Trang 1
Báo cáo tốt nghiệp “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng tại Ngân hàng TMCP á Châu Hà Nội”.
Trang 2 Mục lục
Báo cáo tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I 7
I. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 7
1. Nghiệp vụ nợ 9
1.1. Tiền gửi 9
1.2. Vay các ngân hàng khác 10
1.3. Vốn của ngân hàng 10
2. Nghiệp vụ có 11
3. Nghiệp vụ trung gian (thanh toán) 12
3.1. Thanh toán bằng séc 12
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 28
3.1. Các yếu tố môi trường 28
3.2. Các yếu tố thuộc về khách hàng 29
3.3. Các yếu tố thuộc về ngân hàng 31
CHƯƠNG II 34
1. Đôi nét về Ngân hàng TMCP Á Châu & Chi nhánh Hà Nội 34
1.1 Đôi nét về Ngân hàng TMCP á Châu (ACB). 34
1.2. Đôi nét về Ngân hàng TMCP á Châu - Chi nhánh Hà Nội. 35
2. Tình hình kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 36
2.1. Tình hình huy động vốn 37
Bảng 2. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. 39
Đơn vị:triệu đồng 40
Đơn vị: triệu đồng 42
2.2. Tình hình sử dụng vốn 44
Bảng 5. Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 45
II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
Á CHÂU HÀ NỘI 50
Bảng 6. Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 50
T
cv
50
T
hđ
50
Bảng 7. Hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 51
Biểu 8-a: Tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 53
Bảng 9. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 53
2. Nhận xét về chất lượng tín dụng tại ngân hàng á Châu Hà Nội 53
2.1. Những mặt đạt được 53
Thứ tư: Thẩm định tín dụng 54
Hiện nay, các doanh nghiệp ở nước ta tuy có tốc độ phát triển
tương đối khá nhưng gặp khó khăn về nhiều mặt: thiết bị và công nghệ
lạc hậu, trình độ tổ chức và quản lý yếu kém, năng suất lao động thấp,
chất lượng sản phẩm kém, giá thành sản phẩm cao, thị trường không ổn
định, bị hàng hoá nhập khẩu lậu cạnh tranh gay gắt
Khó khăn lớn nhất hiện nay của hầu hết các doanh nghiệp là vốn
để mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ Thực trạng nhu cầu
vốn đầu tư của các doanh nghiệp tăng mạnh trong những năm gần đây
nhưng các doanh nghiệp trong nước tích luỹ nội bộ thấp, vốn tự có ít
nên hầu như đều trong tình trạng thiếu vốn, làm giảm khả năng cạnh
tranh. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chưa đủ để đáp ứng nhu cầu
vốn trong nước, mặt khác, trong những năm từ 1996 đến nay, đầu tư
nước ngoài đã bắt đầu chững lại. Nắm bắt được nhu cầu của thị trường,
hệ thống ngân hàng đã tăng cường hoạt động của mình để góp phần
cung cấp vốn cho nền kinh tế nhằm đem lại vốn cho các doanh nghiệp,
đồng thời mang lại lợi nhuận cho mình.
Trang 5
Hoà nhập chung với sự phát triển kinh tế đất nước, hoạt động của
ngành ngân hàng đã có những bước chuyển biến tích cực. Hệ thống
ngân hàng một cấp đã được chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp,
có sự phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh tín dụng, tiền tệ, cung ứng và điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định
giá trị đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tín
dụng, tiền tệ, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ của Ngân hàng thương
mại.
Trong vài năm gần đây, các Ngân hàng thương mại đã cung cấp tín
dụng, góp phần đáng kể vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước.
Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng trong
nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa nhiều rủi ro nhất, ngay
Trang 7
CHƯƠNG I
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan
trọng nhất trong nền kinh tế. Tổng số tài sản nợ của các NHTM bao giờ cũng lớn
hơn tổng số tài sản nợ của các ngân hàng khác và tổ chức tài chính phi ngân hàng.
NHTM hoạt động theo định chế tổ chức tài chính mang tính tổng hợp hơn các tổ
các Pháp lệnh ngân hàng là tách bạch hai chức năng: Chức năng quản lý nhà nước
và chức năng kinh doanh trong ngành ngân hàng. NHNN là ngân hàng trung ương,
có chức năng quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng; còn chức năng kinh
doanh tiền tệ - tín dụng thuộc về các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.
Từ đó:
- Tạo lập một hệ thống NHTM và Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ -
tín dụng và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ của pháp luật Nhà nước.
- Đa dạng hoá các loại hình: Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển,
công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng.
- Đa dạng hoá về sở hữu: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên
doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
- Tăng cường tính độc lập tự chủ trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng.
- Từng bước tạo lập môi trường, điều kiện nhằm bảo vệ người gửi tiền, người cho
vay, người vay tiền để sản xuất kinh doanh , từ đó làm cho hoạt động của hệ
thống ngân hàng được an toàn, tránh rủi ro.
Với định hướng trên, trong những năm qua, hệ thống ngân hàng cấp II - cấp
kinh doanh: ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, đã được thành lập
và phát triển nhanh chóng. Hệ thống ngân hàng cấp kinh doanh đã, đang và sẽ tạo
lập ra thị trường tiền tệ ngày càng lành mạnh, chấp nhận cạnh tranh trong khuôn khổ
pháp luật, với nhiều loại hình, nhiều loại sở hữu trong nước và nước ngoài. Theo
báo cáo của NHNN, hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay gồm:
Trang 9
- 4 NHTM quốc doanh: Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Hệ
thống các NHTM quốc doanh có hàng trăm chi nhánh, hàng ngàn phòng giao dịch
đặt trụ sở trên phạm vi toàn quốc.
- 53 NHTM cổ phần gồm: 38 ngân hàng cổ phần đô thị, 15 ngân hàng cổ phần nông
thôn.
- 2 công ty tài chính cổ phần.
trong quá trình cạnh tranh ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước thời
hạn nhưng không được hưởng lãi suất hoặc hưởng lãi suất thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì vậy các
ngân hàng thường chú trọng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này.
Có các loại tiền gửi: ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (1 - 5 năm), dài hạn (trên 5
năm). Mỗi kỳ hạn có một lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn gửi càng dài
thì lãi suất càng cao.
- Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi, để dành của cá nhân, tổ chức được
gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có hai loại tiền gửi là
tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
- Các hình thức huy động khác
Ngoài huy động dưới hình thức tiền gửi, NHTM còn phát hành chứng chỉ
tiền gửi và trái phiếu. Chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng),
trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn.
1.2. Vay các ngân hàng khác
Ngoài tiền gửi và huy động tiền qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, NHTM
còn vay vốn qua các NHTM khác hoặc NHTW.
1.3. Vốn của ngân hàng
Vốn của ngân hàng bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, lợi nhuận giữ lại và
các loại quỹ khác.
- Vốn điều lệ
Trang 11
Vốn điều lệ là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu tự nguyện đóng
góp. Nếu là ngân hàng quốc doanh thì chủ sở hữu góp vốn là nhà nước, nếu là ngân
hàng cổ phần thì là các cổ đông. Vốn điều lệ của ngân hàng được ghi trong giấy
phép hoạt động và điều lệ ngân hàng (mức vốn này lớn hơn hoặc bằng vốn pháp
định - mức tối thiểu do nhà nước quy định cho mỗi loại hình ngân hàng).
- Các quỹ dự trữ:
- 80% tổng tài sản có của ngân hàng.
2.3. Đầu tư, bao gồm: mua trái phiếu, tín phiếu của Chính Phủ hoặc của các
doanh nghiệp khác. Đầu tư trực tiếp bằng cách mua cổ phiếu của các công ty
2.4 Tài sản có khác, bao gồm: tài sản cố định của ngân hàng, các trang thiết bị
khác.
Tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất đồng thời cũng rủi ro nhất của ngân
hàng. Trong phần sau Tôi xin trình bày rõ hơn về nghiệp vụ này.
3. Nghiệp vụ trung gian (thanh toán)
Có hai hình thức thanh toán: dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt (chi trả
qua tài khoản ở ngân hàng, nghĩa là ngân hàng căn cứ vào các chứng từ để chuyển
tiền từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác).
Trong đó bao gồm các hình thức thanh toán sau:
3.1. Thanh toán bằng séc
Séc nghĩa là lệnh chi tiền. Có nhiều cách phân loại séc, thông thường, người
ta phân chia theo tiêu thức người phát hành, có hai loại:
- Séc của ngân hàng đối với ngân hàng.
- Séc của khách hàng ra lệnh cho ngân hàng chi tiền. Loại này được chia làm
2 loại:
+ Séc tiền mặt: là chứng từ để chủ tài khoản nhận tiền mặt từ ngân hàng về hoặc ra
lệnh cho ngân hàng chi tiền mặt cho người thứ ba.
+ Séc chuyển khoản: là chứng từ sử dụng để chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác.
Loại này bao gồm:
Trang 13
++ Séc chuyển khoản thông thường: là loại séc mà chủ tài khoản được quyền
viết vào tờ séc giao trực tiếp cho người thụ hưởng mà không đòi hỏi một điều kiện
ràng buộc nào.
++ Séc bảo chi: là loại séc chuyển khoản được ngân hàng bảo chi. Thường có
hai loại là bảo chi từng tờ séc và bảo chi cả quyển séc.
3.2. Uỷ nhiệm chi
là hoạt động mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn tiến hành cung cấp các dịch vụ khác để tăng lợi
nhuận cho ngân hàng như: dịch vụ bảo quản các giấy tờ có giá, dịch vụ uỷ thác đầu
tư, dịch vụ tư vấn, mối giới cho khách hàng
II. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. Nhìn chung, trong các
khoản mục thuộc tài sản có, nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất (có thể lên
tới 70% - 80% tài sản có), đây cũng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng.
Tín dụng là một khái niệm chỉ những quan hệ kinh tế giữa ngân hàng,
các tổ chức tài chính với các nhà doanh nghiệp và tư nhân. Nói cách khác, nó
thể hiện quan hệ vay mượn có hoàn trả giữa người vay và người cho vay cả vốn
và lãi sau một thời gian nhất định, kèm theo các điều kiện đảm bảo, theo thoả
thuận giữa hai bên.
2. Vai trò của tín dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp
Trong quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường, xuất hiện rất
nhiều các thành phần, các chủ thể kinh tế. Hàng loạt các công ty ra đời, các cá nhân
tự do buôn bán cũng xuất hiện rất nhiều. Trong số họ, không phải ai cũng có đủ vốn
để sản xuất, kinh doanh vì thế nhu cầu vay vốn của ngân hàng ngày càng tăng.
Tín dụng của các NHTM có một số vai trò chủ yếu như sau:
2.1. Tín dụng ngân hàng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của
tất cả các thành phần kinh tế, trên cơ sở đó cho các doanh nghiệp và cá nhân vay
vốn, góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trang 15
Để thực hiện nghiệp vụ tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của sự
phát triển kinh tế - xã hội, các ngân hàng cần phải tìm kiếm nguồn vốn. Vốn ngân
hàng bao gồm vốn huy động từ các thành phần kinh tế và vốn tự có của ngân hàng.
Việc tìm kiếm nguồn vốn là một thực tế khách quan. Trong quá trình hoạt
đảm hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay, nên nó có thể huy động được một
khối lượng vốn nhàn rỗi rất lớn.
Ưu thế nổi bật của hoạt động tín dụng ngân hàng là không làm tăng khối
lượng tiền mặt trong lưu thông. Với chức năng đi vay, tín dụng ngân hàng “hút”
lượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông. Với chức năng cho vay, tín dụng ngân hàng
“đẩy” tiền ra lưu thông khi tiền trong lưu thông thiếu.
Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ, làm cho
quan hệ tiền - hàng cân đối. Vì thế, tín dụng cũng là một công cụ để chống lạm phát,
ổn định tiền tệ, giá cả, góp phần tạo điều kiện ổn định, thuận lợi trong kinh doanh
đối với các doanh nghiệp, đồng thời còn có lợi cho người tiêu dùng.
2.4. Chính sách lãi suất tín dụng áp dụng thống nhất cho các thành phần
kinh tế đã tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,
thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và
Nhà nước, triệt để khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.5. Tín dụng ngân hàng là một công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ
cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu.
Thực hiện yêu cầu ấy, nếu chỉ dựa vào sự tích luỹ của chính bản thân doanh
nghiệp thì không đủ ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn. Nhưng nếu thông qua
sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng thì việc đó có thể thực hiện một cách nhanh chóng.
Ở nước ta hiện nay, tuy đã qua mười năm đổi mới, các doanh nghiệp nhà
nước cũng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vẫn còn trong
quá trình tổ chức và tổ chức lại. Nhiều doanh nghiệp rất cần vốn để đầu tư máy
móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu, năng lượng và lao động hoặc đổi mới công nghệ,
nâng cao kỹ thuật và từng bước hiện đại hoá. Nhiều doanh nghiệp mới hình thành
đang rất cần vốn hoạt động. NHTM đã cung cấp vốn phục vụ những nhu cầu đó của
các doanh nghiệp. Mặt khác, trong thời gian quan, NHTM còn phải tập trung một
lượng vốn lớn đầu tư cho các công trình trọng điểm của nhà nước.
Trang 17
+ Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu nhằm
bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân.
+ Tín dụng trung và dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng, mục đích
chính nhằm bổ sung vốn cố định cho các doanh nghiệp và cá nhân.
- Tín dụng không kỳ hạn: là loại tín dụng được ứng dụng đối với các khoản
vay không xác định rõ thời hạn trả nợ.
1.2. Căn cứ thành phần kinh tế:
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
1.3. Căn cứ mục đích sử dụng vốn:
- Tín dụng công nghiệp.
- Tín dụng thương mại.
- Tín dụng nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng.
- Tín dụng kinh doanh bất động sản.
- Tín dụng kinh doanh chứng khoán.
- Tín dụng đối với các đối tượng khác: các đối tượng chính sách, sinh viên,
người nghèo
1.4. Căn cứ tính chất bảo đảm:
- Tín dụng có bảo đảm: là những khoản cho vay mà ngân hàng nắm giữ các
tài sản thế chấp, cầm cố như: bất động sản, các tài sản có giá, sổ tiết kiệm, chứng
khoán,
- Tín dụng không có bảo đảm: là khoản mà ngân hàng cho vay không cần
nắm giữ tài sản thể chấp, cầm cố.
1.5. Căn cứ phương pháp hoàn trả:
- Trả gốc gọn một lần, lãi trả đều kỳ.
Trang 19
- Hoàn trả theo định kỳ hoặc trả góp
củng cố năng lực thanh toán, cũng như mở rộng qui mô tín dụng trong những trường
hợp cần thiết.
Thông thường, chứng từ mà các ngân hàng sử dụng để chiết khấu là các
thương phiếu. Đối với hối phiếu, ngân hàng chỉ chấp nhận khi người mua ký chấp
nhận trả tiền.
2.2. Tín dụng thấu chi (vượt chi, ứng chi)
Mỗi khách hàng đều có một tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Về nguyên tắc,
khách hàng chỉ được sử dụng số tiền đã gửi trên tài khoản. Do nhu cầu kinh doanh,
khách hàng thường có nhu cầu chi quá số tiền gửi trên tài khoản.
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một số tiền lớn hơn số tiền gửi
mà khách hàng hiện có.
Những khách hàng có nhu cầu đối với hình thức tín dụng thấu chi là những
doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu thường xuyên và thường xuyên có thu nhập bằng
tiền nộp vào tài khoản của ngân hàng, thường là các đơn vị thương mại mới thường
xuyên có nguồn tiền ra, vào.
Thấu chi là một hình thức tín dụng giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ
động và tiện lợi, tuy nhiên cũng gặp nhiều rủi ro, vì vậy chỉ áp dụng cho những
khách hàng có khả năng tài chính mạnh, có uy tín, là khách hàng quen của ngân
hàng.
2.3. Tín dụng thuê mua (leasing)
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thuê mua rất phát triển. Tín dụng thuê
mua là hình thức cho thuê bất động sản và động sản như: nhà cửa, máy móc thiết bị,
xe vận tải, xe chuyên dùng, thiết bị văn phòng Các chủ thuê có thể là: các ngân
hàng trực tiếp, các công ty con của ngân hàng hoặc các công ty chuyên doanh thuê
mua độc lập thực hiện nghiệp vụ. Ngân hàng cũng có thể liên kết với các nhà kinh
doanh bất động sản để đầu tư dưới hình thức tín dụng thuê mua.
Khách hàng thuê tiến hành trả dần giá trị tài sản theo hợp đồng đã thoả thuận
với ngân hàng. Khi giá trị tài sản đã trả xong, khách hàng được quyền sở hữu tài sản
dụng, bảo lãnh cung cấp hàng hoá Tín dụng bảo lãnh phát triển đã đáp ứng kịp
thời nhu cầu thanh toán, chi tiêu của các nhà sản xuất kinh doanh trong các hoạt
động kinh tế tiêu dùng và xã hội.
Trang 22
2.6. Tín dụng vãng lai
Tín dụng vãng lai là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa khách hàng và
ngân hàng với nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của hình
thức tín dụng này là ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản vừa dư nợ, vừa dư
có (tài khoản vãng lai). Toàn bộ thu nhập của người vay đều ghi vào bên có tài
khoản, toàn bộ chi tiêu ghi bên nợ tài khoản. Khi không còn số dư có, khách hàng
được sử dụng một khoản tín dụng như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với
một mức dư nợ tối đa nào đó. Ngân hàng khống chế số dư nợ mà không khống chế
số dư có. Khách hàng được sử dụng vốn vay rất linh hoạt dưới dạng tiền mặt,
chuyển khoản, tín phiếu
Điều kiện để được vay vốn đối với loại tài khoản vãng lai là người vay có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Ngoài ra trong một số trường hợp, người vay có
uy tín cao thì có thể vay tín chấp.
Thời hạn vay thường từ 3 - 6 hoặc 12 tháng. Trên lý thuyết, tín dụng vãng lai
được xem là tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ngân hàng cho vay
với thời hạn 2 - 3 năm nên tín dụng vãng lai trở thành hình thức tín dụng trung và
dài hạn.
2.7. Tín dụng cầm đồ
Tín dụng cầm đồ là loại tín dụng có thế chấp bằng động sản - tài sản cầm đồ,
tài sản này phải được ngân hàng cất giữ, trường hợp cá biệt có thể để ở kho chuyên
dùng hoặc giao cho người vay giữ. Tài sản cầm đồ được đánh giá không phải bằng
toàn bộ giá trị của nó mà được đánh giá thấp hơn để khi có rủi ro có thể bán được
ngay, nhằm thu hồi đủ nợ gốc và lãi.
Tín dụng cầm đồ cho vay với thời hạn mang tính chất thời vụ. Các động sản
dùng để cầm đồ rất đa dạng: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công
hàng càng cao và ngược lại chất lượng tín dụng thấp phản ánh trình độ tổ chức quản
lý của ngân hàng không hiệu quả. Chất lượng tín dụng phản ánh ở kết quả kinh
doanh tín dụng của ngân hàng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách
hàng khi sử dụng vốn vay và hiệu quả mà khách hàng đem lại cho nền kinh tế.
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Các ngân hàng thường đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng
như sau:
2.1. Các chỉ tiêu định tính
Trang 24
* Bảo đảm nguyên tắc cho vay: Các nguyên tắc cho vay bao gồm 3 nguyên tắc sau
đây
- Nguyên tắc 1: Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng hạn đã
cam kết.
Nguyên tắc này nhằm nâng cao trách nhiệm của người đi vay, đòi hỏi họ phải
cân nhắc, tính toán kĩ khi vay vốn cũng như quá trình sử dụng vốn vay. Họ phải tìm
mọi biện pháp tiết kiệm, để làm vốn vay hỗ trợ một cách tốt nhất cho sản xuất kinh
doanh, thu lợi nhuận cao. Về phía ngân hàng nguyên tắc này nhằm bảo toàn vốn cho
ngân hàng.
- Nguyên tắc 2: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết, có hiệu
quả kinh tế.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp sử dụng vốn vào những
hoạt động kinh doanh đúng mục đích và lành mạnh, chống thất thoát vốn, để đồng
vốn có thể được phát huy hiệu quả. Để thực hiện công tác này đòi hỏi ngân hàng
phải có công tác thẩm định thật chính xác, đầy đủ về phương án sử dụng vốn vay
trước khi quyết định cho vay và công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay
cuả doanh nghiệp sau khi đã được vay.
- Nguyên tắc 3: Vốn vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh đảm bảo nợ
vay hay vật tư tương đương làm đảm bảo.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế những khả năng rủi ro có thể xảy ra, bảo đảm
lượng của lao động
+ Cơ chế quản lý điều hành SX - KD.
+ Các đối tác của khách hàng: bạn hàng, đối thủ cạnh tranh
+ Khả năng phát triển, nguy cơ tiềm ẩn, các thuận lợi và khó khăn khác
- Đánh giá tình hình tài chính, tình hình công nợ của khách hàng, bao gồm:
+ Các cơ chế quản lý, điều hành tài chính.
+ Tập hợp, đánh giá các chỉ tiêu tài chính thông qua các báo cáo tài chính 03
năm gần nhất; Xác định trên cơ sở các số liệu trên về khả năng tài chính