tiểu luận sử dụng vòng tròn lượng giác để giải bài tập phần “dao động điều hòa” trong chương “dao động cơ” - Pdf 15

Bài tiểu luận
LỜI NÓI ĐẦU
Tiểu luận “Sử dụng vòng tròn lượng giác để giải bài tập phần “Dao
động điều hòa” trong chương “Dao động cơ” của chương trình vật lý 12_
Nâng cao” được viết trên tinh thần nhằm giúp học sinh có những hiểu biết đầy
đủ về các phương pháp bài tập vật lý “Dao động điều hòa” lớp 12 thông qua
việc sử dụng vòng tròn lượng giác để giải, trên cơ sở đó rèn luyện được kĩ
năng giải các dạng bài tập này.
- Nội dung tiểu luận này được viết theo chủ đề, dạng toán cụ thể, bám
sát nội dung của sách giáo khoa vật lý lớp 12 nâng cao, gồm các mục chính
sau:
+ Mục “Tóm tắt lý thuyết” tóm tắt các kiến thức cần thiết để giải các
bài tập dao động điều hòa của con lắc.
+Mục “Các dạng bài tập và phương pháp giải” gồm hai phần:
1. Đưa ra phương pháp giải cho từng chủ đề nhằn giúp cho học sinh
hiểu rõ và nắm được phương pháp giải của từng dạng bài tập.để áp dụng vào
các bài tập trắc nghiêm liên quan một cách nhanh hơn.
2. Bài tập vân dụng cho từng chủ đề giúp cho học sinh áp dụng giải các
bài tập trắc nghiêm liên quan hoặc có nội dung tương tự một cách nhanh hơn.
- Các bài tập được trình bày trong tiểu luận đều có phương pháp giải và
hướng dẫn giải cụ thể từ đó có thể giúp học sinh giải được các bài tập tương
tự, rèn luyện kĩ năng giải bài tập, phát triển năng lực tự làm việc của học sinh.
Để được làm tiểu luận này, em xin chân thành cám ơn toàn thể quý
thầy cô Khoa Vật Lý – Trường Đại Học Sư Phạm Huế và đặc biệt giảng viên
thầy giáo Lê Văn Giáo đã tận tình hướng dẫn cho em trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành đề tài.
Xin trân trọng cám ơn thư viện trường ĐHSP cùng các bạn lý 3B đã
đóng góp ý kiến, giúp đỡ em về tài liệu để em có thể hoàn thành đề tài này
đúng thời hạn.
1
Bài tiểu luận

vận dụng kiến thức để giải các bài tập định tính, bài tập định lượng của
chương này đối với học sinh thật không dễ dàng. Chính vì vậy, đề tài “Lựa
chọn hệ thống bài tập, hướng dẫn giải và giải bài tập vật lý (phần “Dao động
điều hòa” trong chương “Dao động cơ” của lớp 12 chương trình nâng cao) sẽ
giúp học sinh có một hệ thống bài tập, có phương pháp giải nhanh và cụ thể
3
Bài tiểu luận
từng dạng với hướng dẫn giải chi tiết từng bài, từ đó giúp học sinh có thể hiểu
rõ hơn về chương dòng dao động cơ diều hòa của con lắc đờn và con lắc lò
xo. Đồng thời thông qua việc giải bài tập, học sinh có thể được rèn luyện về
kĩ năng giải bài tập, phát triển tư duy sáng tạo và năng lực tự làm việc của bản
thân.
II. Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng hệ thống bài tập, hướng dẫn phương pháp giải các dạng bài
tập của phần “Dao động điều hòa” trong chương “Dao động cơ”. Từ đó vạch
ra tiến trình hướng dẫn hoạt động dạy học (gồm hoạt động của giáo viên và
hoạt động của học sinh) nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức về phần này,
trên cơ sở đó học sinh có thể tự lực vận dụng kiến thức để giải các bài tập
cùng dạng theo phương pháp đã đưa ra.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Nghiên cứu lý luận dạy học về bài tập vật lý để vận dụng vào hoạt
động dạy học.
2. Nghiên cứu nội dung phần “Dao động điều hòa” trong chương “Dao
động cơ” của chương trình sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao nhằm xác định
nội dung kiến thức cơ bản học sinh cần nắm vững và các kĩ năng giải bài tập
cơ bản học sinh cần rèn luyện.
3. Soạn thảo hệ thống bài tập của chương này, đưa ra phương pháp giải
theo từng dạng, đề xuất tiến trình hướng dẫn học sinh giải bài tập trong hệ
thống bài tập này.
4. Xây dựng hệ thống cơ sở lỳ thuyết và giới hạn áp dụng cho chúng.

khoa học và công nghệ. Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ 21 phải là một xã hội
dựa vào tri thức, vào tư duy sáng tạo, vào tài năng sáng chế của con người.
Trong xã hội biến đổi nhanh chóng như hiện nay, người lao động cũng phải
biết luôn tìm tòi kiến thức mới và trau dồi năng lực của mình cho phù hợp với
sự phát triển của khoa học và kĩ thuật. Lúc đó người lao động phải có khả
năng tự định hướng và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội. Chính
vì vậy, mục đích giáo dục hiện nay ở nước ta và trên thế giới không chỉ dừng
lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức, kĩ năng loài người đã tích
lũy được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho họ
năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết
vấn đề mới sao cho phù hợp.
Rèn luyện năng lực tự suy nghĩ và truyền thụ kiến thức cho học sinh là
vấn đề quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học môn Vật lý nói riêng.
Để việc dạy và học đạt kết quả cao thì người giáo viên phải biết phát huy tính
tích cực của học sinh, chọn lựa phương thức tổ chức hoạt động, cách tác động
phù hợp giúp học sinh vừa học tập, vừa phát triển nhận thức. Việc giải bài tập
Vật lý không những nhằm mục đích giải toán, mà nó còn có ý nghĩa to lớn
trong việc rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng tính
toán, suy luận logic để giải quyết những vấn đề trong thực tế cuộc sống.
Trong quá trình dạy học bài tập vật lý, vai trò tự học của học sinh là rất cần
thiết. Để giúp học sinh khả năng tự học, người giáo viên phải biết lựa chọn
bài tập sao cho phù hợp, sắp xếp chúng một cách có hệ thống từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp và hướng dẫn cho học sinh cách giải để tìm ra được
bản chất vật lý của bài toán vật lý.
6
Bài tiểu luận
I. Những cơ sở lý luận của hoạt động giải bài tập vật lý phổ thông.
1. Mục đích, ý nghĩa của việc giải bài tập:
- Quá trình giải một bài tập vật lý là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài
toán, xem xét hiện tượng vật lý đề cập, dựa vào kiến thức vật lý để tìm ra

Bài tập vật lý là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động.
Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử
dụng tổng hợp các kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương
trình
b. Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt đến kiến thức mới
Các bài tập nếu được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đến những
suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải
thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra
c. Giải bài tập vật lý rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lý thuyết
vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát
Bài tập vật lý là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng
kiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
Có thể xây dựng nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó học sinh phải
biết vận dụng lý thuyết để giải thích hoặc dự đoán các hiện tượng xảy ra
trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước.
d. Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của
học sinh.
Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu
bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học
sinh rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực
của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển.
e. Giải bài tập vật lý góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của
học sinh
Việc giải bài tập vật lý đòi hỏi phải phân tích bài toán để tìm bản chất vật
lý với mức độ khó được nâng dần lên giúp học sinh phát triển tư duy.
8
Bài tiểu luận
Có nhiều bài tập vật lý không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng
những kiến thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo.

đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn
giản nhằm củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm học sinh hiểu rõ ý nghĩa
của các định luật và các công thức biểu diễn chúng.
- Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải thì phải vận
dụng nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức. Loại bài tập này có tác
dụng đặc biệt giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối
liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lý. Ngoài ra bài tập tính
toán tổng hợp cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung vật lý của các định
luật, quy tắc biểu hiện dưới các công thức. Vì vậy, giáo viên cần lưu ý học
sinh chú ý đến ý nghĩa vật lý của chúng trước khi đi vào lựa chọn các công
thức và thực hiện phép tính toán.
c. Bài tập thí nghiệm
- Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm
chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài
tập. Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản. Bài tập thí
nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng.
- Bài tâp thí nghiệm có nhiều tác dụng về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo
dục, và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa
lý thuyết và thực tiễn
* Lưu ý: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các số liệu
để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Cho
nên phần vận dụng các định luật vật lý để lý giải các hiện tượng mới là nội
dung chính của bài tập thí nghiệm.
d. Bài tập đồ thị
- Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để
giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải
biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị.
10
Bài tiểu luận
- Bài tập đồ thị có tác dụng rèn luyện kĩ năng đọc, vẽ đồ thị, và mối

không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học
- Bài tập nghiên cứu: là dạng bài tập trả lời những câu hỏi “tại sao”
- Bài tập thiết kế: là dạng bài tập trả lời cho những câu hỏi “phải làm
như thế nào”.
4. Phân loại theo cách thể hiện bài tập: người ta phân biệt bài tập
thành
- Bài tập bài khóa
- Bài tập lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu trả lời cho sẵn
(test). Loại này có hạn chế là không kiểm tra được con đường suy nghĩ của
người giải nhưng vẫn có hiệu quả nhất định trong việc kiểm tra trình độ kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh.
5. Phân loại theo hình thức làm bài
a. Bài tập tự luận : đó là những bài yêu cầu học sinh giải thích, tính
toán và hoàn thành theo một logic cụ thể. Nó bao gồm những loại bài đã trình
bày ở trên.
b. Bài tập trắc nghiệm khách quan : là loại bài tập cho câu hỏi và đáp
án. Các đáp án có thể là đúng, gần đúng hoặc sai. Nhiệm vụ của học sinh là
tìm ra câu trả lời đúng nhất, cũng có khi đó là những câu bỏ lửng yêu cầu điền
vào những chỗ trống để có câu trả lời đúng. Bài tập loại này gồm:
- Câu đúng – sai: câu hỏi là một phát biểu, câu trả lời là một trong hai
lựa chọn
- Câu nhiều lựa chọn: một câu hỏi, nhiều phương án lựa chọn, yêu cầu
học sinh tìm câu trả lời đúng nhất
- Câu điền khuyết: nội dung trong câu bị bỏ lửng, yêu cầu học sinh điền
từ ngữ hoặc công thức đúng vào chỗ bị bỏ trống
- Câu ghép hình thức: nội dung của các câu được chia thành hai phần,
học sinh phải tìm các phần phù hợp để ghép thành câu đúng
12
Bài tiểu luận
III. Phương pháp giải bài tập

- Nhận biết các dữ liệu đã cho trong đề bài có liên quan đến những kiến
thức nào, khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật
lý.
- Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài, mỗi
giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào. Có như vậy học
sinh mới hiểu rõ được bản chất của hiện tượng, tránh sự áp dụng máy móc
công thức.
3. Xây dựng lập luận
Thực chất của bước này là tìm quan hệ giữa ẩn số phải tìm với các dữ
kiện đã cho. Đối chiếu các dữ kiện đã cho và cái phải tìm liên hệ với nhau
như thế nào, qua công thức, định luật nào để xác lập mối liên hệ. Thành lập
các phương trình nếu cần với chú ý có bao nhiêu ẩn số thì có bấy nhiêu
phương trình.
♦ Đối với những bài tập tổng hợp phức tạp, có hai phương pháp xây
dựng lập luận để giải:
- Phương pháp phân tích: xuất phát từ ẩn số cần tìm, tìm ra mối liên hệ
giữa ẩn số đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã xác định ở bước
2, diễn đạt bằng một công thức có chứa ẩn số. Sau đó tiếp tục phát triển lập
luận hoặc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho. Cuối cùng đi đến
công thức sau cùng chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho.
- Phương pháp tổng hợp: xuất phát từ dữ kiện đã cho của đầu bài, xây
dựng lập luận hoặc biến đổi công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện
đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn
số và các dữ kiện đã cho.
♦ Đối với bài tập định tính: ta không cần tính toán nhiều mà chủ yếu sử
dụng lập luận, suy luận logic dựa vào kiến thức vật lý để giải thích hoặc dự
đoán hiện tượng xảy ra.
14
Bài tiểu luận
♦ Đối với bài tập trắc nghiệm trách quan: cần nắm thật vững kiến thức

Bài tập định tính thường có hai dạng: giải thích hiện tượng và dự đoán
hiện tượng sẽ xảy ra.
a. Bài tập giải thích hiện tượng:
Giải thích hiện tượng thực chất là cho biết một hiện tượng và lý giải xem
vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Nói cách khác là biết hiện tượng và phải
giải thích nguyên nhân của nó. Đối với học sinh, nguyên nhân đó là những
đặc tính, những định luật vật lý. Như vậy, trong các bài tập này, bắt buộc phải
thiết lập được mối quan hệ giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của
sự vật hiện tượng hay với một số định luật vật lý. Ta phải thực hiện phép suy
luận logic (luận ba đoạn), trong đó tiên đề thứ nhất là một đặc tính chung của
sự vật hoặc định luật vật lý có tính tổng quát, tiên đề thứ hai là những điều
kiện cụ thể, kết luận là hiện tượng nêu ra.
Thông thường những hiện tượng thực tế rất phức tạp mà các định luật
vật lý lại rất đơn giản, cho nên mới nhìn thì khó có thể phát hiện ra mối liên
hệ giữa hiện tượng đã cho với những định luật vật lý đã biết. Ngoài ra, ngôn
ngữ dùng trong lời phát biểu các định nghĩa, định luật vật lý nhiều khi lại
không hoàn toàn phù hợp với ngôn ngữ thông thường dùng để mô tả hiện
tượng. Vì vậy cần phải mô tả hiện tượng theo ngôn ngữ vật lý và phân tích
hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật,
một quy tắc nhất định.
Có thể đưa ra một quy trình sau đây để định hướng cho việc tìm lời giải
bài tập định tính giải thích hiện tượng:
• Tìm hiểu đầu bài, đặc biệt chú trọng diễn đạt hiện tượng mô tả trong
đầu bài bằng ngôn ngữ vật lý (dùng các khái niệm vật lý thay cho khái niệm
dùng trong đời sống hằng ngày).
• Phân tích hiện tượng.
• Xây dựng lập luận:
16
Bài tiểu luận
- Tìm trong đầu bài những dấu hiệu có liên quan đến một tính chất vật

chỉ chứa đại lượng cần tìm với các đại lượng đã biết. Thực chất của phương
pháp phân tích là phân tích một bài toán phức tạp thành nhiều bài toán đơn
giản hơn.
♦ Phương pháp tổng hợp: việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đã
cho trong điều kiện của bài tập. Dựa vào các định luật, quy tắc vật lý, ta phải
tìm những công thức chứa đại lượng đã cho và các đại lượng trung gian mà ta
dự kiến có liên quan đến đại lượng phải tìm. Cuối cùng ta tìm được một công
thức chỉ chứa đại lượng phải tìm và những đại lượng đã biết.
♦ Phối hợp phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: trong thực
tế giải bài tập, hai phương pháp trên không tách rời nhau, mà thường xen kẽ,
hỗ trợ lẫn nhau.
Phương pháp tổng hợp đòi hỏi người giải bài tập có kiến thức rộng rãi,
kinh nghiệm phong phú để có thể dự đoán được con đường đi từ những dữ
kiện trung gian, thoạt mới nhìn hình như không có quan hệ gì chặt chẽ tới một
kết quả có liên quan đến tất cả những điều đã cho. Bởi vậy, ở giai đoạn đầu
của việc giải bài tập thuộc một dạng nào đó, do học sinh chưa có nhiều kinh
nghiệm, ta nên bắt đầu từ câu hỏi đặt ra trong bài tập rồi gỡ dần, làm sáng tỏ
dần những yếu tố có liên quan đến đại lượng cần tìm, nghĩa là dùng phương
pháp phân tích.
Trong những bài tập tính toán tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều
nguyên nhân, trải qua nhiều giai đoạn, khi xây dựng lập luận có thể phối hợp
hai phương pháp.
V. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý
Để việc hướng dẫn giải bài tâp cho học sinh có hiệu quả, thì trước hết
giáo viên phải giải được bài tập đó, và phải xuất phát từ mục đích sư phạm để
xác định kiểu hướng dẫn cho phù hợp.
* Các kiểu hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý.
18
Bài tiểu luận
1. Hướng dẫn theo mẫu (Angorit)

♦ Ưu điểm:
- Tránh được tình trạng giáo viên làm thay học sinh trong việc giải bài
tập.
- Phát triển tư duy, khả năng làm việc tự lưc của học sinh.
♦ Nhược điểm:
- Do học sinh phải tự tìm cách giải quyết bài toán nên đôi khi cũng
không đảm bảo học sinh giải được bài toán một cách chắt chắn.
- Phương pháp này không thể áp dụng cho toàn bộ đối tượng học sinh.
- Hướng dẫn của giáo viên không phải lúc nào cũng định hướng được tư
duy của học sinh.
♦ Điều kiện áp dụng: khi cần giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn để
giải quyết được bài tập đồng thời vẫn đảm bảo được yêu cầu phát triển tư duy
học sinh muốn tạo điều kiện để học sinh tự lực tìm tòi cách giải quyết
3. Định hướng khái quát chương trình hóa:
♦ Định nghĩa: định hướng khái quát chương trình hóa là sự hương dẫn
cho học sinh tự tìm tòi cách giải quyết tương tự như hướng dẫn tìm tòi. Sự
định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lý để giải quyết
vấn đề đặt ra.
Cụ thể:
- Giáo viên định hướng ban đầu để học sinh tự tìm tòi giải quyết vấn đề
đặt ra.
- Nếu học sinh không tự giải quyết được, giáo viên sẽ gợi ý thêm, cụ thể
hóa hoặc chi tiết hóa thêm một bước để thu hẹp phạm vi tìm tòi giải quyết cho
vừa sức học sinh.
- Nếu học sinh vẫn không tự giải quyết được thì giáo viên nên chuyển
dần sang kiểu định hương theo mẫu để theo đó học sinh tự giải quyết được
20
Bài tiểu luận
một bước hay một khía cạnh nào đó của vấn đề. Sau đó tiếp tục giải quyết vấn
đề tiếp theo.

lượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, số
lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng cần tìm…) giúp học sinh nắm
được phương pháp giải các loại bài tập điển hình.
- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp một
phần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức.
- Hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều thể loại bài tập: bài tập giả tạo và
bài tập có nội dung thực tế, bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo, bài tập cho
thừa hoặc thiếu dữ kiện, bài tập mang tính chất ngụy biện và nghịch lý, bài
tập có nhiều cách giải khác nhau và bài tập có nhiều lời giải tùy theo điều kiện
cụ thể của bài tập mà giáo viên không nêu lên hoặc chỉ nêu lên một điều kiện
nào đó mà thôi.
+ Bài tập giả tạo: là bài tập mà nội dung của nó không sát với thực tế,
các quá trình tự nhiên được đơn giản hóa đi nhiều hoặc ngược lại, cố ý ghép
nhiều yếu tố thành một đối tượng phức tạp để luyện tập, nghiên cứu. Bài tập
giả tạo thường là bài tập định lượng, có tác dụng giúp học sinh sử dụng thành
thạo các công thức để tính đại lượng nào đó khi biết các đại lượng khác có
liên quan, mặc dù trong thực tế ta có thể đo nó trực tiếp được.
+ Bài tập có nội dung thực tế: là bài tập có đề cập đến những vấn đề có
liên quan trực tiếp tới đối tượng có trong đời sống, kĩ thuật. Dĩ nhiên những
vấn đề đó đã được thu hẹp và đơn giản hóa đi nhiều so với thực tế. Trong các
bài tập có nội dung thực tế, những bài tập mang nội dung kĩ thuật có tác dụng
lớn về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Nội dung của các bài tập này phải thỏa
mãn các yêu cầu:
- Nguyên tắc hoạt động của các đối tượng kĩ thuật nói đến trong bài tập
phải gắn bó mật thiết với những khái niệm và định luật vật lý đã học.
- Đối tượng kĩ thuật này phải có ứng dụng khá rộng rãi trong thực tiễn
sản xuất của nước ta hoặc địa phương nơi trường đóng.
- Số liệu trong bài tập phải phù hợp với thực tế sản xuất.
22
Bài tiểu luận

Bài tiểu luận
+ Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập ra cho các loại đối tượng học sinh
khác nhau, thể hiện ở mức độ trừu tượng của đầu bài, loại vấn đề cần giải
quyết, phạm vi và tính phức hợp của các số liệu cần xử lý, loại và số lượng
thao tác tư duy logic và các phép biến đổi toán học cần sử dụng, phạm vi và
mức độ các kiến thức, kĩ năng cần huy động.
+ Biến đổi mức độ yêu cầu về số lượng bài tập cần giải, về mức độ tự
lực của học sinh trong quá trình giải bài tập.
24
Bài tiểu luận
PHẦN BA: VẬN DỤNG
SỬ DỤNG VÒNG TRÒN LƯỢNG GIÁC ĐỂ GIẢI BÀI TẬP
PHẦN “DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA” TRONG CHƯƠNG “DAO
ĐỘNG CƠ” CỦA CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12_ NÂNG CAO.
A. TÓM TẮT LÝ THUYẾT.
I. Dao động điều hòa.
- Dao động là chuyển động có giới hạn trong không gian và được lặp đi
lặp lại nhiều lần quanh vị trí cân bằng, vị trí này thường là vị trí đứng yên.
- Dao động tuần hoàn là dao động mà trạng thái chuyển động của vật
được lặp đi lặp lại như cũ sau những khoảng thời giưn bằng nhau. Khoảng
thời gian T ngắn nhất sau đó trạng thái dao động được lặp đi lặp lại như cũ
gọi là chu kỳ dao động tuần hoàn. Đơn vị của chu kỳ dao động là giây (ký
hiệu la s). Đại lượng
1
f
T
=
chỉ rã số lần dao động trong một đơn vị thời
gian được gọi là tần số dao động tuần hoàn. Đơn vị của tần số dao động là
Héc (ký hiệu là Hz).

T
ω
π
= =
.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status