i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án tốt nghiệp
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nha Trang, Ban
Giám đốc Viện Công Nghệ Sinh Học và Môi Trường, Phòng Đào tạo Đại học và
sau Đại học niềm kính trọng, sự tự hào được học tập tại trường trong những năm
qua.
Sự biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Minh Trí đã tận tình hướng dẫn và động
viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
Đặc biệt xin ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo trong Bộ môn
Công nghệ sinh học – Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường – Trường Đại học
Nha Trang, Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học đã nhiệt tình và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đồ án.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập vừa qua.
Chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Bảo Hiếu
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ CELLULOSE 3
1.1.1. Giới thiệu về cellulose 3
1.1.2. Tìm hiểu về cây sắn và bã sắn 4
2.2.1. Phương pháp phân lập 25
2.2.2. Phương pháp giữ giống 26
2.2.3. Một số phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của vi khuẩn 26
2.2.3.1. Phương pháp quan sát đặc điểm khuẩn lạc 26
2.2.3.2. Phương pháp làm tiêu bản cố định 27
2.2.3.3. Phương pháp nhuộm Gram 27
2.2.4. Phương pháp định tính khả năng sinh enzyme cellulase 28
2.2.5. Phương pháp thu nhận dịch chiết enzyme thô 28
2.2.6. Phương pháp xác định hoạt độ enzyme cellulase 28
2.2.6.1. Phương pháp đục lỗ thạch 28
2.2.6.2.Phương pháp xác định hàm lượng đường khử 28
2.2.6.3. Phương pháp tính hoạt độ hệ enzyme cellulase 29
2.2.7. Bố trí thí nghiệm 31
2.2.7.1. Thí nghiệm xác định các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme
cellulase 31
2.2.7.2. Thí nghiệm xác định các điều kiện nuôi cấy thích hợp sinh enzyme
cellulase tốt nhất 33
2.2.7.3. Ứng dụng enzyme cellulase của chủng Bacillus tuyển chọn vào việc
thủy phân cellulose có trong bã sắn 35
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
iv
3.1. XÂY DỰNG ĐƯỜNG CHUẨN THEO PHƯƠNG PHÁP MILLER 37
3.2. TUYỂN LỰA CHỦNG VI KHUẨN BACILLUS SPP SINH ENZYME
CELLULASE TỐT NHẤT 38
3.2.1. Phân lập vi khuẩn Bacillus từ thực phẩm lên men Natto 38
3.2.2. Dựa vào vòng thủy phân CMC 1% tuyển lựa chủng Bacillus sinh
enzyme cellulase 38
3.2.3. Đặc điểm hình thái của 3 chủng B1, B3, B7 39
3.2.3.1. Hình thái khuẩn lạc 39
32
Hình 2.4: Sơ đồ các điều kiện nuôi cấy Bacillus thích hợp để sinh tổng hợp enzyme
cellulase 34
Hình 2.5: Ứng dụng enzyme cellulase vào việc thủy phân cellulose trong bã sắn 36
Hình 3.1: Đồ thị đường chuẩn glucose theo phương pháp Miller 38
Hình 3.2: Cấy ria chủng Bacillus trên đĩa petri 38
Hình 3.3: Vòng thủy phân CMC 1% của các chủng Bacillus 38
Hình 3.4: Tiêu bản nhuộm Gram của chủng B1 40
Hình 3.5: Tiêu bản nhuộm Gram của chủng B3 40
Hình 3.6: Tiêu bản nhuộm Gram của chủng B7 41
Hình 3.7: Vòng thủy phân cellulose của 3 chủng B1, B3, B7 42
Hình 3.8: Biểu diễn hoạt độ enzyme cellulase của 3 chủng B1, B3, B7 43
Hình 3.9: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt tính enzyme cellulase 44
Hình 3.10: pH ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme cellulase 46
Hình 3.11: pH ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp enzyme cellulase. 47
Hình 3.12: Thời gian ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp enzyme cellulase 49
Hình 3.13: Ủ bã sắn với enzyme cellulase 50
Hình 3.14: Lượng Glucose sinh ra trong quá trình thủy phân cellulose của enzyme
cellulase trên 1g môi trường bã sắn khô 51
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần trong bã sắn 4
Bảng 1.2: Một số vi sinh vật sản xuất cellulase 12
Bảng 2.1: Xây dựng đường chuẩn glucose 29
Bảng 2.2: Xác định hoạt độ cellulase 30
Bảng 3.1: Đường kính vòng thủy phân của các chủng Bacillus 39
Bảng 3.2: Đường kính vòng thủy phân của 3 chủng B1, B3, B7 42
Bảng 3.3: Lượng Glucose (%) sinh ra khi thủy phân cellulose trong 100g bã sắn 52
các chất phụ gia khác như cám gạo, rỉ đường tăng thành phần dinh dưỡng. Nhờ
2
đó, ta chuyển phế liệu thành một sản phẩm có ích trong chăn nuôi sẽ giảm thiểu nạn
ô nhiễm môi trường.
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
‘‘Tuyển chọn chủng vi khuẩn Bacillus sinh enzyme Cellulase”
Nội dung
- Tuyển lựa chủng Bacillus sinh enzyme cellulase.
- Xác định một số điều kiện ảnh hưởng đến khả năng thủy phân của enzyme
thu được.
- Sơ bộ đánh giá khả năng sinh enzyme của chủng vi khuẩn Bacillus phân
lập được.
Đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn là 3 tháng không tránh khỏi hạn
chế và thiếu sót. Tôi rất mong nhận được các ý kiến bổ ích của những ai quan
tâm đến đề tài để hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
3
PHẦN I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ CELLULOSE
1.1.1. Giới thiệu về cellulose
Cellulose là thành phần cơ bản của thực vật. Ngoài ra người ta thường thấy
chúng có nhiều ở tế bào của một số loài vi sinh vật. Ở tế bào thực vật và một số tế
bào vi sinh vật, chúng tồn tại ở dạng sợi.
Cellulose không có trong tế bào động vật. Chúng là một homopolimer mạch
thẳng, được cấu tạo bởi các β-Dglucose-pyranose. Các thành phần này liên kết với
nhau bởi liên kết glucose, liên kết các glucose này với nhau bằng liên kết α-1,4-
Bảng 1.1: Thành phần trong bã sắn
Thành phần Hàm lượng (%)
Protein 1,82 – 2,03
Chất béo 0,09 – 0,2
Tro 1,61 – 2,38
DNF (%DM) 31,2
Tinh bột 60,84 – 65,9
Cacbohydrat 72,19 – 79,51
Độ ẩm 80,16 – 85,5
1.1.3. Tình hình tận dụng bã sắn nguyên liệu
Bã sắn nguyên liệu chứa độ ẩm cao và một số chất như tinh bột, chất béo rất
dễ bị vi khuẩn phân hủy gây ra mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường. Từ Bảng 1.1
trong thành phần bã sắn tươi còn chứa một số chất dinh dưỡng do đó ta có thể tận
dụng để biến phế liệu thành một sản phẩm khác có ích hơn phục vụ cho những mục
đích nhất định.
5
Ở Việt Nam
- Làm thức ăn cho động vật nhai lại.
- Sản xuất thức ăn chăn nuôi có giá trị cao.
- Sản xuất cồn sinh học.
Thế giới
- Tạo chất kết dính cho sản xuất diêm.
- Dùng làm phân bón.
- Dùng làm thức ăn gia súc.
- Sản xuất etanol sinh học.
- Vấn đề nghiên cứu nhiên liệu sinh học thay thế cho xăng cũng được nhiều
nước trên thế giới quan tâm. Thái Lan là nước sản xuất thành công etanol sinh học
từ bã sắn, thành công này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nước này phải nhập 2/3
nguồn năng lượng từ nước ngoài.
Năm 1986, Schwann đã gọi chất làm tiêu hóa thịt này là pepsin.
Từ năm 1800, người ta cũng đã cho rằng, trong ruột có một enzyme phân giải
protein khác. Sau đó Kuhne đặt tên là trypsin.
Protease thực vật được sử dụng khá sớm, từ năm 1700 người dân ở các đảo
Thái Bình Dương đã biết sử dụng đu đủ để làm mềm thịt.
Nửa đầu thế kỷ XIX
Người ta đã tách được một số chế phẩm từ nhiều nguồn nguyên liệu khác có
tác dụng thủy phân các chất tương ứng, và bước đầu tách được các chất tạo nên quá
trình lên men.
Mở đầu là công trình nghiên cứu của Kiecgiop (người Nga, 1814), nước chiết
từ hạt lúa mạch nảy mầm có tác dụng chuyển hóa tinh bột thành đường từ 40
0
C –
60
0
C.
Năm 1833, Payen và Pesso (Pháp) thêm cồn vào dịch chiết này, thu được kết
tủa có khả năng phân giải tinh bột thành đường, đặt tên là diastate.
Người ta cũng đã tách được nhiều enzyme khác ở dạng kết tủa.
7
Nửa cuối thế kỷ XIX
Đã tinh sạch được một số enzyme và nghiên cứu một số tính chất cơ bản của
enzyme.
Trong thời kỳ này đã có những thông báo về cơ chế tác dụng của enzyme:
Wurtz (1880) đã chỉ ra rằng, papain tạo thành hợp chất không tan với fibrin trước
khi thủy phân nó.
Nửa cuối thế kỷ XX:
Đã phát hiện được CoEnzyme (Harde và Young, 1906); nghiên cứu động học
phản ứng enzyme; kết tinh được enzyme và xác định được bản chất hóa học của
màng.
Phương hướng nghiên cứu công nghệ enzyme hiện nay và trong
tương lai
Nghiên cứu, áp dụng các kỹ thuật, công nghệ mới hiên đại để:
Sàng lọc, tuyển chọn hoặc tạo nguồn nguyên liệu giàu ezyme mong muốn.
Thu nhận chế phẩm enzyme có hiệu suất, hoạt độ và độ bền cao, giá thành
ngày càng thấp.
Nghiên cứu liên quan giữa cấu trúc và chức năng của phân tử, cơ chế điều hòa
của phân tử và hệ thống enzyme.
Phát triển nghiên cứu tổng thể bộ protein/enzyme, sinh học enzyme trong tổng
thể của hệ thống sống: sự phân bố, quan hệ tương tác, quá trình trao đổi, tác dụng,
chức năng sinh lý, các dạng tồn tại của chúng trong hệ thống sống.
Mô hình hóa phân tử, hệ thống enzyme trong tế bào và cơ thể sống.
Cải biến định hướng phân tử enzyme, thiết kế các phân tử enzyme mới với
những đặc tính mong muốn và có hiệu quả sử dụng cao trong thực tế.
Phát triển nghiên cứu proteome góp phần giải thích cơ chế các quá trình bệnh
lý ở mức độ phân tử.
Mở rộng phạm vi ứng dụng enzyme trong thực tế.
Nghiên cứu tạo các chip enzyme.
9
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến vận tốc phản ứng enzyme [9].
- Ảnh hưởng của nồng độ enzyme.
- Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất.
- Ảnh hưởng của các chất kiềm hãm
- Ảnh hưởng của các ion kim loại.
- Ảnh hưởng của các anion.
- Ảnh hưởng của các chất hoạt hóa khác.
- Ảnh hưởng của pH đến phản ứng enzyme.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ.
Cellulase có bản chất là protein được cấu tạo từ các đơn vị là acid amin, các
acid amin được nối với nhau bởi liên kết peptid-CO-NH. Ngoài ra, trong cấu trúc
còn có những thành phần phụ khác. Cấu trúc hoàn chỉnh của các loại enzyme nhóm
Endo-glucanase và Exo-glucanase giống nhau trong hệ cellulase của nấm sợi, gồm
một trung tâm xúc tác và một đuôi tận cùng, phần đuôi này xúc phát từ trung tâm
xúc tác và được gắn thêm vùng glycosin hóa, cuối đuôi là vùng gắn kết với
cellulose. Vùng này có vai trò tạo liên kết với cellulose tinh thể. Trong quá trình
phân hủy cellulose có sự tương quang mạnh giữa khả năng xúc tác phân giải
cellulose của các enzyme và ái lực của enzyme này đối với cellulose. Hơn nữa, hoạt
tính của cellulase dựa vào tinh thể cellulose và khả năng kết hợp của CBD
(cellulose binding domain) với cellulose. Sự có mặt của CBD sẽ hỗ trợ cho enzyme
cellulase thực hiện việc cắt đứt nhiều lần liên kết trong cellulose tinh thể. Vùng gắn
kết với cellullose có cấu tạo khác với liên kết thông thường của protein và việc thay
đổi chiều dài của vùng glycosil hóa có ảnh hưởng đến hoạt tính xúc tác của enzyme.
Hình 1.2: Cấu trúc không gian của ezyme cellulase.
11
1.2.3.2. Tính chất của enzyme cellulase
Cellulase thủy phân cellulose trong tự nhiên ở các dẫn xuất như
carboxymethyl cellulase (CMC) hoặc hydroxyethyl cellulose (HEC). Cellulase cắt
liên kết β-1,4-glucidase trong cellulose, lichenin và các β-D-glucan của ngũ cốc.
Độ bền nhiệt và tính đặc hiệu cơ chất có thể khác nhau. Cellulase hoạt động ở
các pH từ 3 – 7, nhưng pH tối thích trong khoảng pH = 4 – 5. Nhiệt độ tối ưu từ 40
– 50
0
C. Hoạt tính của cellulase bị phá hủy hoàn toàn ở 80
0
C trong 10 – 15 phút.
Cellulase bị ức chế bởi các sản phẩm phản ứng của nó như glucose, cellobiose
cũng tham gia vào quá trình phân giải này. Bảng 1.2 là một số loài vi sinh vật được
các nhà nghiên cứu kỹ nhất.
Bảng 1.2: Một số vi sinh vật sản xuất cellulase.
Nấm sợi Xạ khuẩn Vi khuẩn
Aspergillus niger
A. oryzae
A. terreus
A. syndovii
A. flavus
Fusarium culmorum
Fusarium oxysporum
Mucor pusilus
P. Notatum
Penicillium spp
Trichoderma lignorum
Trichoderma reesei
Trichoderma viride
Trichoderma konongi
Actinomycea ureus
A. cellulose
A. diastaticus
A. roseus
A. griseus
A. melamocylas
A. coelicolor
A. candidus
A. chromogenes
A. hygroscopicus
hóa.
Chế phẩm cellulase thường dùng để:
Tăng chất lượng thực phẩm và thức ăn gia súc.
Tăng hiệu suất trích ly các chất từ nguyên liệu thực vật.
Ứng dụng của cellulase trong chế biến thực phẩm là dùng nó để tăng độ hấp
thu, nâng cao phẩm chất về vị và làm mềm các loại thực phẩm đặc biệt trong thức
ăn cho trẻ em.
Dùng cellulase để xử lý các loại rau quả, bắp cải, hành, cà rốt, khoai tây, táo ,
các loại chè, tảo biển và lương thực như gạo.
Trong sản xuất bia
Dưới tác dụng của cellulase hay phức hệ citase trong đó có cellulase, thành tế
bào của hạt đại mạch bị phá hủy tạo điều kiện tốt cho tác động của protease và quá
trình đường hóa.
Trong sản xuất agar
Cellulose làm tăng chất lượng của agar hơn là với phương pháp dùng acid phá
vỡ thành tế bào.
Trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy
Bổ sung endoglucanase trong công đoạn nghiền bột giấy sẽ làm thay đổi nhẹ
cấu hình sợi cellulase, tăng khả năng nghiền và tiết kiệm 20% năng lượng cho quá
trình nghiền cơ học. Trước khi nghiền hóa học, gỗ được xử lý với endoglucanase và
hỗn hợp các enzyme hemicellulase, pectinase sẽ làm tăng khả năng khuếch tán hóa
chất vào phía trong gỗ và hiệu quả khử lignin.
Trong công nghiệp sản xuất dung môi hữu cơ
Bổ sung cellulase trong giai đoạn đường hóa của quá trình sản xuất ethanol
giúp phá hủy thành tế bào cellulose, giúp tăng lượng đường và đẩy nhanh tốc độ
phản ứng của tinh bột và amylase dẫn đến hiệu suất thu hồi rượu tăng.
14
Trong công nghệ sử lý rác thải và phân bón vi sinh
Rác thải là nguồn chính gây nên ô nhiễm môi trường dẫn đến mất cân bằng
Bacillus là chủng có khả năng sản sinh cellulase ngoại bào với số lượng lớn, được
quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả đặc biệt là: B. sublitis, B. polymxa, B. cereus,
Bacillus sp. KMS-330 [14].
Do cellulase có nhiều ứng dụng nên có rất nhiều nghiên cứu về nó: nghiên cứu
về các tính chất hóa lý như xác định khối lượng phân tử, xác định nhiệt độ tối ưu,
xác định pH tối ưu…
1.2.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về vi sinh vật
phân hủy cellulose [4]. Những nghiên cứu này chủ yếu đề cập vấn đề phân lập các
chủng vi sinh vật và đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả
năng sinh tổng hợp cellulase như: tuyển chọn, nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi
trường lên khả năng sinh tổng hợp cellulase và tinh sạch, đánh giá tính chất hóa lý
của cellulase từ chủng Penicillium sp. DTQ – HK1[5]. Nghiên cứu phân loại và xác
định hoạt tính cellulase của chủng xạ khuẩn ưu nhiệt…
1.3. TỔNG QUAN VỀ BACILLUS
1.3.1. Đại cương về Bacillus
Vi khuẩn Bacillus là những vi khuẩn Gram dương. Thuộc chi Bacillaceae, có
nội bào tử hình ovan có khuynh hướng phình ra ở một đầu. Bacillus được phân biệt
với các loài vi khuẩn sinh nội bào tử khác bằng hình dạng tế bào hình que, sinh
trưởng dưới điều kiện hiếu khí hoặc kị khí không bắt buộc. Tế bào Bacillus có thể
đơn hoặc chuỗi và chuyển động bằng tiêm mao. Nhờ khả năng sinh bào tử nên vi
khuẩn Bacillus có thể tồn tại trong thời gian rất dài dưới các điều kiện khác nhau và
rất phổ biến trong tự nhiên nên có thể phân lập từ nhiều nguồn khác nhau như đất,
nước, trầm tích biển, thức ăn nhưng chủ yếu là từ đất nơi mà đóng vai trò quan
trọng trong chu kì C và N [18].
Tất cả các loài Bacillus đều có khả năng dị dưỡng và hoại sinh nhờ sử dụng
các hợp chất hữu cơ đa dạng như đường, acid amin, acid hữu cơ Một vài loài có
thể lên men carbonhydrat tạo thành glycerol và butandiol; một vài loài khác thì cần
16
C – 50
0
C, tối đa khoảng 60
0
C. Là loại ưa
nhiệt cao. Bào tử của Bacillus sublitis cũng chịu được nhiệt khá cao.
Bào tử hình bầu dục, kích thước 0,5 – 0,9 µm. Phân bố theo nguyên tắc chặt
chẽ, lệch tâm, gần tâm nhưng không chính tâm. Chúng phát tán rộng rãi. Chúng là
một thể nghỉ sinh ra vào cuối thời kì sinh trưởng phát triển của vi khuẩn. Chúng
17
không có khả năng trao đổi chất nên có khả năng sống vài chục năm, thậm chí đến
200 – 300 năm [2].
Vi khuẩn Bacillus được xem là vi khuẩn điển hình vì có những đặc tính tiêu
biểu không gây hại nên đây là một trong những vi khuẩn được sử dụng để sản xuất
enzyme và các hóa chất đặc biệt như: amylase, protease, inosine, ribosides, acid
amin, [23]. ngoài ra nhờ khả năng bám dính proton lên bề mặt mà Bacillus sublitis
có thể loại bỏ được chất thải phóng xạ như Thorium(IV) và Plutonium(IV) [16].
Đặc biệt Bacillus sublitis được sử dụng trong lên men Natto của Nhật – một thực
phẩm chức năng rất bổ dưỡng cho sức khỏe [21].
Bacillus megaterium
Mengaterium có nghĩa là “con thú lớn” [20]. Tế bào cả nó khá lớn khoảng gấp
hơn 2 lần tế bào Bacllus sublitis, chiều ngang (1,2 – 1,5) µm có thể đến 2µm, dài từ
3 – 12 µm, ở các ống nuôi già thì tế bào ngắn hơn, tròn hơn, đôi khi hình thoi với
đầu hẹp lại. Tế bào chứa nhiều hạt nhỏ và chất dinh dưỡng dự trữ (hạt mỡ,
glycogen) [8].
Bào tử lớn hình ovan hay bầu dục, kích thước 1,5 × (0,7 – 1) µm, bào tử lớn
nhất có đường kính từ 1,2 – 1,5 µm [20]. Chúng nằm lệch tâm thường theo chiều
ngang hoặc xiên của tế bào.
Khuẩn lạc tròn đều không thùy, không nếp, mép tròn đều hơi lượn sóng, trông
này có độc tính, gây ngộ độc thực phẩm [20].
Tế bào Bacillus cereus dày. Kích thước(1 – 1,5) × (3 – 5) µm, có khi dài hơn,
chúng đứng riêng rẽ hay xếp chuỗi. Bào tử hình bầu dục, kích thước 0,9 × (1,2 –
1,5) µm nằm lệch tâm, tế bào chất của nó chưa các hạt và không bào. Khuẩn lạc của
Bacillus sereus phẳng, hơi lõm, trắng đục, mép lồi lõm [1].
Bacillus pumilus
Bào tử phát tán rộng khắp mọi nơi, thường B. pumilus có mặt trong đất nhiều
hơn B. Subtilis.
Khuẩn lạc nhỏ, xung quanh viền mở lan không ranh giới. Tế bào của nó gần
giống như tế bào B. Sublitis.
Bacillus polymyxa
Bacillus polymixa có khuẩn lạc vô màu, phẳng hoặc lồi, trơn, nhầy, lan dần ra
xung quanh, mép đôi khi có thùy.
Tế bào có kích thước (0,6 - 1) × (2 – 7) µm, đứng riêng rẽ hay xếp đôi, chuỗi
ngắn. Khi hình thành bào tử tế bào sẽ phồng lên giống quả chanh [1].
19
Bào tử hình bầu dục kéo dài, trên bề mặt cắt ngang như hình sao. Chúng phát
tán rộng, kích thước dài khoảng (1,7 – 2,6) µm, nằm giữa tế bào [20]. Loại vi khuẩn
này có khả năng làm giảm pectin và polysaccarit trong cây. Chúng còn có khả năng
cố định đạm.
Chúng thường sinh trưởng phát triển trên thực phẩm bị hỏng. Vì vậy người ta
thường phân lập chúng từ thực phẩm. Môi trường kem và những môi trường có tính
acid yếu phù hợp với loại vi khuẩn này. Chúng là nguồn để sản xuất kháng sinh
polymyxin. Đây là loại vi khuẩn rất phổ biến và có ích, chủ yếu là cho công nghiệp
dược.
Bacillus brevis
Người ta tìm thấy và phân lập chúng từ đất và thực phẩm.
Khuẩn lạc có màu trắng, đôi khi có sắc vàng, lồi hoặc phẳng lấp lánh, mép
răng cưa giống dạng mỡ đặc.