Phát triển các loại dịch vụ logistics có khả năng cạnh tranh ở Việt Nam - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
-------***-------
ĐỀ ÁN MÔN KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Đề tài:
Phát triển các loại dịch vụ logistics có khả
năng cạnh tranh ở Việt Nam

Giảng Viên hưỡng dẫn: GS.TS Đặng Đình Đào Hà Nội T10/2008
1
LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, thuật ngữ logistics được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế như
một ngành mang lại nhiều nguồn lợi to lớn. Nhưng nhìn chung
Logistics là dịch vụ có cái tên mới mẻ đối với nhiều người Việt
Nam nhưng có một vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản
xuất - kinh doanh của một ngành và cả nền kinh tế. Logistics là
một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá
trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của
ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những
nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10%
GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn
30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc
vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về
thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả
năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính
GDP nước ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí

"logistics".
Vậy lgistics là gì? Về mặt lịch sử, thuật ngữ "logistics" là một thuật ngữ quân sự
đã có từ mấy trăm năm nay, thuật ngữ này đầu tiên được sử dụng trong quân đội và
mang nghĩa là "hậu cần" hoặc "tiếp vận". Tướng Chauncey B.Baker, tác giả cuốn
"Transportation of Troóp and Merterial" nhà sản xuất bản Hudson thành phố
Kansas có viết: "Một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu có liên quan đến việc di
chuyển và cung cấp lương thực, trang thiết bị cho quân đội được gọi là "logistics".
Trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, các lực lượng quân đội của các nước tham
gia đều sử dụng phương thức logistics rất hiệu quả, đảm bảo hậu cần đúng nơi,
đúng lúc cho lực lượng chiến đấu. Thuật ngữ này đến nay vẫn được tiếp túc sử
dụng rộng rãi trong quân đội và các ứng dụng dạng quân đội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhiều thập kỷ qua, logistics được nghiên
cứu sâu và áp dụng sang các lĩnh vực khác như sản xuất, kinh doanh. Thuật ngữ
logistics ngày nay còn được hiểu với nghĩa quản lý (Management) hệ thống phân
phối vật chất của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong xã hội. Nhưng cho đến nay
trên thế giới chưa có một định nghĩa nào đầy đủ về logistics hay hệ thống logistics.
Khái niệm về logistics được đưa ra tuỳ theo giác độ mà người ta nghiên cứu no.
Sau đây là một số khái niệm về logistics:
* Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ - 1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch,
thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ
nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ
đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.
* Theo tác giả Donald J.Bowersox - CLM Proceeding - 1987: Logistics là một
nguyên lý đơn lẻ nhằm hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm soát các
nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật chất, hỗ trợ sản
xuất và hoạt động mua hàng.
3
* Logistics được uỷ ban quản lý logistics của Mỹ định nghĩa như sau: Logistics là
quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý,kiểm soát
việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với

quân đội. Logistics được coi là việc vận chuỷân và cung cấp lương thực, thực
phẩm, trang thiết bị… đúng nơi, đúng lúc khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu.
Logistics đã giúp quân đội các nước tham chiến gặt hái được những chiến thắng.
Điển hình là quân đội hòang gia Pháp ở thế kỷ XVII – XVIII, khi đối đầu với sức
mạnh hải quân anh, thuỷ quân hoàng gia Pháp yếu kém rất nhiều, song với sự nỗ
lực lớn về công nghiệp và logistics diễn ra trong một thế kỷ, quân đội Pháp đã biết
4
cách biến những điểm yếu của mình thành sức mạnh cho phép họ đóng vai trò chủ
chốt trong cuộc chiến tranh độc lập ở Châu Mỹ, ngăn cản những hoạt động động
của Anh ở vùng đất này. Pháp trở thành thànhviên quyết định kết thúc cuộc chiến
tranh bằng hiệp ước Vecsai (1783) văn bản thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Hay thất bại chiến lược của Đức trong cuộc tấn công bằng đường biển vào nước
Anh (chiến tranh thế giới lần II) tháng 7/1940, nguyên nhân chính là do thiếu “hậu
cần” thích hợp. Ngược lại, cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào sự nỗ
lực của khâu chuẩn bị hậu cần và qui mô của các phương tiện hậu cần được triển
khai.
Logistics đã góp phần làm tăng sức mạnh cho c ác nhà quân sự giành được chiến
thắng trong chiến tranh, cho nên rất nhiều kỹ năng về logistics đã được nghiên cứu
và áp dụng đặc biệt là trong chiến tranh thế giới lần II. Xuất phát từ bản chất ưu
việt của logistics, sau khi chiến tranh thế giới lần II kết thúc, các chuyên gia
logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động
kinh tế thời hậu chiến đáp ứng nhiệm vụ thực tế là tái thiết đất nước sau chiến
tranh (đối với các nước Châu Âu) hay trợ giúp tái thiết (đối với nước Mỹ). Như
vậy logistics trong doanh nghiệp được áp dụng sau khi chiến tranh thế giới lần II
kết thúc.
Ngày nay thuật ngữ “logistics” đã được phát triển, mở rộng và được hiểu với
nghĩa là quản lý “management”. Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tuỳ thuộc giác
độ tiếp cận các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ như: Logistics kinh doanh;
phân phối vật chất; quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật phân phối hay quản lý
logistics thì đây đều là các thuật ngữ dùng để diễn tả cùng một chủ đề, đó chính là

+ Giai đoạn những năm 70 của thế kỷ XX:
Đây là thời kỳ khởi động logistics trong doanh nghiệp. Trong thời kỳ này, logistics
trước hết là nghiên cứu việc tối ưu hoá các bộ phận tách biệt (quản lý kho bãi, quản
lý hàng tồn kho, luân chuyển giao hàng…) và hợp lý hoá cơ cấu của doanh nghiệp.
Nghiên cứu hiệu quả của việc giảm các chi phí hoạt động và người lao động,
chuyển dần những hoạt động này sang cho những người chuyên chở và cung cấp
dịch vụ. Sự tìm kiếm tính liên tục trong vận hành doanh nghiệp là đặc điểm chính
của logistics sản xuất ở thời kỳ này.
+ Giai đoạn những năm 80 đến 90 của thế kỷ XX:
Giai đoạn này là giai đoạn phát triển của logistics. Đây là giai đoạn logistics hường
vào việc phối hợp các bộ phận chịu trách nhiệm lưư chuyển các luồng hàng trong
doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa các bộ phận đó. Mối quan tâm của những
người điều hành các luồng luân chuyển này tập trung vào khâu lưu thông hàng hóa.
Cụ thể tăng cường quản lý các chi phí trong lưu thông, giảm hàng lưu kho, đẩy
mạnh vận chuyển giữa các vùng sản xuất và phân phối. Dịch vụ logistics đã làm ổn
định và đảm bảo tính hiệu liên tục cua các luồng luân chuyển hàng hóa.
+ Giai đoạn những năm 90 của thế kỷ XX:
Thời kỳ logistics được phát triển cả bề sâu lẫn bề rộng, huy động toàn bộ các
nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp (nguồn lực của các đối tác) để xâu dựng hệ
thống logistics phức tạp, đa chủ hể có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc qua lại lẫn
nhau. Hệ thống này cho phép thực hiện nhiều giao dịch dẫn đến sự hoà nhập của
các chủ thể vào cùng một tiến trình hoạt động của doanh nghiệp.
Tóm lại, theo Jacques Colin thì sự phát triển của logistics bắt đầu từ tác nghiệp
(khoa học chi tiết) đến liên kết (khoa học tổng hợp) được khẳng định trong lĩnh
vực quân sự cũng như trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu các giai đoạn phát triển của logistics, uỷ ban kinh tế và xã hội Châu
Á – Thái bình dương (Economic and Social Commission for Asia and Pacific –
ESCAP) của liên hiệp quốc lại chia thành 3 giai đoạn như sau:
6
+ Giai on 1: Phõn phi vt cht

Dịch vụ logistics theo qui định tại điều 133. Luật thơng mại năm 2005
đợc phân loại nh sau:
1.1 Các dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container.
- Dịch vụ kho bãi và lu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãI container và xử lý nguyên liệu, thiết bị.
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá.
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lu kho và quản lý
7
thông tin liên quan đến vận chuyển và lu kho hàng hoá trong suốt cả chuỗi logisitcs.
Hoạt động xử lý lại hàng hoá khách hàng trả lại, hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá
hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó. Hoạt động cho thêu và thuê mua
container.
1.2 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải.
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa.
- Dịch vụ vận tải hàng không.
- Dịch vụ vận tải đờng sắt.
- Dịch vụ vận tải đờng bộ.
- Dịch vụ vận tải đờng ống.
1.3 Các dịch vụ logistics lên quan khác, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.
- Dịch vụ bu chính.
- Dịch vụ thơng mại bán buôn.
- Dịch vụ thơng mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lu kho, thu
gom, tập hợp, phân loại hàng hoá, phân phối lại giao hàng.
- Dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
2. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các loại dịch vụ logistics
2.1 Giá phí

cũng đắt đỏ (kẹt đường, kẹt cầu, thời gian vận chuyển đường bộ cao và
chi phí vận chuyển cũng cao), đã làm chi phí logistics của Việt Nam cao
so với nhiều nước, trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp và giao
thương hàng hóa.
Theo ông Narin Phol, ở các nước phát triển, chi phí về logistics rất
thấp, như ở Mỹ chi phí logistic bằng 7,7% GDP, Singapore là 8%, Nhật là
11%, Indonesia và Malaysia là 13%, Trung Quốc 18%, trong khi Việt
Nam lên tới 25% GPD.
Theo các chuyên gia, xuất-nhập khẩu cao thể hiện tăng trưởng kinh tế
Việt Nam trong thời gian qua. Mặt khác, Việt Nam cũng đang trở thành
thị trường bán lẻ lớn. Do đó, vấn đề phát triển hạ tầng, chuỗi cung ứng,
logistics là điều cấp bách.
Theo ông Michael de Jong-Douglas, với những yếu kém trên thì Việt
Nam sẽ trở thành điểm đầu tư tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực logistics.
Vì vậy ở Việt Nam tuy giá phí các loại dịch vụ logistics còn cao song
lại có nhiều tiềm năng để phát triển và giảm chi phí dịch vụ logistics để có
thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
2.2 Chất lượng dịch vụ
Dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình. Khách hàng nhận được sản phẩm
này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận. Đặc
điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của
những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng. Bạn phải thuê phòng ở
trong khách sạn mới biết chất lượng phục vụ của các nhan viên dọn phòng
hay giặt ủi quần áo. Bạn chỉ biết về chất lượng đào tạo hay chất lượng tư vấn
của đơn vị đào tạo, tư vấn bên ngoài sau khi họ tiến hành hay hoàn tất hợp
đồng với bạn.
Và có một số yêu tố hay tiêu chí quan trọng cho chất lượng của dịch vụ
mà bạn cung cấp có thể được xác định và xây dựng để quản lý. Đó là:
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status