vào năm 2006. Thậm chí vào năm 2007, khi thị
trường nhà đất bắt đầu sụp đổ, Wall Street vẫn giao dịch 486.8 tỷ $ các CDO mới.
Trong
đó giao dịch CDO tổng hợp chiếm 10%, còn đa số vẫn là giao dịch CDO tiền
mặt. Biều đồ 1.1 sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về khối lượng CDO được phát hành
toàn cầu từ năm 2000-2009. 18
Có hai yếu tố chính khiến cho các gói chứng khoán trở nên hấp dẫn với nhà
đầu tư và các ngân hàng đầu tư là giảm nhẹ vốn quy định và tái phân bổ rủi ro.
Chứng khoán hóa cho phép các ngân hàng làm sạch bảng cân đối kế toán, bằng cách
bó các khoản nợ thành các gói và bán chúng cho các nhà đầu tư hoặc đưa chúng vào
các nghiệp vụ ngoại bảng. Bằng cách này, những người khởi phát CDO có thể giảm
mức chi phí vốn được áp đặt bởi Hiệ
p định Basel và giảm định mức vốn dự trữ bắt
buộc, nhờ vậy họ có thể dùng tiền mặt để thực hiện các khoản cho vay mới.
Yếu tố thứ hai kể đến là tổng hợp và tái phân bổ rủi ro. Bằng cách tập hợp
các tài sản tương quan không hoàn toàn lại với nhau, sự đa dạng hóa sẽ giúp giảm
các rủi ro đặc thù riêng. Hơn nữa, bó các dòng tiền làm cho việc tạo ra các chứng
tháng 8/2007, tính thanh khoản của thị trường thứ cấp gần như tan biến. Hệ quả, vào
khoàn ngày 9/8/2007, vấn đề dưới chuẩn bùng nổ thành cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu. Sự sụp đổ của thị trường dưới chuẩn kéo theo sự suy giảm trầm trọ
ng của
thị trường CDO. Sự suy giảm này thể hiện rõ rệt trong biều đồ 1.3:
20 Năm 2008, thị trường CDO đã sụt giảm 60% so với trước, sự suy giảm tiếp
tục vào năm 2009. Tuy nhiên đến năm 2010, thị trường CDO bắt đầu phục hồi. Số
lượng phát hành CDO vào quí 4-2010 là 1.6 tỷ $, giảm 20.9% so với quí 3-2010,
nhưng tăng 41.5% so với quí 4-2009. Cả năm 2010, số lượng CDO là 8 tỷ $, xấp xỉ
hai lần so với năm 2009 (4.3%). Đáng chú ý, việc phát hành nhìn chung đang hướng
về thị trường châu Âu, vớ
i đồng euro làm mệnh giá, kế đến là đô la Mỹ. Tuy nhiên,
những con số trên chưa bao gồm 50 tỷ $ các chứng khoán hóa từ các khoản nợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được phân phối vào châu Âu, và các CDO phát hành vì
mục đích repo. Có thể nói tuy mức giao dịch hiện tại của thị trường CDO không đạt
mức cao như những năm trước, nhưng đây là bước đầu tiên trong quá trình phục hồi.
Trong tương lại gần, CDO sẽ tiế
p tục có một số thay đổi quan trọng để phù hợp
hơn với nhu cầu và thị trường như sau: tài sản đảm bảo đa dạng hóa hơn, thông
tin về tài sản đảm bảo chi tiết hơn và CDO trở nên đơn giản hơn.
Đầu tiên, trong ngắn hạn, CDO mới có khả năng chủ yếu sẽ sẽ được đảm bảo
bới các tài sản đảm bảo đa dạ
ng hóa hơn để tránh các cú sốc mà các danh mục có
sự tương quan cao dễ gặp phải. Ví dụ, các CDO được đảm bảo bởi các tài sản rủi ro
thấp như nợ công, nợ tài chính dự án hoặc các khoản nợ doanh nghiệp đầu tư.