Luận văn đề tài:" Đặc điểm và sự tiến hóa của hệ thần kinh qua các ngành, các lớp trong động vật không xương sống" - Pdf 15

MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 4
Phần II: NỘI DUNG
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1Giới thiệu một số nét về giới động vật 5
1.2Đặt vấn đề về đề tài nghiên cứu 5
Chương 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
A Động vật nguyên sinh (Protozoa) 7
B Động vật cận đa bào (Parzoa) 7
C Động vật đa bào (Metazoa) 7
1. Động vật chưa có đối xứng 7
2. Động vật đối xứng tỏa tròn (Radiata) 9
2.1 Ngành Ruột khoang (Coelenterata) 9
2.2 Ngành Sứa lược (Ctenophora) 12
3. Động vật đối xứng hai bên (Bilateria) 13
3.1 Ngành Giun dẹp (Ptathelminthes hoặc Platodes) 13
3.2 Ngành Giun vòi (Nemertini) 17
3.3 Ngành Giun tròn (Nematoda) 18
3.4 Ngành Trùng bánh xe (Rotatoria) 20
3.5 Ngành Giun đốt (Annelida) 21
3.6 Ngành Chân khớp (Athropoda) 23
3.7 Ngành Thân mềm (Mollusca) 25
3.8 Ngành Da gai (Echinodermata) 28
Phần III: KẾT LUẬN VÀ
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO

của các hệ cơ quan khác trong cơ thể.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thần kinh ở Động vật không xương sống.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3
Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn gốc, sự tiến hóa trong các ngành, các lớp trong
Động vật không xương sống.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu tài liệu
- Nguồn : Sách, báo, internet
4.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
- Mẫu vật: Giun đũa lợn, giun đất, gián nhà, ốc sên
- Ngân mẫu trong dung dịch formalin 4% đóng kín hộp
4.3. Phương pháp mổ và bảo quản mẫu vật
- Với động vật không xương sống ta mổ mặt lưng
- Với gián nhà cắt lấy và quan sát tấm lưng
Mổ nhẹ, nâng cao mũi kéo để tránh làm đứt các mạch máu khó quan sát.
Quan sát mẫu vật, xác định cấu truc hệ tuần hoàn dựa trên mẫu vật thực tế và hình ảnh
có sẵn.
5. Đóng góp của đề tài
5.1 Giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về hệ thần kinh của Động vật không xương
sống.
5.2 Hiểu được nguồn gốc tiến hóa, sự tiến hóa từ thấp đến cao của các ngành động vật
trong Động vật không xương sống.
5.3 Qua những hiểu biết về chiều hướng tiến hóa của hệ thần kinh liên quan mật thiết
tới đời sống sinh vật và biến đổi môi trường đề ra những biện pháp bảo vệ động vật một
cách hiệu quả.
Phần II: NỘI DUNG
4

thể thì hệ thần kinh cũng luôn phát triển, tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp để giúp cơ thể thích nghi tồn tại và phát triển.
Như vậy, hệ thần kinh có những bước phát triển và tiến hóa như thế nào trong giới
động vật nói chung và qua các ngành, các lớp trong Động vật không xương sống nói
riêng? Để hiểu rõ vấn đề này, Nhóm chúng em đã thực hiện đề tài “Đặc điểm và sự tiến
hóa của hệ Thần kinh qua các ngành, các lớp trong Động vật không xương sống ”.

Chương 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
A. Động vật nguyên sinh.
6
Khi giới động vật hình thành, chưa hình thành hệ thần kinh. Ở động vật nguyên
sinh chưa tồn tại hệ thần kinh mà đó chỉ là một điểm sáng đảm bảo sự hoạt động hướng
động của sinh vật, lại gần các kích thích có lợi cho cơ thể, tránh xa các tác nhân có hại
cho cơ thể.
Các động vật đơn bào như Amip, Trùng tiêm mao không có hệ thần kinh bởi vì cơ
thể của chúng có cấu tạo toàn bộ chỉ từ một tế bào. Amip có đặc điểm là không có các cơ
quan phụ để di chuyển, còn Trùng tiêm mao có hàng nghìn tiêm mao nhỏ phủ quanh
mình, cần phải có cơ chế nào đó để phối hợp hoạt động của các tiêm mao này. Khả năng
đó được thực hiện nhờ một mạng lưới các sợi mảnh nằm gần thể gốc và bao thích ty.
Có thể coi những sợi này là yếu tố thần kinh nguyên thủy. Các sợi thần kinh này
có thể cắt được và sau khi cắt hoạt động của các tiêm mao trở nên mất phối hợp và diễn
ra một cách vô trật tự.
B. Động vật cận đa bào (Parzoa)
Hải miên: Là động vật đa bào có tổ chức cơ thể thấp nhất, ở chúng chưa có hệ thần
kinh. Các tế bào có khả năng tiếp nhận và truyền kích thích. Các tế bào tuyến, tế bào cổ
áo tự hoạt động không có sự chỉ huy của hệ thần kinh. Do vậy, Hải miên có phương thức
dinh dưỡng nguyên thủy.
C. Động vật đa bào (Eumetazoa)
1 Động vật chưa có đối xứng
+ Động vật hình tấm (Placozoa):

Ruột khoang là
ngành đầu tiên của động vật đa bào hoàn thiện. Có lá phôi ngoài và lá phôi trong có vị trí
và xu hướng phân hóa ổn định. Các tế bào thần kinh chuyên hóa xuất hiên đầu tiên ở thủy
tức và ruột khoang khác.
Tế bào thần kinh có nhiều cực nối với nhau hình thành nên mạng lưới thần kinh,
gắn với các tế bào cảm giác và rễ cơ của tế bào biểu mô cơ nằm rải rác cả trong hai lớp tế
bào của cơ thể. Hệ thống này đã hình thành các cung phản xạ đơn giản nhất giúp con vật
thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường.
Hệ thần kinh ở ruột khoang mang tính chất nguyên thủy, thần kinh ở dạng phân
tán mạng lưới chưa phân hóa thành thần kinh trung ương và ngoại biên. Đó chỉ là các tế
bào riêng biệt chia nhánh liên kết với nhau. Nên xung động thần kinh ở phần nào đó của
cơ thể đều có thể phổ biến theo mọi hướng đến tất cả các phần khác.
1/ Lớp thủy tức (Hydrozoa)
Thủy tức thường thích ứng với lối sống cố định, có cơ thể dngj hình ống dài, đầu
bám vào giá thể, đối diện có tua cảm giác xếp quanh lỗ miệng.
Dạng Thủy tức có xoang vị thông với các tua và thông với chồi mới sinh.

9
Tế bào thần kinh của Thủy tức không phân nhánh thành nơron cảm giác, nơron
vận chuyển mà rất đơn giản, chỉ một số nhánh này của lưới thần kinh hướng đến các tế
bào thụ quan.
Tế bào thần kinh hình sao, có thể có rễ liên kết với nhau trong tầng keo tạo thành
hệ thần kinh mạng lưới này liên kết với rễ của tế bào cảm giác và với gốc của tế bào mô
bì cơ và tế bào gái tạo thành cung phản xạ, tuy còn đơn giản nhưng xuất hiên lần đầu ở
động vật đa bào.
2/ Lớp sứa (Scyphozoa)
Cơ thể sứa có cấu tạo điển hình của dạng thủy mẫu. Giai đoạn thủy mẫu chiếm ưu
thế trong vòng đời, giai đoạn thủy tức chỉ ở giai đoạn đầu phát sinh cá thể.
Phần lớn sứa sống trôi nổi ở biển, chỉ một số ít sống bám.
10

tạo thành hệ thần kinh giống cái thang
12
Hệ thần kinh của giun dẹp tập trung thành não ở phía trước với nhiều đôi dây thần
kinh chạy dọc cơ thể, thường có hai dây bên phát triển hơn.
Hệ thần kinh đã có đôi hạch sơ khai nằm ở phía trước (hạch não), có các dây thần
kinh chạy về phía sau. Cơ quan cảm giác còn đơn giản, một số có điểm mắt và một số thụ
quan khác.
Hệ thần kinh dạng chuỗi hạch tiến hóa hơn so với hệ thần kinh dạng lưới do: nhờ
có hạch thần kinh nên số lượng tế bào thần kinh ở động vât đã tăng, do tế bào thần kinh
trong hạch năm gân nhau hình thành mối lien hệ với nhau nên khả năng phối hợp tăng
cường, do mỗi hạch điều kiển một vùng xác định trên cơ thể nên động vật phản ưng
chính xác hơn, tiết kiêm năng lượng hơn so với hệ thần kinh dạng lưới.
1/ Lớp sán lông (Turrbellaria)
Ở sán lông mức độ tập trung của tế bào thần kinh khác nhau ở các nhóm sán lông,
nhưng nhìn chung đã xuất hiện hạch não va dây thần kinh, tuy hình ảnh của kiểu thần
kinh dạng mạng lưới và đối xứng tỏa tròn còn rõ ở nhiều nhóm. Hệ thần kinh chuyển dần
sang đối xứng hai bên trên nền đối xứng tỏa tròn. Sán lông sống tự do co giác quan phat
triển. Phần trước hệ than kinh có 2 thùy cảm giác (lobisensoriel), các dây thần kinh xuất
phát tự thùy cảm giác chủ yếu đến hai mấu cảm giác của đầu và mắt. Mắt có 1 hay nhiều
đôi, cấu tạo theo kiểu mắt ngược vì que cảm quang nàm trong cốc sắc tố, ánh sang xuyên
13
qua than tế bào cảm quang rồi đến phần cảm quang của tế bào. Ngoài ra, sán lông còn có
bình nang và các cơ quan cảm giác hóa học.
Các đại diện của một số bộ: convolute đại diện của bộ Không ruột (Acoela),
microstomum đạị diên của bộ Miệng lớn (Macrostomida), Gnathostomula đại diện của bộ
Miệng hàm (gnathostomulida), Planaria đại diện của bộ Ruột nhiều nhánh (polycladida)

Hệ thần kinh của sán lông
2/ Lớp sán song chủ (Digenea) hoặc Sán lá (Trematoda)
Đặc điểm chung là sán dẹp hình lá, có 2 giác bám là giác miệng và giác bụng. Có

Hệ thần kinh của Giun tròn có cấu tạo đối xứng tỏa tròn bậc tám hoặc biến dạng
của nó. Hệ thần kinh là dạng dây thần kinh, gồm một vòng thần kinh hầu có nhiều hạch.
- Hệ thần kinh: có vòng thần kinh bao quanh phần trước thực quản (các hạch thần
kinh,có dây lưng và dây bụng).
+ Có vòng não ( thực chất là vòng nối các hạch thần kinh)
bao quanh phần trước thực quản từ đấy có dây thần kinh hướng về phía trước và phía
sau.
+ Thường có 6 dây ngắn hướng về phía trước và 6 dây dài hướng về phía sau, trong
đó có 2 dây lớn hơn nằm trong gờ lưng và gờ bụng của lớp mô bì.
+ Phần cuối dây thần kinh bụng phình ra hạch nằm trước hậu môn và phát nhánh tới
cơ quan giao phối của con đực.
+ Giữa dây lưng và dây bụng có các cầu nối bán nguyệt.
+ Điều đáng chú ý dây thần kinh không phát nhánh tới tế bào cớ mà trái lại ,phần
chất nguyên sinh của tế bào cơ vuốt nhỏ và cài vào dây thần kinh lưng và dây thần
kinh bụng đặc điểm bất thường này đặc trưng cho tất cả giun tròn và cũng gặp ở một
vài giun dẹp và da gai.
Cơ thể đối xứng hai bên nhưng vẫn còn dấu vết đối xứng tỏa tròn của tổ tiên,
thể hiện trên cấu trúc của hệ thần kinh, một vài biểu hiện khác của đối xứng tỏa tròn
18
như cơ thể có thiết diện ngang tròn,bao cơ dọc xếp thành 4 giải, sự sắp xếp của các hệ
cơ quan
- Giác quan:
Giác quan của giun tròn rất đa dạng , nhất là nhóm giun tròn sống tự do. Cơ quan
giác quan hóa học là các amphid ở phần đầu và phasmid ở phần đuôi. Chúng là các hốc
có cấu trúc rất đa dạng lát bằng tế bào có lông cảm giác.
Cơ quan cảm giác cơ học là các nhú và các lông, thường tập trung ở phần đầu và
quanh lỗ sinh dục đực. Một số ít giun tròn ở nước có đám sắc tố đen nằm ở hai bên phần
trước thực quản có thể là cơ quan cảm quang. Các giác quan này giúp giun tròn nhận
biết đồng loại và vật chủ, nhất là ở giun tròn ký sinh thực vật
+ Bọn kí sinh trong:Thường tiêu giảm

+ Tập trung thần kinh theo chiều ngang (thu ngắn khoảng cách giữa các hạch) tạo
thành chuỗi hạch thần kinh. Trong một số trường hợp có sự tập trung các đốt nên hạch
thần kinh dần chuyển tập trung theo chiều dọc.
+ Hướng thứ 2 là chuyển từ biểu mô vào trong thể xoang.
Giun nhiều tơ có các tế bào thần kinh lớn, sắp xếp thành giải liên tục. Đặc biệt phát triển
ở nhóm Giun nhiều tơ sống định cư giúp cho con vật thu nhanh cơ thể vào vỏ. Tuy nhiên
“thể cuống” là trung khu thần kinh điều khiển phần trước não lại kém phát triển hơn
nhóm Giun nhiều tơ di động.
Ở đỉa (Hirudinea), hệ thần kinh tập trung của các hạch dưới hầu (7 hạch) tương
ứng với sự tập trung của các đốt.
22

Hệ thần kinh của Giun nhiều tơ
3.6 Ngành Chân khớp (Athropoda)
Chân khớp là ngành có vị trí quan trọng trong giới động vật. Không nghi ngờ gì
nữa, các động vật tạo nên từ ngành này là ngững động vật thành công nhất về mặt sinh
học trong tất cả các động vật, chúng đông đảo hơn mọi ngành khác, chúng sống trong
những môi trường đa dạng hơn và ăn nhiều loại thức ăn hơn các thành viên của bất kỳ
các ngành nào khác.
23
Hệ thần kinh vẫn giữ sơ đồ cấu tạo của Giun đốt, song đã có thay đổi đáng kể,
nhất là nhóm động vật chân khớp cao như côn trùng. Hệ thần kinh của Chân khớp gồm
có não và hai dây thần kinh chạy dọc bụng. Não có cấu tạo phức tạp gồm não trước, não
giữa và não sau.
Não trước (protocerebrum) gồm một thể trung tâm, một cầu não trước, một hay
hai thể nấm. Thể nấm là trung khu thần kinh điều khiển các hoạt động bản năng phức tạp.
Não trước còn có liên hệ với trung khu thị giác, điều khiển các hoạt động của mắt
kép.
Não giữa (meso – hay deuterocerebrum) gồm các hạc râu, từ đó có các dây thần
kinh điều khiển đôi râu thứ nhất, là trung khu khứu giác và có cầu nối trên hầu. Hai dây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status