ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA QUỐC TẾ HỌC
MÔN HỌC:
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI EU
Đề tài:
TÌM HIỂU CÁC HIỆP ĐỊNH GIỮA EU VÀ VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Hoàng Lê Đỗ Quyên
GVHD : TSKH. Lương Văn Kế
Khóa : 08
Lớp : 08CNQTH01
1
MỤC LỤC
Mở đầu trang 3
I. Sơ lược quan hệ EU và Việt Nam trang 4
II. Một số hiệp định giữa EU và Việt Nam trang 5
1. Hiệp định thương mại hàng diệt may giữa EU và Việt Nam trang 5
2. Hiệp định khung hợp tác 1995 trang 5
2.1. Mục tiêu của Hiệp đinh trang 6
2.2. Nội dung chính trang 6
2.3. Ý nghĩa trang 6
3. Hiệp định khung đối tác và hợp tác toàn diện 2010 (PCA) trang 7
3.1. Hoàn cảnh ra đời trang 7
3.2. Quy trình đàm phán và kí kết trang 8
3.3. Nội dung chính trang 8
3.4. Triển vọng trong quan hệ EU-Việt Nam sau PCA trang 9
Kết luận trang 10
2
MỞ ĐẦU
Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ
động có chiến lược tổng thể về hợp tác với EU, khẳng định vị thế của EU trong đối ngoại
của mình nhằm xây dựng quan hệ Việt Nam - EU thành quan hệ đối tác bình đẳng, hợp
tác toàn diện, lâu dài, vì hòa bình và phát triển.
Chặng đường thiết lập quan hệ trong 20 năm qua giữa EU và Việt Nam có thể
kể đến các mốc quan trọng sau:
Tháng 28/11/1990, Việt Nam và EU chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
Ngày 17/7/1995: Ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các nguyên tắc cơ
bản nhằm thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao giữa VN-EU
Tháng 1/1996, Ủy ban châu Âu (EC) lập Phái đoàn đại diện thường trực và cử Đại
sứ - Trưởng Phái đoàn tại Hà nội.
Tháng 9/1996 hai bên đã họp Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - EC lần thứ nhất. Đây là
cuộc họp được tổ chức định kỳ 2 năm 1 lần luân phiên tại Hà Nội và Brussels.
Từ tháng 3/1997, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định hợp tác ASEAN – EU
Năm 1999: Thoả thuận về buôn bán giầy dép.
Năm 2001, Việt Nam và EU đã tiến hành thường xuyên các cuộc tiếp xúc và đối
thoại không chính thức về nhân quyền.
Giữa năm 2003, EU đề nghị ta thiết lập cơ chế đối thoại chính thức và định kỳ về
dân chủ - nhân quyền một năm 2 lần và nâng cấp đối thoại nhân quyền từ cấp
chuyên viên lên cấp Vụ Bộ Ngoại giao và cấp Đại sứ.
Năm 2004, Bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEM 5 tại Hà Nội, lần đầu tiên hai bên
đã họp cấp cao Việt Nam – EU Troika.
4
Ngày 27/6/2005, Hội đồng Châu Âu đã thông qua các quy định mới về hệ thống
ưu đãi thuế quan (GSP).
Tháng 5/2007, Việt Nam và EU đã thoả thuận tiến hành đàm phán một Hiệp định
khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA).
Tháng 6/2008, hai bên đã đàm phán vòng 1 Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác
toàn diện (PCA) giữa Việt Nam và EU, tạo khuôn khổ mới cho quan hệ hợp tác
nhiều mặt giữa hai bên trong thời gian tới.
Tháng 10/2010, hai bên ký tắc Hiệp định Đối tác và hợp tác toàn diện (PCA)
có nhiều cơ hội mới thuận
lợi.
5
2. Hiệp định khung hợp tác 1995
Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam-EU bằng sự kiện
trọng đại khi "Hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng
đồng châu Âu" được ký kết. Đây là Hiệp định khung đã được hai bên đàm phán từ
cuối năm 1993 và ký tắt ngày 31/5/1995 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01-06-1996,
cung cấp cơ sở pháp lý cho quan hệ song phương.
2.1. Mục tiêu của hiệp định:
- Tăng cường đầu tư và thương mại song phương
- Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam và cải thiện các điều kiện sống
cho người nghèo
- Hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế và tiến tới
một nền kinh tế thị trường
- Bảo vệ môi trường.
Hiệp định cũng bao gồm một điều khoản quy định các quyền con người và các
nguyên tắc dân chủ là nền tảng cho hợp tác giữa EC và Việt Nam.
Hiệp định khung về hợp tác EC - Việt Nam được tự động áp dụng cho các nước
thành viên mới của EU đã gia nhập Liên minh vào ngày 1 tháng 5 năm 2004, cũng như
cho các nước thành viên của EU trong tương lai.
2.2. Nội dung chính
Cụ thể tại điều 4 của Hiệp định khung quy định về hợp tác thương mại giữa
Việt Nam-EU là:
Ở khoản 1: Các bên cam kết phát triển và đa dạng hoá trao đổi thương mại giữa hai
bên và cải thiện tiếp thị tới mức cao nhất có thể được, có tính đến hoàn cảnh của mỗi
bên. Khoản 2: Các bên trong khuôn khổ hiện hành của luật pháp và thể lệ của mỗi bên
cam kết thực hiện chính sách nhằm cải thiện cách thức thâm nhập cho sản phẩm của
mình vào thị trường của nhau. Trong bối cảnh đó hai bên sẽ dành cho nhau các điều kiện
thuận lợi nhất về nhập khẩu, xuất khẩu và thoả thuận xem xét cách thức và biện pháp
hợp tác Việt Nam - EU 1995 không còn thể hiện được mối quan hệ đối tác đã nâng lên
một tầm cao mới và cần phải có một hiệp định hợp tác sâu rộng hơn giữa hai bên để thay
thế”.
Chính vì vậy, để tạo khuôn khổ hợp tác mới nhằm đưa quan hệ hai bên ngày càng đi
vào chiều sâu và toàn diện hơn, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới cũng
như điều kiện và tiềm năng phát triển của mỗi bên. Trong cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Uỷ viên phụ trách quan hệ đối ngoại của EC
Benita Ferrero-Waldner tại Hamburg (Đức), tháng 5/2007, Việt Nam và EU đã thoả
thuận tiến hành đàm phán một Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) để thay thế
cho Hiệp định Khung 1995. Đây là hiệp định có tính chất toàn diện (bao gồm nhiều lĩnh
7
vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, hợp tác chuyên ngành ) được xây dựng trên cơ sở
bình đẳng hai bên cùng có lợi, mở rộng hơn nhiều so với Hiệp định khung năm 1995.
Hiện nay, Việt Nam và EU đang nỗ lực nâng quan hệ song phương lên một tầm
cao mới. PCA được coi là khung pháp lý mới, đáp ứng nhu cầu của cả hai phía nhằm tạo
điều kiện để mối quan hệ Việt Nam - EU ngày càng mở rộng và phát triển toàn diện hơn.
3.2. Quy trình đàm phán và ký kết
Với tinh thần xây dựng, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, trong quá trình đàm phán, hai
bên đã trao đổi cởi mở, thẳng thắn, tìm hiểu ưu tiên, lợi ích, quan điểm, chính sách của
nhau về các vấn đề liên quan và đạt nhiều kết quả tích cực. Và sau hơn hai năm tiến hành
đàm phán, trải qua 9 vòng đàm phán và nhiều cuộc trao đổi kỹ thuật, đến ngày 4/10/2010,
Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - EU đã được ký tắt tại Brussels
(Bỉ) trước sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu
(EC) Jose Manuel Barroso.
Để đảm bảo PCA là hiệp định khung song phải mang tính toàn diện, trong quá trình
đàm phán, hai bên đã phải bàn nhiều nội dung cụ thể, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực
hợp tác, kể cả những vấn đề nguyên tắc và nội dung chuyên ngành.
Sau cuộc gặp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC Barroso đã chứng kiến
việc ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng giữa Việt Nam và EU như Hiệp định về
một số lĩnh vực dịch vụ hàng không; Hiệp định vay vốn Ngân hàng Đầu tư châu Âu cho
Việt Nam – EU trong tương lai.
Điểm nổi bật nữa của PCA là hai bên đạt thỏa thuận về nội dung hợp tác trên nhiều
lĩnh vực mới như giáo dục đào tạo, nông lâm ngư nghiệp, nhập cư, văn hóa, du lịch, môi
trường, y tế, năng lượng, giao thông Đồng thời, PCA khẳng định hai bên sẽ đẩy mạnh
hợp tác trên các diễn đàn quốc tế, giải quyết các vấn đề toàn cầu để bảo vệ hòa bình và an
ninh quốc tế như chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, tội phạm có
tổ chức và rửa tiền, ứng phó với biến đổi khí hậu, ngăn ngừa và giảm nhẹ thiên tai Có
thể nói, các nội dung thỏa thuận trong PCA rất toàn diện, phản ánh hài hòa lợi ích và ưu
tiên của hai bên.
3.4. Triển vọng trong hợp tác giữa EU và Việt Nam sau khi ký
Hiệp định PCA
9
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC đều cho rằng PCA sẽ là khuôn khổ
cho việc xây dựng quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện và lâu dài giữa Việt Nam
và EU trong thế kỷ 21.
Về hợp tác phát triển, EU cam kết tăng cường hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục
tiêu phát triển được quốc tế thừa nhận, coi đây là điều khoản thiết yếu của Hiệp định.
Nếu thực hiện tốt, đây là sự bổ sung quan trọng phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước trong những năm tới.
Về thương mại, đầu tư, PCA sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hai bên có thể khai thác
được tốt hơn lợi thế so sánh và bổ sung lẫn nhau. Nhiều lĩnh vực EU có thế mạnh như cơ
khí, chế tạo, giao thông vận tải, hoá chất, dược phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao
trong khi Việt Nam có nhu cầu lớn, nhưng khả năng đáp ứng trong nước còn hạn chế.
Đồng thời, nhiều mặt hàng Việt Nam có lợi thế, có thể đáp ứng nhu cầu nhập khẩu lớn
của EU như cao su nguyên nhiên liệu, thủ công mỹ nghệ, giày dép, may mặc, thủy hải
sản, cà phê, chè, hạt tiêu
Hiệp định này cũng tạo ra nhiều cơ hội hợp tác mới trong các lĩnh vực khoa học
công nghệ, năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục đào tạo, nông, lâm ngư nghiệp, quản
lý và khắc phục hậu quả thiên tai, khắc phục hậu quả chiến tranh; cho phép hai bên hợp
tác hiệu quả hơn trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, tăng
Các khối kinh tế và mậu dịch trên thế giới. Viện nghiên cứu thế giới. Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia 1996
Websites
1. http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=10533
2. http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?
cn_id=373866&co_id=30093
3. http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nang-tam-quan-he-Viet-Nam-EU/40223619/157/
4. http://www.mofahcm.gov.vn/en/mofa/cs_doingoai/pbld/ns04081814261967?
b_start:int=156
5. http://www.fbnc.com.vn/DetailSelect/Index/8000
12