Đề tài “ Chiến lược marketing của hãng điện thoại di động Nokia ” doc - Pdf 15

GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
LỜI CẢM ƠN 3
TRANG NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA MARKETING 5
1.1.MARKETING LÀ GÌ? 5
1.2.SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MARKETING TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH 16
1.3.CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA HÃNG
NOKIA 23
2.1.SƠ LƯỢC VỀ HÃNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG NOKIA 23
2.2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY NOKIA 35
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT 51
PHỤ LỤC 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đang hoạt động trong
một nền kinh tế thị trường hết sức sôi động với nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm tàng
không ít những nguy cơ. Một trong những nguy cơ đó là các doanh nghiệp đang
phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh khốc liệt cùng những biến hoá khôn
lường và các mối quan hệ vô cùng phức tạp của nó. Điều đó đòi hỏi các doanh
nghiệp ngày càng phải tập trung vào các hoạt động marketing hơn nữa. Và như
chúng ta đã biết hoạt động marketing là vô cùng quan trọng đối với bất kì một công
ty nào. Nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của một công ty. Nokia là
một tập đoàn viễn thông quốc tế, và đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật trên

MARKETING
1.1. MARKETING LÀ GÌ?
1.1.1. Xuất xứ thuật ngữ marketing
Theo một số tài liệu thì thuật ngữ Marketing xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào
đầu thế kỷ 20 và được đưa vào từ điển Tiếng Anh năm 1944. Xét về mặt cấu trúc,
thuật ngữ marketing gồm gốc "market" có nghĩa là " cái chợ" hay "thị trường" và
hậu tố "ing" diễn đạt sự vận động và quá trình đang diễn ra của thị trường.
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
Market với nghĩa hẹp là "cái chợ" là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán,
là địa điểm để trao đổi hàng hoá thường hiểu là hàng tiêu dùng thông thường.
Market với nghĩa rộng là "thị trường" là nơi thực hiện khâu lưu thông hàng hoá,
không tách rời của quá trình tái sản xuất (bao gồm sản xuất, lưu thông và tiêu
dùng), là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá nói chung.
Hậu tố "-ing" vốn dùng để chỉ các sự vật đang hoạt động tiếp diễn diễn đạt
2 ý nghĩa chính:
- Nội dung cụ thể đang vận động của thị trường.
- Quá trình vận động trên thị trường đang diễn ra và sẽ còn tiếp tục.
Quá trình này diễn ra liên tục, nó có bắt đầu nhưng không có kết thúc. Có bắt
đầu là vì Marketing đi từ nghiên cứu thị trường: Doanh nghiệp chỉ hành động khi
biết rõ nhu cầu thị trường. Không có kết thúc, vì Marketing không dừng lại ngay cả
sau khi bán hàng và cung cấp các dịch vụ hậu mãi, Marketing tiếp tục gợi mở, phát
hiện và thoả mãn nhu cầu ngày một tốt hơn.
Hiện nay, một số tài liệu dịch Marketing sang tiếng Việt thành : "Tiếp thị",
"Làm thị trường", "Nghệ thuật thương mại", "Nghệ thuật bán hàng", "Chiến lược
thương mại" Từ nào cũng dịch đúng nhưng chỉ phản ánh vẻn vẹn một phạm vi
hẹp của Marketing và không thể coi là thuật ngữ chuẩn tương đương của
Marketing trong tiếng Việt. Hiện nay, thống nhất không dịch Marketing sang tiếng
Việt. Vậy Marketing nên được hiểu cụ thể như thế nào?
Marketing theo khái niệm của I. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu về

WALKMAN của SONY; phim hoạt hình WALT DISNEY, xe máy HONDA, ô tô
TOYOTA đều là các mặt hàng đáp ứng được lòng mong đợi của khách hàng, đem
lại cho họ những tiện ích mới cùng với sự phấn khởi và hãnh diện.
Về vấn đề này, một trong số các lý luận hàng đầu về quản lý là Peter F,
Drucker (một nhà nghiên cứu quản lý hàng đầu người Mỹ) đã phát biểu: "Mục đích
của Marketing là làm cho những nỗ lực nhằm tiêu thụ sản phẩm trở nên không cần
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
thiết. Mục đích của nó là nhận thức và hiểu biết khách hàng tốt đến mức khiến cho
hàng hoá hay dịch vụ cung ứng sẽ thích hợp với khách hàng và sẽ tự bán được".
Điều đó không có nghĩa rằng những nỗ lực nhằm tiêu thụ và kích thích tiêu thụ
sẽ không còn ý nghĩa. Thực ra nó chỉ muốn khẳng định. Marketing không chỉ bó
hẹp trong phạm vi bán hàng, quảng cáo và khuyến mãi. Vấn đề là ở chỗ, chúng sẽ
trở thành một bộ phận của hệ thống Marketing có quy mô lớn hơn, tức là tổng
hợp những công cụ Marketing được kết hợp một cách hài hoà để đạt tới một sự
ảnh hưởng tốt nhất đến thị trường.
Vì Marketing là một môn khoa học về thị trừờng nên khái niệm này cũng phát
triển cùng các giai đoạn kinh tế khác nhau, với các dạng thị trường khác nhau do
vậy cũng có nhiều định nghĩa về Marketing. Để làm sáng tỏ hơn khái niệm chúng
ta sẽ xem xét một số định nghĩa về Marketing.
1.1.2. Các định nghĩa về marketing
Hiện nay có rất nhiều tài liệu viết về Marketing đang được sử dụng rộng rãi do
đó có rất nhiều định nghĩa về Marketing. Theo con số thống kê không chính thức
có khoảng vài nghìn định nghĩa Marketing, tuy nhiên các định nghĩa đó không
khác nhau lắm và điều lý thú là chưa có định nghĩa nào được coi là duy nhất đúng,
bởi lẽ các tác giả đều có quan điểm riêng của mình, và còn vì Marketing theo đúng
phương châm của nó, luôn vận động và phát triển cho phù hợp với tình hình mới
nên định nghĩa của Marketing cũng biến đổi theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội Sau đây, chúng ta sẽ xem xét số định nghĩa Marketing tiêu biểu để tham khảo
và rút ra các kết luận cần thiết.

chỉ là một phần trong Marketing Mix, hay là Marketing Hỗn hợp. Từ đó bác bỏ
quan điểm cho rằng Marketing là hoạt động bán hàng hay phân phối hàng hoá.
3-Định nghĩa của Viện Marketing Anh: "Marketing là quá trình tổ chức và quản
lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người
tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản xuất và đưa hàng
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi
nhuận như dự kiến"
Định nghĩa này đề cập tương đối toàn diện về tìm nhu cầu, phát hiện và đánh
giá lượng cầu, sau đó thì xác định quy mô sản xuất, rồi phân phối, bán hàng hay
đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng sao cho hiệu quả nhất để thu
được lợi nhuận như dự kiến. Viện đã khái quát Marketing lên thành chiến lược từ
nghiên cứu thị trường đến khi thu lợi nhuận như dự kiến.
4- Định nghĩa của giáo sư Philip Kotler, một tác giả nổi tiếng trên thế giới về
Marketing: “Marketing là một hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu và
mong muốn của khách hàng bằng phương thức trao đổi”.
Nói khác đi, "Marketing là một quá trình quản lý và xã hội qua đó các tổ chức
và cá nhân đạt được những cái họ có nhu cầu và mong muốn thông qua việc tạo ra
và trao đổi các sản phẩm có giá trị với người khác." Đây là một trong những định
nghĩa đơn giản nhất và dễ hiểu nhất về Marketing, mà vẫn nêu rõ được nội dung
cơ bản của nó là hướng tới việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Nhấn mạnh
đến vấn đề cốt lõi của Marketing thoả mãn nhu cầu thế nào là tốt nhất để mang lại
lợi nhuận như mong muốn. Tóm lại:
- Marketing là hoạt động hướng tới thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng ngày
một tốt hơn.
- Marketing không phải là một hiện tượng mà là một quá trình xuất phát từ khâu
nghiên cứu thị trường, tìm kiếm nhu cầu đến khi tìm ra sản phẩm thoả mãn nhu
cầu đó và sau đó quá trình này được lặp lại. Ở đây nhấn mạnh rằng quá trình này
được lặp lại, tức là tiếp tục nghiên cứu thị trường, nhu cầu khách hàng để thoả mãn

mức giá theo đúng phương thức giao dịch. Chính vì vậy chúng ta thấy bản chất thứ
nhất của Marketing là:
 Marketing có phạm vi hoạt động rất rộng.
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
Marketing liên quan đến mọi hoạt động, mọi bộ phận trong doanh nghiệp. Hơn
nữa, hoạt động Marketing bắt đầu từ khi nghiên cứu thị trường, cho đến khi tiêu
thụ sản phẩm, thu tiền hàng những Marketing chưa dừng lại ở đó mà hoạt động
Marketing vẫn tiếp tục gợi mở, phát hiện ra các nhu cầu mới và tiếp tục thoả mãn
các nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Một mặt, Marketing nghiên cứu thận trọng và toàn diện nhu cầu cũng như thị
hiếu của người tiêu dùng, từ đó định hướng sản xuất để thoả mãn nhu cầu đó. Với
ý thức đó, doanh nghiệp cố gắng sản xuất và tạo ra cái mà thị trường cần, chứ
không chỉ dựa trên khả năng sản xuất của mình. Vậy bản chất thứ hai của
Marketing là:
 Marketing chỉ cung cấp cái mà thị trường cần chứ không cung cấp cái mà
doanh nghiệp sẵn có.
Marketing chỉ cung cấp những hàng hoá và dịch vụ, ý tưởng mà thị trường cần
chứ không cung cấp cái mà mình sẵn có, hay có khả năng cung cấp. Bản chất này
thể hiện tính hướng ngoại của Marketing, điều này có nghĩa rằng Marketing tạo ra
cái mà doanh nghiệp có thể bán được trên thị trường. Do điểm bắt đầu trong
Marketing không phải là sản phẩm mà là nhu cầu, trong cuộc cạnh tranh ngày càng
khốc liệt, ai hiểu thị trường rõ hơn và nắm được thị trường và hành động theo thị
trường thì doanh nghiệp đó thành công.
Trong một nghiên cứu vào đầu những năm 90 về các công ty thành công nhất
như Hewlett Packard, Procter & Gamble, McDonald's, IBM, người ta nhận thấy
rằng các công ty này đều có chung các nguyên lý Marketing cơ bản đó là: hiểu rõ
khách hàng, xác định chính xác thị trường và có khả năng thúc đẩy nhân viên
sản xuất và cung ứng các hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao cho khách hàng.
Để thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, hãng IBM đã thu thập các phiếu góp ý

đã không nhận ra được nhu cầu của chính mình đối với việc xử lý thông tin nhanh
hơn, chính xác hơn.
Bán cái thị trường cần có nghĩa là mục đích của Marketing là tìm ra nhu cầu của
khách hàng và thoả mãn nhu cầu đó để thu được lợi nhuận. Marketing luôn đặt
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu và tìm mọi cách để đáp ứng được tối đa nhu
cầu đó để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận lâu dài. Bản chất của Marketing là:
 Marketing theo đuổi lợi nhuận tối ưu
Lợi nhuận tối ưu không có nghĩa là lợi nhuận tối đa do công ty tìm kiếm bằng
mọi cách. Lợi nhuận tối ưu thu được là kết quả của hoạt động có hiệu quả của
công ty dựa trên cơ sở nghiên cứu môi trường bên trong và môi trường bên ngoài
để tìm kiếm, tận dụng, phát huy tối đa các thế mạnh, các cơ hội kinh doanh và hạn
chế tối thiểu các điểm yếu, các hiểm hoạ.
Nói khác đi, lợi nhuận tối đa là lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được bằng mọi,
không đếm xỉa đến sự hài lòng thoả maãan của người tiêu dùng, cách bất chấp các
mục tiêu khác trong khi lợi nhuận tối ưu là lợi nhuận tối đa đạt được trong khi có
tính đến các mục tiêu khác. Lợi nhuận tối ưu là lợi nhuận cụ thể đạt được trên cơ
sở khai thác tốt nhất điều kiện chủ quan và khách quan, trong một bối cảnh cụ thể,
trong một thời gian nhất định. Điều kiện chủ quan bao gồm các yếu tố doanh
nghiệp có thể kiểm soát được như tài chính, nhân sự, công nghệ, văn hoá doanh
nghiệp. Điều kiện khách quan bao gồm các yếu tố doanh nghiệp không kiểm soát
được như kinh tế, chính trị pháp luật, văn hoá xã hội, cạnh tranh, Lợi nhuận tối
ưu đạt được khi doanh nghiệp hạn chế thấp nhất các điểm yếu, rủi ro; khai thác tốt
nhất các cơ hội, thế mạnh.
"Một phương châm trong Marketing là đồng tiền đến đồng tiền lại đi nhưng
khách hàng thì ở lại". Doanh nghiệp không vì lợi nhuận tối đa trước mắt mà bỏ qua
lợi ích lâu dài trong tương lai. Doanh nghiệp thu lợi nhuận tối ưu thông qua việc áp
dụng giá bán tối ưu trong những điều kiện cụ thể của thị trường và bằng cách làm
cho người tiêu dùng cảm thấy hài lòng và thoả mãn qua việc tiêu dùng sản phẩm

tiêu thụ được sản phẩm từ trước khi tiến hành đầu tư sản xuất, đã nắm vai trò quan
trọng hơn.
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MARKETING TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Có thể thấy, công việc quan trọng nhất của marketing là tạo ra các giá trị cho
khách hàng, thực hiện các cam kết, đem lại sự hài lòng và tạo ra lòng trung thành
của khách hàng. Marketing được dùng như “một người đóng thế” cho khách hàng,
đưa ra hướng phát triển sản phẩm và có chức năng thể hiện những gì khách hàng
muốn và có nhu cầu. Quan trọng hơn, marketing được xem như là “tiếng nói của
khách hàng” và bao gồm các hoạt động triển khai và thực thi các quá trình để nắm
bắt nhu cầu của khách hàng. Nhờ đó, mà công ty có thể cung cấp sản phẩm/dịch vụ
cho khách hàng với chất lượng tốt nhất.
Ngày nay, khách hàng ngày càng có quyền lực hơn bao giờ hết. Họ hoàn toàn có
thể kiểm soát việc sản phẩm/dịch vụ được tiêu thụ ở đâu, vào lúc nào và như thế
nào. Điều này cũng có nghĩa là khách hàng sẽ có nhiều sự lựa chọn cho mình. Họ
sẽ ít trung thành với một nhãn hiệu hơn và thích tự tìm hiểu thông tin từ những
nghiên cứu của chính mình, bạn bè và các chuyên gia về sản phẩm/dịch vụ mà họ
muốn mua. Sự thay đổi này đã dẫn đến sự đổi mới trong các hoạt động kinh doanh
và marketing: thay đổi trong việc thực thi chiến lược marketing hỗn hợp, trong
cách truyền tải thông điệp, trong cách tiếp cận với khách hàng. Thêm vào đó, việc
thương mại hóa hàng hóa, sự xuất hiện của Internet đã góp phần không nhỏ vào
quá trình biến đổi thế giới, điều này vừa là cơ hội v ừa là thách thức không nhỏ với
tất cả các công ty, và thách thức lớn nhất đối với họ là phát triển sản phẩm.
Tuy nhiên, khả năng phát triển sản phẩm/dịch vụ thông qua việc đưa ra các ý tưởng
mới mẻ, đồng thời lại phù hợp với nhu cầu của khách hàng, là một nhiệm vụ không
dễ dàng. Rất ít các hoạt động kinh doanh sau khi đưa ra được ý tưởng đã đi đúng
hướng và hơn nữa nhiều sản phẩm mới ra đời đã bị “chết yểu”. Những suy nghĩ
của khách hàng rất quan trọng đối với sự thành công của sản phẩm. Một sản phẩm

Marketing ngày nay đóng một vai trò trung tâm trong việc dịch chuyển thông tin
khách hàng thành các sản phẩm/dich vụ mới và sau đó định vị những sản phẩm này
trên thị trường. Các sản phẩm/dịch vụ mới là câu trả lời của các công ty trước sự
thay đổi sở thích của khách hàng và cũng là động lực của sự cạnh tranh. Vì nhu cầu
của khách hàng thay đổi, nên các công ty phải đổi mới để làm hài lòng và đáp ứng
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
sự thay đổi đó. Nhiệm vụ của marketing là xác định nhu cầu của khách hàng, nên
marketing phải đóng vai trò thiết lập và lãnh đạo tiến trình đổi mới. Một số vị giám
đốc marketing (Chief marketing officer – CMO) đã nhận ra vai trò mới của
marketing và đã hành động theo hướng này. Trong một Hội nghị cấp cao dành cho
các CMO mới diễn ra gần đây cũng cho thấy rõ điều này trong các báo cáo nghiên
cứu hàng năm của CMO. Các nghiên cứu này cho thấy các CMO hiểu rằng họ có
trách nhiệm tìm kiếm sự đổi mới, chứ không chỉ là bán được nhiều sản phẩm/dịch
vụ. Nhiều nghiên cứu khác nhau cũng chỉ ra rằng trong nhiều công ty, nơi truyền
tải và phối hợp các hoạt động nghiên cứu R&D và hoạt động marketing đã thúc
đẩy tiến trình thực hiện các sản phẩm mới. Đồng thời trong các nghiên cứu này
cũng cho thấy sự hội nhập của marketing với các nhóm chức năng khác như nghiên
cứu và phát triển, trở thành một trong số những nhân tố quan trọng nhất tác động
đến sự thành công của một sản phẩm mới. Có lúc, vai trò của marketing đối với sự
phát triển sản phẩm mới được xếp lên hàng đầu. Một nghiên cứu được tiến hành
năm 1999 tại 114 công ty công nghệ cao ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng marketing
đóng một vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng tích cực đến việc đưa ra một sản
phẩm mới và cũng như sự phát triển của công ty.
Bạn bắt đầu từ đâu nếu như bạn muốn thực hiện nhiệm vụ đổi mới? Marketing sẽ
giúp bạn chỉ ra được những xu hướng mới và sau đó nhanh chóng trở thành một
đòn bẩy, biến chúng thành các cơ hội. Nếu bạn quyết định đi tiếp trên con đường
đổi mới, bạn cần các thước đo marketing để liên kết tốc độ và sự đổi mới, để chỉ ra
sự ảnh hưởng của marketing. Các bộ phận marketing nên có ít nhất sáu thước đo
trên bảng điều hành xung quanh sự đổi mới, để thấy tốc độ của sự đổi mới và so

nhọn sắc bén nhất mà doanh nghiệp sử dụng để tấn công vào thị trường
với ưu thế hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh. Vậy Marketing – mix là gì?
Marketing hỗn hợp (marketing mix) là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh
nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu. Thuật ngữ
lần lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1953 khi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
hội Marketing Hoa Kỳ lấy ý tưởng công thức thêm một bước nữa và đặt ra thuật
ngữ Marketing hỗn hợp. Một nhà tiếp thị nổi tiếng, E. Jerome McCarthy, đề nghị
phân loại theo 4P năm 1960, mà nay đã được sử dụng rộng rãi. Khái niệm 4P được
giải thích phần lớn trong sách giáo khoa về marketing và trong các lớp học.
4P là một khái niệm trong marketing, đó là:
• Product (Sản phẩm): Một đối tượng hữu hình hoặc một dịch vụ vô hình đó
là khối lượng sản xuất hoặc sản xuất trên quy mô lớn với một khối lượng cụ thể
của đơn vị. Sản phẩm vô hình là dịch vụ như ngành du lịch và các ngành công
nghiệp khách sạn hoặc mã số các sản phẩm như nạp điện thoại di động và tín dụng.
Ví dụ điển hình của một khối lượng sản xuất vật thể hữu hình là những chiếc xe có
động cơ và dao cạo dùng một lần. Một khối lượng chưa rõ ràng nhưng phổ biến
dịch vụ sản xuất là một hệ thống điều hành máy tính.
• Price (Giá cả): Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm
hay dịch vụ của nhà cung cấp. Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị
phần, cạnh tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của
khách hàng với sản phẩm. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không
những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà
cung cấp sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi
nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh.
Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán,
• Place (Phân phối): đại diện cho các địa điểm mà một sản phẩm có thể được
mua. Nó thường được gọi là các kênh phân phối. Nó có thể bao gồm bất kỳ cửa
hàng vật lý cũng như các cửa hàng ảo trên Internet. Việc cung cấp sản phẩm đến

• Nhãn hiệu
 Giá
• Thay đổi giá, điều kiện, thời hạn thanh toán
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
• Áp dụng chính sách hớt bọt (skimming)
• Áp dụng chính sách thâm nhập (penetration)
 Truyền thông
• Thay đổi nội dung quảng cáo hoặc khuyến mại
• Thay đổi định vị cho thương hiệu (tái định vị)
• Thay đổi phương thức truyền thông
• Thay đổi cách tiếp cận
 Kênh phân phối
• Thay đổi phương thức giao hàng hoăc phân phối
• Thay đổi dịch vụ
• Thay đổi kênh phân phối
 Phần triển khai thêm đối với sản phẩm dịch vụ.
 Con người.
• Bổ sung nhân lực có đủ kiến thức, kinh nghiệm cần thiết mà công
việc đòi hỏi.
• Huấn luyện bổ sung để nâng cao chuyên môn về kiến thức sản phẩm
khi có sản phẩm mới
• Chuẩn hoá dịch vụ khách hàng
• Đánh giá năng lực và hiệu quả công việc thông qua nhận xét của
khách hàng về mức độ hài lòng
 Qui trình.
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
• Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO … nhằm chuẩn hoá qui
trình và tăng hiệu quả.

phẩm ở hơn 150 quốc gia trên toàn cầu và đạt doanh số 51,1 tỷ euro với lợi tức 8 tỷ
USD năm 2007. Nokia niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Helsinki
năm 1915 - hiện điều hành 15 nhà máy sản xuất trên 9 quốc gia, duy trì các cơ sở
nghiên cứu và phát triển ở 12 nước.
Tập đoàn Nokia được thành lập năm 1966 bởi 3 công ty của Phần Lan là: Nokia
Company (Nhà máy sản xuất bột gỗ làm giấy – thành lập năm 1865), Finnish
Rubber Works (nhà máy sản xuất ủng cao su, lốp, các sản phẩm cao su công
nghiệp và tiêu dùng khác – thành lập năm 1898) và Finnish Cable Works (nhà
cung cấp dây cáp cho các mạng truyền tải điện, điện tín và điện thoại – thành lập
năm 1912).
Trụ sở Nokia tai Phần Lan Toàn cảnh nhà xưởng sản xuất
ĐTDĐ
Lớp DHKT5A Page
GVHD: ThS. Trần Thị Huế Chi Môn Marketing Căn Bản
Ba quốc gia hàng đầu về nhân sự là: Phần Lan (22.535), Mỹ (7.298), Trung
Quốc (5.202).
Nokia được điều hành bởi Hội đồng quản trị tập đoàn do chủ tịch HĐQT &
Tổng Giám Đốc đứng đầu .Chủ tịch HĐQT & Tổng Giám Đốc Nokia là Jorma
Ollila 52 tuổi (gia nhập Nokia năm 1985) và Chủ tịch công ty là Pekka Ala-Pietil,
46 tuổi (gia nhập Nokia năm 1984).
Chủ tịch tập đoàn Nokia
Jorma Ollila
Jorma Ollila được sinh ra ở Seinäjoki, Phần Lan, trong tháng 8 năm 1950. Ông
đã kiếm được bằng thạc sĩ về khoa học chính trị từ Đại học Helsinki năm 1976, mộ
bậc thầy thứ hai trong kinh tế của Trường Kinh tế London năm 1978, và thứ ba của
một bậc thầy trong kỹ thuật của Trường Đại học Công nghệ Helsinki năm 1981.
Theo chủ tịch và giám đốc điều hành của Nokia, Ollila đã dẫn chuyển đổi của
Nokia thành một công ty đặt điểm chuẩn cho truyền thông di động.
Nokia bao gồm hai tập đoàn kinh doanh: Nokia Mobile Phones và Nokia
Networks. Ngoài ra, công ty còn có đơn vị Nokia Venture Organization riêng biệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status