Luận văn: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG KHOÁN” - Pdf 15

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 1

Luận văn
Đề tài “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
GIÁ CHỨNG KHOÁN”
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 2
Lời Mở Đầu
1) Đặt vấn đề:
Trong một vài năm trở lại đây Việt Nam đã có được nhiều thuận lợi trên con đường hội
nhập quốc tế, đặc biệt từ khi gia nhập WTO nền kinh tế càng có bước phát triển mạnh mẽ,
biểu hiện điển hình là sự sôi nổi của thị trường chứng khoán trong năm 2006 và 2007 đã
đưa thị trường chứng khoán Việt Nam vượt lên xếp thứ 24 thế giới về tốc độ tăng trưởng.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi ta cũng gặp phải những khó khăn không ít. từ giữa năm
2007, lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của nước ta nói chung cũng như góp
phần tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên Thị Trường Chứng Khoán nói riêng. Do sự phát
triển quá nhanh và quá nóng đối với một thị trường còn quá non trẻ và sự thiếu kinh
nghiệm, thiếu hiểu biết của những nhà đầu tư ngắn hạn đã tạo ra những rủi ro đáng tiếc,
cùng với sự ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, thị trường bất động sản, vàng,… đã
làm cho thị trường chứng khoán nước ta có nhiều biến động đáng kể, biểu hiện rõ ràng nhất
là sự biến động về giá, bởi giá cả chính là yếu tố quyết định trong chứng khoán.
Giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động trên trên thị trường chứng khoán cũng
diễn ra theo chu kỳ tăng-giảm-tăng. Vào thời kỳ giá gia tăng, TTCK gọi nó là “ bull
market”. Bull là con bò tót. Người ta cũng dùng tiếng lóng ‘’bull” để chỉ người lạc quan
thường đẩy cho giă cả tăng. Thời kỳ giá giảm sút được gọi là “bear market”. “Bear” là con
gấu. Người ta gọi “bear” nhìn tình hình bi quan và làm cho giá giảm xuống. Giá cả ở TTCK

1.1.2 Bản chất:
Thị trường chứng khoán phản ánh các quan hệ trao đổi, mua bán quyền sở hữu tư liệu sản
xuất và vốn bằng tiền, tức là mua bán quyền sở hữu vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn
được lưu thông như một loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Thị trường chứng khoán
là hình thái phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa.
1.2 Đặc điểm và vai trò của Thị trường chứng khoán
1.2.1 Đặc điểm:
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, được chuyên môn hóa
về mua bán các chứng khoán trung và dại hạn. Thị trường chứng khoán ra đời là một tất yếu
khách quan.
1.2.2 Vai trò :
Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích dân cư tiết kiệm và sử dụng tiền tiết
kiệm này vào đầu tư, từ đó xã hội hóa việc đầu tư.
Thị trường chứng khoán thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 4
Thị trường chứng khoán góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế, tạo
nên sự phát triển nhanh và đồng đều trong nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài.
1.3 Phân loại Thị trường chứng khoán:
1.3.1 Căn cứ vào phương tện pháp lý của hình thức thị trường tổ chức thị trường:
Thị trường chứng khoán chính thức ( The stock exchange ) hay còn gọi là thị trường
chứng khoán tập trung, là thị trường chứng khoán hoạt động theo các quy định pháp
luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng ký. TTCK chính thức có địa
điểm và thời gian ,ua bán rõ rệt, giá cả được định theo thể thức đấu giá công khai, có sự
kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán. TTCK được thực hiện bằng
các Sở giao dịgh chứng khoán.
TTCK phi chính thức ( Over the counter market – OTC ) hay còn gọi là TTCK phi tập
trung là TTCK mua bán chứng khoán ngoài Sở giao dịch, không có địa điểm tập trung

giá cả của chứng khoán phản ánh nguyên tắc cạnh tranh và kết quả của quan hệ cung cầu
chứng khoán. Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục không ngừng nghỉ.
Các nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán nhiều lần trên thị trường này.
1.3.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch:
Thị trường giao ngay (Spots market) còn gọi là thị trường thời điểm, tức là thị trường
thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán theo gía thỏa thuận của ngày giao dịch nhưng
việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp sau đó hai ngày.
Thị trường tương lai (Future market) là thị trường mua bán chứng khoán theo một hợp
đồng định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và
giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai.
1.3.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên thị trường chứng
khoán:
Theo căn cứ này, TTCK được chia làm 3 loại thị trường:
 Thị trường cổ phiếu
 Thị trường trái phiếu.
 Thị trường các công cụ và nguồn gốc chứng khoán.

Chương 2: Giới Thiệu Chung Về Giá Chứng Khoán
2.1 Khái niệm chứng khoán:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình
thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
 Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
 Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp
đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 6
2.2 Đặc điểm và vai trò của chứng khoán:
2.2.1 Đặc điểm:
Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 7
Chương 3: Phân Tích Những Yếu Tố Tác Động Đến Giá Chứng Khoán
Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất
lớn của mọi đối tượng trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường
chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và
đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói
đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật.
 Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi
tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển
của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng
khoán. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay
trên giá trị hiện hành.
 Phân tích kỹ thuật là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả
và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung
cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là
chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổ
phiếu trên thị trường.
 Phân tích cơ bản hoàn toàn dựa vào các yếu tố đầu vào và khả năng phân tích
mang tính chủ quan. Vì vậy, cùng một cổ phiếu có thể có nhiều kết quả nhận
định và phân tích khác nhau và phân tích cơ bản thường được coi là bỏ qua
yếu tố tâm lý đầu tư, còn phân tích phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào nghiên
cứu biến động giá thị trường của cổ phiếu, và tập trung nhấn mạnh vào hành
vi biến động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như các xu hướng của
hành vi giá và khối lượng đó.
3.1 Phân Tích Cơ Bản:
3.1.1 Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán:
3.1.1.1 Các ảnh hưởng của môi trường chính trị, xã hội và pháp luật:
 Môi trường chính trị cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán,
xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK. Yếu tố
chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị.

 Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển tốt và
có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút. Như vậy, nếu dự đoán được xu
hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển
chung của TTCK. Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh
hưởng của nó đến giá chứng khoán cũng rất quan trọng đến các nhà đầu tư.
- Lãi suất: Lãi suất Trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay
đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán,
khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm
xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng
lên.
 Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một
ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Thế nhưng câu chuyện
về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó.
 Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược
chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất
thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do
vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất
trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất
trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 9
 Không chỉ vậy, quan hệ quan hệ giữa lãi suất thì trường và lãi suất chứng
khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi
suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm,
điều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người
ta thích gửn tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
3.1.2 Phân tích ngành:
3.1.2.1 Lĩnh vực kinh doanh
Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hoá chất
công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính…Trong quá trình phân tích cần
xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. Doanh

vay). Một cách đơn giản ta có thể hình dung là giá trị của doanh nghiệp khi
vay nợ sẽ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của lá
chắn thuế từ nợ. Một điều kiện nữa của cấu trúc vốn tối ưu là còn phải xem
xét đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tức là thu nhập trước thuế và
lãi vay (EBIT) phải vượt qua điểm bàng quang để doanh nghiệp có thể tận
dụng được đòn cân nợ. Hơn nữa,khi đồng vốn của doanh nghiệp ngày càng
được xã hội hóa, áp lực của công chúng cổ đông đối với thành tích của doanh
nghiệp ngày càng tăng. Và đối với phần lớn cổ đông đại chúng thì thành tích
hoạt động của doanh nghiệp cuối cùng được đo lường bằng mức cổ tức được
chia cho mỗi cổ phần (EPS - Earning per share) và - hoặc là sự tăng giá của cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán. Nhưng vì sự tăng giá của cổ phiếu cũng
phần lớn dựa trên EPS nên suy cho cùng, điều mà cổ đông đại chúng mong
muốn đối với kết quả hoạt động hàng năm của doanh nghiệp là một tỷ lệ chia
cổ tức cao nhưng nếu DN có vốn chủ sở hữu lớn hơn nhiều so với vốn điều lệ
thì điều đó dễ dàng làm cho EPS của cổ phiếu đó tăng cao.
 Quá trình tăng vốn của DN: cần tìm hiểu vốn hiện tại cũng như nhu cầu tăng
vốn trong thời gian tới vì ở Việt Nam, có một thực tế là cả trước và sau khi
DN tăng vốn thì giá cổ phiếu thường biến động khá mạnh, biến động theo xu
hướng cùng chiều nhau.
3.1.2.3 Giao dịch của nhà ĐTNN và các tổ chức lớn:
 HĐQT bao gồm những ai, tỷ lệ vốn góp của họ; chiến lược đề ra có vì quyền
lợi của cổ đông, liệu có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông tổ chức và cổ đông
nhỏ lẻ.
 Số lượng cổ phiếu nắm giữ của thành viên HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm
soát và những người liên quan: nếu số lượng nắm giữ cổ phiếu càng lớn thì rõ
ràng là họ đều đặt niềm tin vào khả năng tăng trưởng của cổ phiếu và đó là tín
hiệu tốt (giá chứng khaons tăng ). Còn khi họ bán ra với số lượng lớn thì
thường đó là tín hiệu xấu đồng nghĩa với việc giá chứng khoán sẽ giảm.

3.1.2.4 Chỉ số tài chính:

và trị giá hàng bán tính theo giá mua lên tới 600.000 USD, thì hệ số tổng lợi nhuận của
công ty sẽ là: Hệ số tổng lợi nhuận = $1.000.000 – $600.000/ $1.000.000 = 40%
Khi chi phí lao động và chi phí nguyên liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận chắc
chắn sẽ giảm xuống, trừ khi công ty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của
mình dưới hình thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này có
quá cao không là so sánh hệ số tổng lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty
tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì
công ty cần phải thực hiện một biện pháp nào đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với
chi phí lao động và nguyên liệu. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 12
 Hệ số lợi nhuận hoạt động:
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết ban quản lý của một công ty đã thành công
đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của công ty.
Mức lãi hoạt động = EBIT/ Doanh thu
Tử số của hệ số này là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được
sau khi lấy doanh thu trừ trị giá hàng đã bán tính theo giá mua và các chi phí hoạt động
EBIT.
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận hoạt động: Nếu EBIT lên tới 200.000 USD trong khi
doanh thu là 1.000.000 USD, thì mức lãi hoạt động là:
Hệ số lợi nhuận hoạt động = 200.000 USD/ 1.000.000 = 20%.
Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một
công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi
nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi
nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng
nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ
số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty hoạt động
có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi
phí vốn.

Một công ty nên cho thấy chỉ số ROCE cao hơn mức lãi suất đi vay, nếu không
sự gia tăng vốn vay sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông.
Các chỉ số cấp hai: ROCE = Chỉ số lợi nhuận x Vòng quay tài sản

LN trước thuế và lãi = LN trước lãi và thuế x Doanh thu
(Tổng tài sản - nợ ngắn hạn) Doanh thu (Tổng tài sản - nợ ngắn hạn)
Vòng quay tài sản cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập.
Giữa chỉ số lợi nhuận ròng và vòng quay tài sản có mối quan hệ cân bằng, cụ thể
là:
• Một chỉ số lợi nhuận cao có thể đồng nghĩa với giá bán cao, dẫn đến khả năng
lớn là doanh số sẽ giảm và vì vậy vòng quay tài sản sẽ thấp hơn.
• Vòng quay tài sản cao có nghĩa công ty đang có doanh số cao, để làm được điều
này thì công ty có thể phải giảm giá để chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn.
Nhìn chung, các chỉ số lợi nhuận của công ty càng cao càng tốt, nhưng cũng như
các nhóm chỉ số khác, chưa đủ để đánh giá chính xác về một công ty khi xem xét
các chỉ số này một cách riêng biệt. Một điều quan trọng nữa là cần so sánh chỉ số
này qua các thời kỳ của công ty, so sánh với chỉ số trung bình của ngành và với
các đối thủ cạnh tranh.
 Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI
Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI được công ty Du Pont phát triển cho mục đích sử
dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều công ty lớn sử dụng như là một cách thức
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 14
tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng tài
sản.
ROI = Thu nhập ròng/ Doanh số bán x Doanh số bán/ Tổng tài sản
Hay :
ROI = Thu nhập ròng/ Tổng tài sản
Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty,
và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu
quả, thì thu nhập và ROI sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.

những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng, hệ số khả năng thanh toán nhanh được
thiết lập nhằm xác định khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ của công ty trong trường hợp
doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi.
Hệ số KNTT nhanh = (Tài sản lưu động - Hàng dự trữ) / Nợ ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trong ví dụ trước, tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD. Nhưng điều gì sẽ xảy ra
nếu 5 triệu USD trong phần tài sản đó là hàng trong kho.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = 20.000.000 - $5.000.000 / $10.000.000 = 1,5
Con số này có thể cho bạn biết rằng công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán
nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển các tài sản lưu động
khác thành tiền mặt. Mặt khác, công ty này có thể có các khoản phải thu khó đòi hoặc
hoạt động trong một ngành công nghiệp vô cùng nhạy cảm mà các chủ nợ đòi hỏi phải
được thanh toán nhanh. Do đó, công ty này có thể đòi hệ số thanh toán nhanh bằng 0,2
lần, và mức 1,5 lần có thể cho thấy rằng công ty đang cố gắng giảm hàng dự trữ hoặc
tăng giá trị của các tài sản dễ chuyển đổi khác của mình.
Việc sử dụng thông minh các hệ số đòi hỏi bạn phải vận dụng chúng trong mối liên
hệ với các thông tin khác.
 Chỉ số đòn cân nợ:
Chỉ số này liên quan đến cơ cấu vốn dài hạn của một công ty và được dùng để
xác định mức độ rủi ro liên quan đến việc nắm giữ vốn cổ phần trong một công ty.
Một công ty với đòn cân nợ cao thì có nhiều khả năng gặp phải sự đi xuống trong
chu trình kinh doanh bởi vì công ty đó phải tiếp tục trả các khoản nợ cho dù doanh số
đang giảm sút. Một công ty với tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể cho thấy tình hình tài
chính vững mạnh.

Đòn cân nợ = Tổng nợ dài hạn / (Tổng vốn cổ phần + tổng nợ dài hạn)

c) Nhóm chỉ số hiệu quả hoạt động
 Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công

Thu nhập của mỗi cổ phần cho thấy khả năng sinh lợi của một công ty. Thu nhập
trên mỗi cổ phần được xem như là chỉ số đơn lập quan trọng nhất trong việc xác định giá
trị cổ phiếu.
EPS =(Tổng thu nhập thuần - cổ tức cổ đông ưu đãi) / Số lượng cổ phiếu lưu
hành bình quân.
 Tỷ suất thu nhập trên thị giá cổ phần:
Tỷ suất này phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty
với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào, cụ thế hơn, tỷ suất này thể hiện kỳ vọng hiện
hành của nhà đầu tư vào thu nhập từ việc đầu tư vào cổ phần của một công ty.

Tỷ suất TN trên thị giá cổ phần = Cổ tức trên một cổ phần / Thị giá một cổ phần Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 17
 Chỉ số giá trên thu nhập (P/E): là một trong những chỉ số phân tích quan
trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ
phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu
nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:
PE = Thị giá mỗi cổ phần(PM) / thu nhập mỗi cổ phần(EPS)
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần,
hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ
phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố
trên báo chí. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng
cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất
vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ
tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu
XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là
hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ
phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho

số đang trên đà sụp giảm, một công ty có thể thua lỗ nếu công ty ấy sử dụng chi phí cố
định quá nhiều. Nếu phần lớn chi phí trong công ty chỉ là chi phí biến đổi thì nó sẽ ít khi
nào rơi vào tình trạng trên. Tất cả các doanh nghiệp đều sử dụng chi phí cố định và chi
phí biến đổi. Do vậy việc hiểu được cấu trúc chi phí cố định của doanh nghiệp thật sự là
điều cần thiết khi đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó. Một vài chỉ số thường
được sử dụng là :
+ Chỉ số biến lợi nhuận phân phối: Chỉ số này cho biết phần lợi nhuận tăng thêm
từ sự thay đổi của mỗi đô la trong doanh thu. Nếu chỉ số biên phân phối lợi nhuận của
công ty bằng 20%, sau đó nếu có sự sụp giảm $50.000 trong doanh thu thì sẽ có sự sụp
giảm $10.000 trong lợi nhuận. Biến phân phối= 1 - (chi phí biến đổi/ doanh thu)
+ Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh (OLE): Chỉ số đòn bẩy kinh doanh
được sử dụng để dự đoán bao nhiêu phần trăm thay đổi trong thu nhập và tỷ suất sinh lợi
trên tài sản đối với mỗi phần trăm thay đổi trong doanh thu.
Nếu doanh nghiệp có OLE lớn hơn 1 thì sau đó đòn bẩy kinh doanh vẫn được duy
trì. Nếu OLE bằng 1, sau đó tất cả các chi phí là biến đổi, vì vậy cứ 10% gia tăng trong
doanh thu, thì ROA của công ty cũng gia tăng 10%.

Chỉ số ảnh hưởng đòn bẩy kinh doanh ( OLE)= chỉ số Biên lợi nhuận phân phối/
phần trăm thay đổi trong thu nhập (ROA)

+ Mức độ ảnh hưởng đòn bẩy tài chính( FLE): Công ty sử dụng nợ để tài trợ cho
các hoạt động, do đó sẽ tạo nên ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và gia tăng tỷ suất sinh
lợi cho các cổ đông, thể hiện rủi ro kinh doanh tăng thêm khi doanh thu thay đổi.

FLE = thu nhập hoạt động/ thu nhập thuần.

Nếu một công ty có FLE bằng 1.33 thì, khi thu nhập hoạt động gia tăng 50% sẽ tạo nên
sự gia tăng 67% trong thu nhập ròng.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 19
+ Chỉ số hiệu ứng đòn bẩy tổng thể (TLE) bằng sự kết hợp giữa OLE và FLE ta

Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định = thu nhập trước các chi
phí tài chính cố định/ chi phí tài chính cố định

 Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay:
Dòng tiền hoạt động điều chỉnh được định nghĩa là dòng tiền hoạt động + chi phí
tài chính cố định + thuế phải trả
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 20
Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay = dòng tiền hoạt động điều chỉnh/
chi phí lãi vay

 Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định:

Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định = dòng tiền
hoạt động điều chỉnh / chi phí tài chính cổ định

 Chỉ số chi tiêu vốn :
Chỉ số này cho biết thông tin bao nhiêu tiền mặt được tạo ra từ hoạt động của
doanh nghiệp sẽ được để lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của chi tiêu vốn
để phục vụ cho các khoản nợ của công ty. Nếu chỉ số này bằng 2, có nghĩa là công ty
đang hoạt động bằng 2 lần so với những gì nó thật sự cần để tái đầu tư cho doanh nghiệp
tiếp tục hoạt động, phần thặng dư có thể được phân bổ để trả bớt nợ.

Chỉ số chi tiêu vốn = dòng tiền hoạt động/ chi tiêu vốn.

 Chỉ số dòng tiền với nợ:
Chỉ số này cung cấp thông tin cho biết bao nhiêu tiền mặt của công ty tạo ra từ
hoạt động có thể được sử dụng để trả tổng nợ.

Chỉ số dòng tiền so với nợ = dòng tiền từ hoạt động/ tổng nợ


 Các phương pháp kế toán khác nhau cũng có thể bóp méo sự so sánh giữa các
công ty với nhau, thậm chí là ngay trong 1 công ty.
 Thật khó để nhận định được một chỉ số là tốt hay xấu. Một chỉ số tiền mặt cao
trong quá khứ đối với công ty tăng trưởng có thể là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng có thể
là một dấu hiệu cho thấy công ty đã chuyển qua giai đoạn tăng trưởng và nên được định
giá thấp xuống.
 Vì vậy cần phải hết sức lưu ý rằng các chỉ số đứng một mình thì nó cũng
không có nhiều ý nghĩa. Các nhà phân tích khi sử dụng các chỉ số tài chính cần phải kết
hợp với nhiều yếu tố khác thí dụ như:
 Chỉ số trung bình ngành:
+ So sánh công ty với trung bình ngành là dạng so sánh phổ biến hay gặp.
+ So sánh trong bối cảnh chung của nền kinh tế: Đôi khi cần phải nhìn tổng
thể chu kỳ kinh tế, điều này sẽ giúp nàh phân tích hiểu và dự đoán được tình
hình công ty trong các điều kiện thay đổi khác nhau của nền kinh tế, ngay cả
trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái.
+ So sánh với kết quả hoạt động trong quá khứ của doanh nghiệp : đây cũng là
dạng so sánh thường gặp. So sánh dạng này tương tự như phân tích chuỗi thời
gian để nhìn ra khuynh hướng cho các chỉ số. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 22
3.1.2.7 Thương hiệu, sản phẩm và hệ thống phân phối - dịch vụ :
 Thương hiệu:
+ Trước đây, các sản phẩm thường gánh chịu trách nhiệm về số phận của một
công ty. Nếu hàng hóa bán ra bị sụt giảm, doanh nghiệp sẽ kết luận sản phẩm của họ
đang gặp thất bại. Ngày nay, các công ty không đổ lỗi cho sản phẩm mà là cho thương
hiệu. Các thương hiệu trở nên quý giá hơn những tài sản hữu hình của chúng và cũng có
nghĩa là chúng hoàn toàn có thể đánh mất giá trị này bất cứ lúc nào. Nếu hình ảnh
thương hiệu bị vấy bẩn qua một vụ tai tiếng truyền thông, một sự kiện gây tranh luận
hay ngay cả một lời đồn đại được rao truyền qua Internet thì một công ty cũng có thể

nói chung.
 Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật:
Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong
tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ.
(Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator).
Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng
giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà
đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế.
Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế
giữa cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.
Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng
“sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm
dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh nghiệm có được với
các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã xuất hiện trong quá khứ và áp
dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả thuyết căn bản trong Phân tích kỹ thuật
là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham
khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ
thể.
 Những giả định cơ sở:
“Biến động của thị trường” chỉ 3 yếu tố: biến động chính cung cấp thong tin cho
quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất
toán (open interest).
Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:
 Biến động thị trường phản ánh tất cả: Đây có thể coi là nền tảng của Phân
tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được chấp nhận thì trước
tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng
bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các
yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được phản ánh rõ trong giá
thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là tất
cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.


Trong đó : I
p
là chỉ số giá Passcher
P
t
là giá thời kì t
P
o
là giá thời kì gốc
Q
t
là khối lượng thời điểm tính hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán. Chỉ số
bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy khối lượng là khối lượng
thời kì tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu khối lượng (cơ cấu chứng
khoán niêm yết) thời điểm tính toán. Và các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P500 (Mỹ),
I
p
=

Q
t
P
t

/

∑Q
t
P

F
là chỉ số Fisher
I
P
là chỉ số giá Passcher
I
L
là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê chưa thấy nước nào áp dụng.
 Phương pháp bình quân đơn giản : Ngoài các phương pháp trên , phương pháp
tính giá bình quân đơn giản cũng thường được áp dụng. Công thức đơn giản là lấy
tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng tham gia tính toán :
I
F
= (I
P
I
L
)
1/2I
L
=


Q
o
P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status