Luận văn
Thực trạng và các biện pháp nâng cao
kim ngạch xuất khẩu của Tập Đoàn Dệt
May Việt Nam – VINATEX MỤC LỤC
I- Phần mở đầu
II-Nội dung
Chương 1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam
1. Khái quát và đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam
Khái quát chung về ngành dệt may Việt Nam
Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam
Chưa chủ động được nguồn nguyên liệu
Gia công là chính
Công nghệ còn lạc hậu
Các nhân tố ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu hang dệt
may Việt Nam
Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên ngoài
2. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội Việt Nam
Chương 2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Tập Đoàn Dệt May Việt
Nam
1. Khái quát về Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
I- PHẦN MỞ ĐẦU
Cũng như quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới , trong nền kinh
tế Việt Nam ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, ngành dệt may đóng
một vai trò quan trọng, vừa cung cấp hàng hoá trong nước, vừa tạo điều kiện mở
rộng thương mại quốc tế, thu hút nhiều lao động, tạo ra ưu thế cạnh tranh cho
các sản phẩm xuất khẩu và cũng là ngành nghề có lợi tức tương đối cao, đặc biệt
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Nhìn lại lịch sử phát triển của mình, ngành dệt may Việt Nam đã trải qua
khá nhiều thăng trầm. Song đến những năm gần đây, cùng sự phát triển của
ngành dệt may Thế Giới và khu vực, ngành dệt may Việt Nam thực sự bước sang
thời kì phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng và kim ngạch
xuất khẩu. Năm 2006 tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam
đạt con số 5,3 tỷ USD, trong đó thị trường Mỹ 3 tỷ USD, các nước EU hơn 2 tỷ
USD, ngành công nghiệp dệt may đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hướng ra
xuất khẩu và ngày càng khẳng định vai trò “không thể thiếu” trong đời sống kinh
tế - xã hội. Thành công đó có được là do ngành dệt may Việt Nam đã biết tận
dụng cơ hội gồm cả nhân tố khách quan và chủ quan đem lại, cùng với sự hỗ trợ
của Nhà nước trong vấn đề xúc tiến thương mại, sự giúp đỡ có hiệu quả của Bộ
Công Nghiệp và nỗ lực, cố gắng vươn lên của các doanh nghiệp dệt may trong
toàn ngành thời gian qua.
Bên cạnh vai trò về tính kinh tế trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay,
cơ hội cũng có nhiều. Tập Đoàn Dệt May Việt Nam được xem là một tập đoàn
kinh tế lớn của Nhà nước, với các chức năng bao quát từ hoạt động sản xuất,
cung ứng, tiêu thụ đến kinh doanh xuất nhập khẩu các loại sản phẩm thuộc lĩnh
vực dệt may. Trong bản đề án này, em xin đưa ra một số vấn đề liên quan đến đặc điểm, thực trạng và các biện pháp nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Tập
Đoàn Dệt May Việt Nam – VINATEX - cơ quan đàu tàu của ngành dệt may
nước ta.
Lý do em chọn đề tài này là do có một phần nguyên nhân cá nhân. May mắn
được sinh ra ở một quê hương làng nghề thuộc tỉnh Nam Định. Mặc dù không
được trực tiếp trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải nhưng từ nhỏ đã thường xuyên được
tiếp xúc với các chất liệu len, vải, thổ cẩm đã sớm giúp em hình thành một mối
quan tâm sâu sắc về đề tài này. Cộng thêm niềm đam mê và cảm hứng đối với
lĩnh vực thời trang trong nước và quốc tế, em đã quyết định làm bản đề án môn
học này với hi vọng sẽ áp dụng được những kiến thức kinh tế đã được học trên
trường lớp vào thực tế.
này, Uỷ ban Kế hoạch lại giao chỉ tiêu sản lượng cho các doanh nghiệp nhuộm,
ấn định về giá và thời gian giao hang. Dựa vào giá cả và ngày giao hang, các doanh nghiệp nhuộm lại tính lượng sợi cần thiết rồi trình Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nước về nhà sản xuất sợi có thể sản xuất loại sợi theo yêu cầu. Cuối cùng, Uỷ
ban Kế hoạch nhà nước giao chỉ thị cho các doanh nghiệp sợi sản xuất lượng sợi
cần thiết như kế hoạch được trình như trên.
Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt,
nhuộm và may rất mật thiết. Xét trên toàn ngành, mối quan hệ trực tiếp, lâu dài
giữa các doanh nghiệp và sự chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp đã được
duy trì khá tốt. Tuy nhiên, mối quan hệ khăng khít cùng việc chia sẻ thông tin
giữa các doanh nghiệp khác ngành đã có sự thay đổi lớn từ sau khi có Hiệp định
thương mại gia công uỷ thác (Hiệp định ngày 19/5) được ký kết giữa Chính phủ
Liên Xô và Chính phủ Việt Nam vào năm 1986. Hiệp định này đã làm giảm hẳn
nhu cầu sản phẩm đối với các doanh nghiệp nhuộm và dệt trong nước và mối
quan hệ mật thiết giữa các doanh nghiệp cũng bị rạn nứt. Từ mối quan hệ mật
thiết trước đây trở thành quan hệ đối thủ cạnh tranh của nhau. Người ta cho rằng
đó là nguyên nhân lịch sử chủ yếukhiến cho sự phân ngành trong ngành dệt -
may Việt Nam chưa phát triển.
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đặc biệt bước vào thập kỷ 90 của thế
kỷ XX, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Vào đầu những
năm 90, các nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản trở thành thị
trường nhập khẩu chính của Việt Nam , và từ năm 1993 khi Hiệp định thương
mại giữa Việt Nam và EU hình thành thì xuất khẩu dệt may tăng nhanh. Xem xét
sự thay đổi của tổng giá trị sản lượng hang dệt may từ năm 1995 đên năm 1999
cho thấy, trong 5 năm, tổng giá trị sản lượng tăng khoảng 57%, như vậy tỷ lệ
tăng trưởng thực tế bình quân khoảng 12%/năm.
1.2. Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam:
Thứ nhất: chưa chủ động được nguồn nguyên liệu:
Nguyên ph
ụ liệu1. Bông xơ1000 t
ấn302. Xơ s
ợi tổng hợp
1
000
t
ấn1003. S
ợi
nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện 3 công đoạn là cắt (cut), may (make), hoàn thiện
(trim) nên hình thức sản xuất lưu thông này được gọi là CMT. Theo hình thức
này toàn bộ nguyên phụ liệu đêù do khách hang nước ngoài cung cấp cho các
doanh nghiệp may Việt Nam.
Sơ đồ tự sản xuất, lưu thông hàng may mặc
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thường áp dụng 2 hình thức
xuất khẩu, ngoài CMT là hình thức “xuất khẩu hang hoá theo điều kiện FOB
(Free On Board)”. Hình thức này trái với CMT, theo hình thức này, chúng ta tự
mua nguyên phụ liệu rồi bán sản phẩm cho khách hàng nước ngoài.
Thứ ba: Công nghệ còn lạc hậu:
Trong nhiều lý do dẫn đến yếu kém về năng lực sản xuất của ngành may
Việt Nam, công nghệ là tác nhân chủ yếu. Khả năng tự động hoá trong quá trình
sản xuất trong các doanh nghiệp may chỉ đạt mức độ trung bình, công nghệ cắt
Lựu
chọn
nhà
cung
cấp
Mua
nguyên
phụ
liệu
Cắt,
may, tô
điểm
(CMT)
Xuất
nhập khẩu với giá cao này là nguyên làm giá cả của hàng hoá dệt may Việt Nam
cao hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nước khác. - Lao động: Có thể nói một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho ngành dệt may Việt Nam là chi phí lao động rẻ. Một đất nước với hơn
80 triệu dân là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho ngành này. Ngoài những
cán bộ có trình độ kỹ thuật thì một số lượng lớn lao động phổ thông vẫn được
ngành dệt may Việt Nam hiện nay sử dụng. Ngành dệt may Việt Nam đang tận
dụng đặc điểm này để hạ giá thành sản phẩm.
Giá cả sản phẩm: Dù xét về phía cung hay cầu thì giá cả bao giờ
cũng là yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định nhất tới sản lượng hàng dệt
may bán ở trong nước hay nước ngoài. Xem xét với hàng dệt may Việt Nam xuất
khẩu: giá cả hàng dệt may Việt Nam vẫn thuộc vào loại cao so với các nước
trong khu vực và trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ… Nguyên nhân chính
của tình trạng này là do hàng dệt may của Việt Nam chưa tự túc được nguồn
nguyên phụ liệu và sản xuất với các trang thiết bị còn yếu kém. Trong kinh
doanh xuất nhập khẩu, hai yếu tố hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm
vẫn là điều kiện tiền đề cho hàng dệt may của Việt Nam có chỗ đứng trên thế
giới.
Công nghệ: Trong kinh doanh hiện đại, công nghệ là cách thức để
cắt giảm chi phí doanh nghiệp. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực trong việc
đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, song nhìn chung, công nghệ thiết bị của
ngành dệt may vẫn còn lạc hậu. Thêm nữa công tác quản lý kỹ thuật của ngành
còn thấp nên đã ảnh hưởng tới năng lực sản xuất, chát lượng và giá thành sản
phẩm khi xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
1.3.2. Các nhân tố bên ngoài:
Năm 2006 vừa qua, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 151 của Tổ
chức Thương Mại thế giới WTO, sự kiện này đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ
hội trong kinh doanh hàng hoá nói chung và nhất là hàng hoá xuất khẩu dệt may,
khâu chất lượng, mẫu mã, thiết kế để đáp ứng tốt nhu cầu của những khách hàng
khó tính này.
2. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam:
Việt Nam đang là nước ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Đặc biệt với đường lối chính sách kinh tế mở, ưu tiên chú trọng tới
phát triển xuất khẩu của nhà nước ta đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi
cho sự phát triển của ngành dệt may. Ngành dệt may đã từng bước khẳng định
được vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong tiến trình hội
nhập kinh tế, nhất là về xuất khẩu.
Hiện nay, đối với Việt Nam, ngành dệt may có vị trí quan trọng trong quá
trình công nghiệp hoá đất nước. Hiện nay ngành này đang thu hút trên 3 triệu lao
động, trong đó 80% là nữ, lao động trong công nghiệp dệt may chiếm khoảng
15% lao động công nghiệp cả nước. Như vậy việc thu hút nhiều lao động trong
dệt may có ý nghĩa to lớn đối với bối cảnh nước ta hiện nay. Từ khi chuyển đổi
sang cơ chế thị trường thì lực lượng lao động thất nghiệp ở nước ta rất lớn, đời
sống nhân dân nhiều nơi còn rất khó khăn. Việc thu hút lao động cho ngành dệt
may đã góp phần nâng cao đời sống dân cư, góp phần tạo sự ổn định tình hình
kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng và lãnh thổ theo hướng
tích cực.
Trong 10 ngành công nghiệp xuất khẩu lớn nhất nước ta thì công nghiệp
dệt may đứng thứ hai sau dầu thô. Trong thập kỷ 90, giá trị xuất khẩu của ngành
tăng 27,3%/năm từ 178,7 riệu USD năm 1990 lên 1,892 triệ USD năm 2000, giá
trị xuất khẩu ngành dệt may chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong
cả nước. Công nghiệp dệt may phát triển kéo theo và thúc đẩy sự phát triển của
1. Khái quát về Tập Đoàn Dệt May Việt Nam:
Quá trình hình thành và phát triển:
Việt Nam là nước nông nghiệp trồng lúa nước, do vậy ngành dệt may Việt
Nam ra đời muộn hơn so với ngành dệt may của các nước phát triển trên thế giới
. Tuy vậy, từ lâu Việt Nam cũng đã xuất hiện những làng nghề, vùng nghề dệt
may khá phát triển: Vạn Phúc, Hà Đông, Nam Định… Những làng nghề này nổi
tiếng về những sản phẩm dệt, may của mình, và cho đến nay những sản phẩm
của họ vẫn rất được ưa chuộng, nhưng chỉ sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, manh mún,
tính tự cung, tự cấp là chính. Để xây dựng một ngành công nghiệp dệt may phát
triển thì cần một trình độ công nghiệp cao mà bản thân những làng nghề, vùng
nghề truyền thống này chỉ để lại một vốn kinh nghiệm về dệt may nhất định.
Trước khi Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam thành lập, để thực hiện chức
năng làm đầu mối quản lý nha nước theo ngành chuyên môn hoá thì cơ quan
được nhà nước giao nhiệm vụ đối với ngành dệt là Tổng Công Ty Dệt May Việt
Nam, đối với ngành may là Liên hiệp sản xuất nhập khẩu may.
Tổng Công Ty Dệt Việt Nam (TETIMEX) được thành lập theo Quyết định
số 149-Cnn/TCLD ngày 4/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp nhẹ (nay là
Bộ Công nghiệp). Liên hiệp sản xuất nhập khảu may (CONFECTIMEX) được
thành lập theo Quyết định số 518-Cnn/TCLD ngày 29/12/1989.
Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam có tên giao dịch là Việt Nam National
TEXTILE and CAMENT Coporaton (VINATEX ) được thành lập theo Quyết
định số 253/Ttg của Thủ tướng Chính phủ. VINATEX có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ theo pháp luật nước CHXHCN Việt Nam. Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam
được thành lập với mục đích tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, nâng cao khả
năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn Tổnh công ty.
1.2.Chuyển đổi mô hình từ Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam sang mô
chính của VINATEX:
Dệt may vẫn là một lĩnh vực được các nước trên Thế giới nói chung và các
nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nói riêng rất quan tâm.
Ngành công nghiệp này có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường
đa dạng ngành nghề và thường xuyên được đặt lên bàn nghị sự của các vòng đàm
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
CƠ QUAN TỔNG GIÁM ĐỐC BAN KIỂM SOÁT
NHOM
NGUYÊN
LIỆU
NHÓM
HOÀN TẤT
NHÓM SỢI NHÓM MAY
NHÓM DỆT
THOI
NHÓM DỆT
KIM
NHÓM BÁN LẺ
NHÓM QUẢN
TRỊ NHÂN LỰC
NHÓM TÀI
CHÍNH
NHÓM KHAI
MỤC KỸ
THUẬT
NHÓM XÚC
TIẾN THƯƠNG
MẠI
VĂN PHÒNG
CÁC CÔNG TY
với 1,2 tỷ USD (chiếm 20% thị phần); tiếp theo là các thị trường Nhật Bản,
ASEAN, Canada, Nga và một số thị trường khác.
Theo số liệu thống kê từ Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng
qua lên tới 35,6 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý
dệt may đã chính thức vượt dầu thô để trở thành mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu của
cả nước. 9 tháng qua xuất khẩu dệt may đạt 5,8 tỷ USD, trong khi dầu thô mới
chỉ đạt 5,78 tỷ USD. Như vậy vị trí dẫn đầu xuất khẩu của dầu thổ trong suốt
những năm qua đã bị thay thế bởi dệt may. Thực tế, khả năng dẫn đầu của dệt
may xuất khẩu đã được dự báo trước, và có thể sẽ dữ vững vị trí này trong suốt
giai đoạn tới. Dệt may tiếp tục đà tăng trưởng tốt sau khi gia nhập WTO được dỡ
bỏ rào cản hạn ngạch vào Mỹ. Hoạt động nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ
Việt Nam trong những tháng cuối năm diễn ra sôi động hơn so với những tháng
đầu năm 2007:
Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam
so với kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ các nước khác tăng lên 4,53%.
Lượng nhập khẩu các Cát 844, 839, 434, 237, 648, 435, 644, 607,
642, 639… của Mỹ từ Việt Nam tăng rất mạnh.
Hoạt động nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam trong những
tháng cuối năm diễn ra sôi động hơn so với những tháng đầu năm 2007. theo số
liệu thống kê của cục Hải quan Mỹ, trong tháng 7 và tháng 8/2007, kim ngạch
nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam đạt trung bình 465 triệu
USD/tháng của 6 tháng đầu năm 2007. Tính chung 8 tháng đầu năm 2007, kim
ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam đạt 2,9 tỷ USD, tăng
25,53% so với cùng kỳ năm 2006, cao hơn so với mức tăng 5,23% tổng kim
ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ nhưng thấp hơn so với mức tăng 28,33%
kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Trung Quốc. Hàng dệt may của
Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường Mỹ. Bằng chứng là
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU
HÀNG DỆT MAY CỦA VINATEX
1. Định hướng xuất khẩu:
1.1 . Định hướng chung đến năm 2020:
Trong tương lai, EU vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của hàng dệt may
Việt Nam. Thị trường Mỹ quả là một thị trường rộng lớn có rất nhiều triển vọng,
đăc biệt mở ra nhiều cơ hội từ sau Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết
(năm 2000) và chính thức thông qua vào tháng 12/2001. Tuy nhiên, việc thâm
nhập vào thị trường mới cần nhiều thời gian và chi phí, và trước mắt việc xuất
vào thị trường này chưa thể gia tăng đột biến. Trong khi đó, EU vẫn là thị trường
quen thuộc, có sức tiêu thụ lớn và trong tầm tay của các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam . Việc các doanh nghiệp chỉ tập trung vào Mỹ và AFTA như hiện nay
sẽ tạo ra độ vênh trong quá trình định hướng thị trường, gây mất cân đối trong
chiến lược xuất khẩu . Khi EU dỡ bỏ hạn ngạch hàng dệt may vào đầu năm 2005
cho các nước thành viên của WTO, hàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh với
nhiều cường quốc xuất khẩu trong khu vực, đặc biệt là về mặt giá cả, mà theo
ước tính sẽ hạ xuống thấp hơn 7%. Tuy nhiên Việt Nam có những ưu thế nhất
định trong cuộc chiến này nhất là khi giá cả không phải là yếu tố quyết định đối
với người tiêu dùng châu Âu, vì họ luôn đặt chất lượng lên hàng đầu. Theo lộ
trình, đến năm 2020, sẽ nâng tỷ lệ nội địa hóa nguồn nguyên liệu lên 75% và kim
ngạch xuất khẩu đạt khoảng 20-22 tỷ USD. “Đây thực sự là một con số đầy tham
vọng khi ngành dệt may Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với các nền sản xuất
khác, nhất là các nước đang phát triển có cùng lợi thế về nhân công và cùng trình
độ sản xuất”.
Như vậy, nếu như trong thời gian tới Việt Nam tiếp tục tận dụng được những
ưu thế về giá nhân công, kỹ thuật lao động, đồng thời tiếp tục cải cách phương thức quản lý hạn ngạch, giảm chi phí lưu thông… thì chắc chắn các doanh
16.000
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Với những nước xuất khẩu chính mà Việt Nam đã, đang, và sẽ xuất khẩu
hàng dệt may của mình sang, cạnh tranh trên thị trường này sẽ còn có nhiều
những thuận lợi, nhưng sẽ phải đương đầu với rất nhiều đối thủ mạnh. Môi
trường cạnh tranh càng tự do bao nhiêu thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
càng phải nỗ lực bấy nhiêu thì mới mong giành được phần thắng trong cuộc đua
đầy thử thách này.
VINATEX chủ trương sẽ vẫn giữ vững thị trường cũ, khai thác thêm thị
trường mới, nên trong thời gian tới, kim ngạch xuất khẩu sẽ theo hướng: thị
trường Mỹ, Nhật Bản kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ ở mức cao, tăng cường và
chú trọng hơn đối với các nước khu vực EU, đồng thời một số thị trường mới ở
Trung Đông, Mỹ La Tinh…cũng sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng cao.
Mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU
Ch
ỉ ti
êu
2005
2010
và đạt được các mục tiêu đã đề ra, ngành dệt may Việt Nam cũng phải tiến hành
những giải pháp chung để nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành.
2.1.Giải pháp về tài chính và vốn:
Để có thể thực hiện triển khai tăng tốc, vốn là một yếu tố rất quan trọng dẫn
đến thành công. Nhưng điều khó khăn là làm sao xác định được nguồn vốn tài
trợ cho ngành cũng là một khâu kế hoạch quan trọng. Sau đây là bảng đề xuất
nhu cấu vốn cho giai đoạn tới:
Nhu cầu vốn đầu tư cho ngành dệt may giai đoạn 2006-2010:
Đơn vị: tỷ đồng
Nhu c
ầu vốn đầu t
ưToàn ngànhVINATEX
T
ổng mức đầu t
ư, trong đó:
- Vốn đầu tư cho mở rộng:
- Vốn cho đầu tư chiều sâu:
Theo hình thức vốn gồm có:
- Vốn cho xây lắp:
phẩm may xuất khẩu còn chưa được thực hiện. Cụ thể, đối với Tập Đoàn Dệt
May Việt Nam, tỷ lệ hỗ trợ cho đầu tư phát triển chỉ đạt 20,3% nhu cầu; mục tiêu
cấp vốn lưu động đủ 30% yêu cầu cho VINATEX chỉ đạt 3,8%; ngân sách hỗ trợ
cho đào tạo và nghiên cứu phát triển còn hạn chế, mới đáp ứng khoảng 50% yêu
cầu. Do vậy không thể trông chờ hoàn toàn nguồn vốn từ ngân sách mà Tập
Đoàn Dệt May Việt Nam cần phải nghiên cứu và huy động các giải pháp huy