Mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ cách mạng 1945 đến nay) - Pdf 15

Mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ cách
mạng 1945 đến nay)

Nói tới Việt Nam là chúng ta nói tới một dân tộc so bốn ngàn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước. Có biết bao nhiêu là sử sách đã ghi lại
những chiến công hào hùng, vẻ vang của quân và dân ta qua các cuộc
đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh truyền thống đấu tranh chống giặc giữ nước thì dân tộc ta còn
có một nền nghệ thuật phát triển khá sớm, ngay từ thời tiền sử. Chúng
ta đã tìm thấy những dấu vết đầu tiên của nghệ thuật tạo hình đó là
những hình chạm khắc trên đá ở các hang; các đồ dùng sinh hoạt, cảnh
săn bắn trải qua những bước ngoặt thăng trầm của đất nước nền nghệ
thuật nước nhà cũng chịu ảnh hưởng không ngừng cho tới nay. Biến
đổi nổi bật nhất là mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại (từ cách mạng 1945
đến nay).
+ Những ngày đầu cách mạng và kháng chiến chống Pháp (1945 -
1954).
Cách mạng tháng 8/1945 thành công đưa đất nước vào kỷ nguyên Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc. Đồng thời cũng mở ra một trang sử mới cho
mỹ thuật Việt Nam.
Từ những hạt nhân là một số hoạ sỹ hoạt động bí mật trong những " tổ
chức văn hoá cứu quốc thời tiền khởi nghĩa ". Giờ đây cả giới mỹ thuật
bị cuốn hút vào thể loại vẽ tranh cổ động biểu thị ý chí toàn dân quyết
tâm bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc với nhiều chất liệu khác nhau
những tác phẩm này đã hướng mỹ thuật Việt Nam vào con đường mới,
với nhân sinh quan cách mạng. Một số hoạ sỹ còn phân vân với những
níu kéo của thẩm mỹ cũ, thì Hồ Chí Minh sau khi xem triển lãm đã góp
ý chân tình " các chú vẽ nhiều thiếu nữ khoả thân, vẽ nhiều hoa, cái ấy
cũng đẹp, nhưng đẹp trên cao, sao các chú không vẽ cái đẹp dưới đất
chung quanh chúng ta ".
Đồng thời tháng 10/1945 trường Cao đẳng mỹ thuật được mở ra nhưng

lập do hoạ sỹ Tô Ngọc Vân làm Hiệu trưởng, đã đào tạo ra một thế hệ
hoạ sỹ đầu tiên cho kháng chiến, những cuộc triển lãm lớn với nhiều
tác phẩm nghệ thuật giá trị của họ như tác phẩm " Bác Hồ với các cháu
thiếu nhi Trung - Nam - Bắc của hoạ sỹ Diệp Minh Châu " là bức tranh
nổi tiếng mà ông vẽ bằng máu của chính mình trên lụa, là một hoạ sỹ -
một nhà điêu khắc tài ba, ông sinh năm 1919 tại Nhơn Hạnh - Bến Tre.
Tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương 1945. Tiêu biểu
cho thế hệ các hoạ sỹ miền Nam đi theo kháng chiến. Ngoài ra còn có
tác phẩm " Du kích tập bắn " (Nguyễn Đỗ Cung) cũng là tác phẩm nổi
tiếng ở thời kỳ này, " Hành quân qua đèo " (Nguyễn Như Hậu) những
tác phẩm này đã cổ vũ lớn lao, động viên kịp thời quân dân xông lên
diệt giặc (mang giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử).
Vào giai đoạn cuối của kháng chiến chống Pháp, các hoạ sỹ tích cực
thâm nhập vào cả hai trận địa phản phong và phản đế, có người đã đổi
cả chính cuộc đời nghệ thuật như hoạ sỹ - liệt sỹ (Tô Ngọc Vân) sinh
1906 - 1954 tại Hà Nội. Tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông
Dương 1931, là Hiệu trưởng đầu tiên của trường mỹ thuật kháng chiến
mở ở chiến khu Việt Bắc. Là một hoạ sỹ nổi tiếng của mỹ thuật Việt
Nam hiện đại, trước cách mạng vẽ tranh các thiếu nữ thị thành đài các
(thiếu nữ bên hoa huệ, 2 thiếu nữ ) sau cách mạng tháng 8 và kháng
chiến ông chuyển sang vẽ tranh về chiến sỹ vệ quốc đoàn, những ông
già nghệ thuật chất phác, những cô thôn nữ người dân tộc thuỳ mị ký
hoạ là một thể loại nổi tiếng của ông với tác phẩm: Đốt đuốc đi học, chị
cốt cán, con nghé quả thực ngoài ra còn có một số tác phẩm nổi tiếng
của một số tác giả cùng thời: cái bát (Sỹ Ngọc), vệ quốc quân canh đêm
(Nguyễn Tự Nghiêm)
+ Nền mỹ thuật Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng
chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
Giữa năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hoà bình lập
lại trong cả nước giới mỹ thuật có điều kiện tập trung về thủ đô Hà Nội,

bao thì đế quốc Mỹ lại nhảy vào phá hoại miền Bắc (1964), nhân dân
miền Bắc lại bắt đầu một cuộc kháng chiến gian khổ để đấu tranh bảo
vệ nền độc lập - tự do của mình. Tuy nhiên, các hoạ sỹ, và nhà điêu
khắc lại thích ứng hoàn cảnh mới này rất nhanh, một mặt lên đường
đến những nơi nóng bỏng nhất để ghi chép, sáng tác, không ít trong số
đó đã đi mà không bao giờ trở lại.
Hiện thực chiến đấu sản xuất của quân dân đã đi vào tranh tượng, vừa
động viên mọi người vượt lên mọi thử thách của chiến tranh, vừa tranh
thủ sự đồng tình của thế giới. Bên cạnh các thể loại: sơn mài, sơn dầu,
lụa thì đồ hoạ đặc biệt phát triển, các tranh khắc gỗ " Cồn cỏ anh hùng
" (Quang Thụ), " Thanh niên xung phong ", " Chuyển tải đêm " (Giáng
Hương) và một số tranh cổ động gây xúc động lòng người: " Có gì
quý hơn độc lập tự do " (Phan Thông), " Giữ lấy quê hương ", " Giữ lấy
tuổi trẻ " (Đường Ngọc Cảnh)
Ngoài ra nghệ thuật điêu khắc cũng được khởi sắc, thành tựu được thừa
nhận ở triển lãm 10 năm điêu khắc hiện đại Việt Nam (1963 - 1973):
tượng tròn, chạm nổi, đắp nổi. Điều lý thú là chính trong chiến tranh
tượng đài lại phát triển ngay ở nơi rực lửa như: nam ngạn chiến thắng
(Thanh Hoá 1967), tượng các anh hùng liệt sỹ " Lý Tự Trọng, Kim
Đồng " dựng ở thủ đô khích lệ tuổi trẻ cùng nhân dân cả nước kiên
cường, quyết chiến, quyết thắng, có nhiều cuộc triển lãm đã diễn ra đặc
biệt là cuộc triển lãm toàn quân 1974 thật sôi động.
Nền mỹ thuật Việt Nam đã phát triển rất mạnh, dẫn chứng đó là những
thành tựu của mỹ thuật cách mạng Việt Nam được dự triển lãm ở nước
ngoài như: 1956 tại 3 nước XHCN Châu á (Trung Quốc, Triều Tiên,
Ma Cao), 1959 tại 8 nước XHCN Châu Âu. Triển lãm mỹ thuật Việt
Nam luôn giành được cảm tình của nhân dân thế giới.
Trong sự phát triển của mỹ thuật trên đây có cả chiều rộng và chiều
sâu, chưa bao giờ có một đội ngũ tạo hình đông đảo đi vào mọi mặt của
cuộc sống sôi động. Từ đó lại dẩy lên phong trào mỹ thuật không

động và cũng có thể là vũ khí chiến đấu

Và hình tượng người phụ nữ chiếm tỷ lệ khá lên trong các tác phẩm
thời kỳ này, họ vừa đảm việc nhà, lại vừa đảm việc nước, ở thời kỳ này
họ không còn là những tiểu thư đài các, cũng không phải là những lao
động vặt vãnh nữa mà thực sự làm chủ gia đình, xã hội, tham gia sản
xuất cả nông và công nghiệp như ở các tác phẩm " Nữ dân quân vùng
biển " (Trần Văn Cẩn), " Sau giờ trực chiến " (Nguyễn Phạm Chánh).
Họ cũng thường được dựng tượng để ca ngợi như tượng " Võ Thị Sáu,
Tác phẩm nắm đất miền Nam " là một tác phẩm tượng thạch cao:
Người mẹ trao cho anh bộ đội, Người con trước lúc lên đường, Một
nắm đất quê hương, dáng người mẹ đầy tình thương trìu mến nhìn con,
dáng người gầy gò, chắc phải chịu nhiều đau khổ, mất mát
Nhưng có lẽ tập trung hơn cả vẫn là hình tượng vị lãnh tụ vĩ đại của
dân tộc đó là hình tượng " Bác Hồ " hầu như cuốn hút tất cả các nghệ
sỹ tạo hình, vào tranh tượng với rất nhiều chất liệu khác nhau, dưới mỗi
một con mắt của mỗi hoạ sỹ, vẻ đẹp của Bác lại càng đẹp hơn ở một
khía cạnh nào đó. Hình tượng Bác là hình tượng của dân tộc Việt Nam
kiên cường, bất khuất, không đếm hết được hết số tác phẩm vẽ tượng
về Bác.
+ Bên cạnh sự đổi thay, phát triển nhìn chung của mỹ thuật Việt Nam
thời kỳ kháng chiến chống Pháp - Mỹ thì ở miền Nam (1954 - 1975)
nền mỹ thuật lại bị rơi vào sự phức tạp:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ - ne - vơ được ký kết.
Đất nước ta tạm chia làm hai miền: miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ
nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính
quyền tay sai để hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước. Năm 1954 trong làn sóng di cư, miền Nam có thêm
những hoạ sỹ " có tay nghề từ Bắc vào " họ ý định xây dựng một nền
mỹ thuật trên " một quốc gia tự do " và xây dựng một nền nghệ thuật

mỹ thuật vẫn đi lên, chính điều này đã thúc đẩy động lực cho những
hoạ sỹ tiến bộ với sự giác ngộ cao đã đứng hẳn về phía cách mạng. lên
chiến khu vừa cầm bút sáng tác, vừa cầm súng chiến đấu như anh Cổ
Tấn Long Châu, Nguyễn Văn Kinh, Trọng Phương và cũng theo tiếng
gọi cách mạng không ít những hoạ sỹ dám quên mình, không sợ nguy
hiểm cho tính mạng đã hăng hái vào những nơi ác liệt nhất để ghi
nhanh những cảnh hiếm thấy trong lịch sử, để kịp thời động viên khích
lệ ý chí, lòng quyết tâm cao để dành thắng lợi, ghi lại những giây phút
huy hoàng, căng thẳng
Đáng tiếc thay đã có 50 hoạ sỹ đã hy sinh trong khi đang sáng tác trên
trận địa những tác phảm được các hoạ sỹ ghi lại sau này đã trở thành
những tư liệu rất quý giá để vừa động viên quân dân ta, bên cạnh vạch
trần rõ bộ mặt độc ác của bọn cướp nước. Mặc dù trong hoàn cảnh
thiếu thốn, khó khăn, ác liệt ấy, các hoạ sỹ vẫn đam mê với sự nghiệp
sáng tác của mình và đã có hàng vạn tác phẩm có giá trị rất cao đã ra
đời không chỉ phổ biến trong nước mà cả nước ngoài như tác phẩm "
Nhớ một chiều Tây Bắc, Bác Hồ với thiếu nhi ba miền Trung - Nam -
Bộ, chị Võ Thị Sáu, Chú bé liên lạc " và cũng vì điều kiện trên trận
tuyến thiếu thốn chất liệu, hầu như hoạ sỹ đều ký hoạ cho nên ký hoạ
được đưa lên thành một thể loại tác phẩm nghệ thuật đặc biệt của Việt
Nam, là bản trường ca hùng tráng của giai cấp lịch sử hào hùng, của
một số tác giả: Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Cổ Tấn Long những
tác phẩm của họ đã kịp thời cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân
ta trong chống kẻ thù góp phần giải phóng miền Nam. Từ sau chiến
thắng 1972 đã tổ chức được các triển lãm mỹ thuât ở Lộc Ninh. 1973
đến 1975 càng ngày càng nhiều với quy mô lớn hơn, để rồi đến ngày
toàn thắng ở câu lạc bộ lao động vào tháng 5/1975 một cuộc triển lãm
mừng chiến công đại thắng của dân tộc diễn ra trong không khí tưng
bừng, phấn khởi đã lan khắp cả nước, gây xao động của toàn dân, toàn
quân ta.

Xuân Phái) đây là tác phẩm được vẽ bằng sơn dầu, diễn tả một góc nhỏ
phố cổ của Hà Nội, là đề tài luôn được Bùi Xuân Phái say mê khám
phá, sáng tác. Những cảnh phố vắng với những đường nét xô lệch, mái
tường rêu phong, những đầu hồi và mái ngói đen sạm màu thời gian
luôn xuất hiện trong tranh của ông.
Tranh của hoạ sỹ gợi cho mỗi người đi xa luôn khát khao, cảm nhận
được nỗi thiếu vắng Hà Nội một cách sâu sắc. Đằng sau những hình
ảnh ngõ Phất Lộc, cây đa cổ thụ ở ngõ Gạch hay ngõ Hàng Mắm
người xem tìm thấy vẻ đẹp của thủ đô Hà Nội qua những thăng trầm
của lịch sử. Vì thế, người yêu nghệ thuật đã đặt tên gọi cho những tác
phẩm về phố cổ Hà Nội của ông là " Phố phái ". Ngoài Bùi Xuân Phái
còn rất nhiều hoạ sỹ khác nữa, với các tác phẩm mang nội dung cuộc
sống hàng ngày bình dị: Điện về bản (Hà Cắm), Bộ đội về bản Mèo
(Trần Lưu Hậu), Ngày vui có Bác (Xuman)
Sau 5 năm đất nước bước vào kỷ nguyên mới, triển lãm mỹ thuật toàn
quốc năm 1980 thực sự là một cuộc hội tụ lớn của nghệ thuật tạo hình
cả nước, là một bước tiến nhảy vọt, bộc lộ tiềm năng sáng tác mới hứa
hẹn bước phát triển mạnh mẽ trong những năm tới - nhất là về mặt
ngôn ngữ nghệ thuật. Tiêu biểu một số tác phẩm như: Tượng Bác Hồ
bên suối Lênin (Diệp Minh Châu), Mẹ chiến sỹ (Hoàng Trầm), Đảo tiền
tiêu (Tạ Quang Bạo)
Ngày nay vẫn không ít nhiều tác giả vẫn đang rất say sưa với đề tài
cách mạng, tình cảm, tình quân dân, tuy cuộc kháng chiến đã qua
những ký ức trong một số người hoạ sỹ lão thành vẫn còn như ngày
nào. Họ một phần phục hồi lại ảnh cũ, một phần họ vẽ theo sự hồi
tưởng, ký ức của chính mình như tác phẩm: Bà má Mậu Thân là tác
phẩm với chất liệu phấn màu, bố cục chỉ có bà mẹ với người lính trẻ.
Nhưng gây cho người độc một cảm giác ấm áp, chứa chan tình cảm, và
trên khuôn mặt của bà má Mậu Thân này có vẻ gì đó trầm tư, chịu
nhiều đau khổ, có thể người phụ nữ này đã khóc rất nhiều, nhưng

đẹp, cân đối. Thể hiện thật tinh tế, giản dị nhưng rất nghệ thuật

Giờ đây các hoạ sỹ đều xâm nhập, sâu sát với xã hội, làng xóm để lấy
tình cảm hứng sáng tác tranh, có những tác phẩm rất mộc mạc chân quê
như tác phẩm: Vợ chồng người hàng nước cũng với bố cục gồm hai
người, xung quanh họ là những đồ dùng thô sơ, giản dị, cốc nước, ấm
không khí thật ấm cúng khối mảng rõ ràng, được sáng tác 1996
Tác phẩm " Ngày mùa ở Đông Anh Hà Nội " là tác phẩm ca ngợi về
nông nghiệp, chất liệu bằng màu dầu, tác giả dựng lên một bố cục hài
hoà cân đối, những đống rơm cao ngất, một người phụ nữ đang làm
việc một con trâu và một người con trai đang gánh cũng chỉ hai người
nhưng nhìn vào có cái gì đó rất đậm không khí miền quê: yên tĩnh,
thanh bình đây cũng là một đề tài được rất nhiều hoạ sỹ thành thị ưa
thích, họ đã có những chuyến đi xâm nhập ở nông thôn hàng tháng có
khi cả đời để tìm động lực sáng tác. Ngoài ra còn có tác phẩm bằng lụa
của Ngô Minh Cầu cũng đề tài những con người nơi thôn quê cùng con
trâu.

Nhìn chung các hoạ sỹ thời nay đã tìm cho mình một con đường riêng,
thể hiện với một thái độ tình cảm trong toàn tác phẩm, chính vì vậy mỗi
tác phẩm ra đời là một niềm vui lớn với họ, họ coi tác phẩm như "đ ứa
con " của họ, họ nâng niu trân trọng. Bước sang thập kỷ 90, công cuộc
đổi mới đã có kết quả rõ rệt, đất nước khởi sắc hẳn lên, mỹ thuật cũng
đạt được những thành tựu rự rỡ. Các ngành đều có hoạt động sôi nổi
nền hội hoạ có những ưu thế thuận lợi về cách hoạt động và thu hút
được nhiều hướng đi vào đời sống: tượng đài, đài tưởng niệm ở các
trung tâm của các thành phố lớn, xuất hiện nhiều công trình kiến trúc
có quy mô lớn bằng chất liệu vững, nhiều cuộc triễn lãm đã cùng diễn
ra trong một lúc, triển lãm hội hoạ ngày nay đã trở thành sinh hoạt cập
nhật của xã hội, hàng loạt các phòng tranh cứ mọc lên khắp nơi, nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status