BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Trần Thụy NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CHỦNG VI
KHUẨN BACILLUS PHÂN LẬP TỪ ĐẤT
VƯỜN SINH PROTEASE KIỀMChuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số : 60 42 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. LƯƠNG ĐỨC PHẨM Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
Ngày nay với các hiểu biết của mình về vi sinh vật con người đã sử dụng chúng
vào trong các lĩnh vực sản xuất khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, y học...
để phục vụ cho đời sống của con người. Ta biết rằng trong quá trình sống của thế
giới sinh vật luôn xảy ra các phản ứng hóa sinh để chuyển hóa vật chất. Các phản
ứng này luôn gắn chặt với sự có mặt của enzim với hiệu suất xúc t
ác cực kì lớn so
với các chất vô cơ và hữu cơ khác và có tính đặc hiệu cao. Do đó các chế phẩm
enzim thường được sử dụng rộng rãi trong y học, trong công nghiệp, sản xuất thực
phẩm và trong chăn nuôi... Trong đó protease là nhóm enzim được sử dụng rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp. Người ta có thể thu enzim protease từ nhiều
nguồn khác nhau như từ động vật, thực vật và vi sinh vật. Song trong cơ thể động
vật và thực vật quá trình tổng hợp e
nzim thường gắn liền với yêu cầu sống của cơ
thể vì vậy muốn thu được enzim cần phải phá bỏ các tổ chức đó. Nguyên liệu động
vật để sản xuất enzim thường phải tươi lấy ngay sao khi động vật vừa bị giết chết
và bảo quản ở -20
0
C, thời gian thu hoạch dài làm cho việc sử dụng động vật và
thực vật để sản xuất enzim là không kinh tế và không thể đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao về enzim. Trong khi đó các vi sinh vật đặc biệt là vi khuẩn có chứa
rất nhiều loại enzim có hoạt tính cao. Chúng lại có khã năng chuyển hóa các chất
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vi khuẩn Bacillus
1.1.1. Đặc điểm chung
Bacillus phân bố rộng rãi trong tự nhiên, trong đất, nước, không khí do chúng
có khả năng hình thành bào tử và sống hiếu khí tùy tiện. Phần lớn các chủng thuộc
các loài của giống này đều có khả năng sinh ra nhiều - amylase và protease kiềm,
có một số chủng sinh ra xenlulase, giống này không sinh ra lipase.
Bacillus là vi khuẩn Gram dương
Hình dạng: hình que có kích thước khác nhau (0,5-2,5)x(1,2-10)m.
Bacillus có chùm tiêm mao giúp chúng có khả năng di động.
Dinh dưỡng
: Là vi khuẩn dị dưỡng hóa năng, hoại sinh thu năng lượng nhờ
oxi hóa các hợp chất hữu cơ
Chúng sống hiếu khí hay hiếu khí tùy tiện.
Bacillus có khả năng sinh bào tử. Thông thường bào tử được tạo ra khi tế
bào đã trãi qua giai đoạn phát triển mạnh nhất, hay do cạn kiệt chất dinh
dưỡng. Mỗi tế bào dinh dưỡng sinh ra một bào tử. Khi bào tử trưởng thành
tế bào dinh dưỡng tự phâ
n giải, bào tử được giải phóng ra khỏi tế bào mẹ.
Bào tử có khả năng chịu nhiệt, tia tử ngoại, phóng xạ và nhiều độc tố, vì
chúng có khả năng tồn tại ở trạng thái bào tử trong nhiều năm. Bào tử của vi
gọi là trực khuẩn cỏ khô.
Hình dạng: có dạng hì
nh que, ngắn và nhỏ, kích thước 0,6 x (3-5) m.
Bacillus subtilis là vi khuẩn gram dương, đôi khi các tế bào nối lại với nhau tạo
thành chuổi dài, ngắn khác nhau hoặc các tế bào đứng riêng rẽ.
Khuẩn lạc khô, không màu hoặc màu xám trắng, hoặc tạo ra lớp màng
mịn, lan trên bề mặt thạch, có mép nhăn hoặc mép lồi lõm nhiều hay ít, bám
chặt vào môi trường thạch.
Bacillus subtilis có lớp màng nhày (giáp mạc), được cấu tạo chủ yếu từ
polypeptit chủ yếu là axit polyglutamic. Việc hình t
hành màng nhày giúp vi
khuẩn có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt nhờ màng nhày có khả năng
dự trữ thức ăn và bảo vệ vi khuẩn tránh bị tổn thương khi khô hạn. Màng nhày
có thể quan sát được khi nhuộm tiêu bản: qua kính hiển vi ta có thể nhìn thấy
màng nhày của vi khuẩn Bacillus subtilis là không màu, trong suốt, tế bào của vi
khuẩn bắt màu đỏ trên nền tiêu bản xa
nh hoặc đen.
Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của Bacillus subtilis là 36
0
C –
50
0
C, tối đa khoảng 60
0
C, là loại ưa nhiệt cao. Bào tử của Bacillus subtilis cũng
chịu được nhiệt khá cao.
Bào tử có hình bầu dục, kích thước 0,6m – 0,9m. Phân bố không theo
nguyên tắc chặt chẽ nào, lệch tâm, gần tâm nhưng không chính tâm. Chúng phát
ngang hoặc xiên của tế bào.[4] Khuẩn lạc tròn đều, không thùy, không nếp, mép tròn đều hoặc hơi lượn
sóng, lồi nhẵn, nhưng thường có vòng viền quanh đồng tâm trên bề mặt, màu
trắng sữa hay đục.
Sinh trưởng trên môi trường dinh dưỡng đơn giản không cần thêm bất kì
một yếu tố sinh trưởng nào.
Bacillus megaterium cũng sản sinh ra các enzim tương tự như Bacillus
subtilis nên cũng được ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp.
1.1.1.3. Bacillus mensentericus
Bacillus mensentericus rất giống Bacillus subtilis. Thường có trong đất,
hạt m
ì và ngũ cốc và đặc biệt là trên khoai tây và cỏ khô.
Hình dạng tế bào hình que mảnh, dài ngắn khác nhau (3-10)x(0,5-
0,6)m. Đứng riêng rẽ hoặc xếp thành chuổi dài.
Khuẩn lạc ăn sâu và bám chặt vào môi trường thạch, nhăn nhúm, khô
không mọc lan ra môi trường thường có màu màu xám nhạt hoặc trắng hơi vàng
kem, vàng nâu, hồng hoặc đen.[4]
Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của Bacillus
mensentericus là 36 - 45
0
C tối đa là 50 – 55
0
C, ở pH từ 4,5 – 5 thì nó ngừng
phát triển.
Bào tử của Bacillus mensentericus thường có hình bầu dục và dài
khoảng 0,5 – 0,9 m, nắm ở vị trí bất kì trong tế bào, tế bào thường không phình
to khi mang bào tử.
Bacillus mensentericus có hoạt tính enzim amylase và protease cao hơn
Khuẩn lạc của Bacillus polymyxa không màu, phẳng hoặc lồi, trơn,
nhày, lan dần ra xung quanh, mép đôi khi có thùy.[18]
Bào tử hình bầu dục kéo dài, trên bề mặt cắt ngang như hình sao. Chúng
phát tán rộng, kích thước dài khoảng ( 1,7 – 2,6) m, nằm giữa tế bào.
Loại vi khuẩn nà
y làm giảm pectin và polysaccarit trong cây. Chúng còn
có khả năng cố định đạm. Chúng thường sinh trưởng và phát triển trên thực vật đang bị hỏng. Vì
vậy, người ta thường phân lập chúng từ thực phẩm. Môi trường kem và những
môi trường có tính axit yếu phù hợp với loại vi khuẩn này. Chúng là nguồn để
sản xuất thuốc kháng sinh polimixin. Đây là một loại vi khuẩn rất phổ biến và
có ích, chủ yếu là cho công nghiệp dược.
1.1.1.7. Bacillus brevis
Người ta thường tìm thấy và phân lập chúng từ đất và thực phẩm.
Bacillus brevis là trực k
huẩn kích thước ( 0,7 -1) x (3 -5 )m. Chúng
thường đứng riêng rẽ. Bào tử hình bầu dục, có kích cỡ (0,8 – 1)m, nằm cuối tế
bào làm cho đầu tế bào hơi bị phồng to lên.[4]
Khuẩn lạc thường màu trắng, đôi khi có sắc vàng, lồi hoặc phẳng lấp
lánh, mép răng cưa giống dạng mỡ đặc.
Về nhu cầu dinh dưỡng, Bacillus brevis yêu cầu hỗn hợp axit amin cho
sinh trưởng và phát triển, không cần bổ sung vitam
in.
1.1.1.8. Bacillus simplex
Tế bào của Bacillus simplex thường nhỏ bé , có kích thước ( 2-5)x
0,6m, thường đứng riêng rẽ không kết thành chuỗi.
Khuẩn lạc giống khuẩn lạc của Bacillus cereus, phẳng khá khuyếch tán,
với bề mặt hơi xù xì. hơi lõm, màu đục, mép lồi lõm. Đặc biệt khuẩn lạc của
o (E)
Sản
lượng
Ngành ứng
dụng
-Amylase
3.2.1.1
Bacillus
E +++ Starch
-Amylase
3.2.1.2
Bacillus
E + Starch
Glucose isomerase
h
5.3.1.5
Bacillus
I ++ Fructose syrup
Penicillin amidase 3.5.1.11
Bacillus
I - Pharmaceutical
Protease
i
3.4.21.14
Bacillus
E +++ Detergent
(Nguồn http://www.lsbu.ac.uk/biology/enztech/sources.html)
Các enzym này có vai trò trong nhiều ngành sản xuất khác nhau.
1.1.2.2. Công nghệ thực phẩm [16]
peptidaza, desaminaza....) mà phần lớn được tế bào tiết ra ngoài và hoạt động ở
bên ngoài tế bào.
Protease có chức năng sinh học rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong
việc điều hòa quá trình trao đổi chất ở sinh vật sống.
1.1.3.2. Amylase
Amylase là các enzim xúc tác cho quá trình thủy phân tinh bột và các
polyoza tương tự như dextrin, glucogen. Có hai loại amylase là: -amylase, -
amylase và glucoamylase tuy nhiên các chủng Bacillus thường chỉ có khả năng
tổng hợp -amylase còn không tổng hợp được - amylase và glucoamylase [9]
-amylase xúc tác cho quá trình thủy phân liên kết -1,4 glucozit nội
mạch ở bất kì vị trí nào trong phân tử tinh bột với cơ chất là amyloza. -
amylase cho sản phẩm thủy phân chủ yếu là maltoza (khoảng 87%) và một ít
glucose (13%) với cơ chất là amylopectin, -amy
lase chỉ thủy phân liên kết 1,4
không thủy phân liên kết 1,6. Trong họ Bacillus thường gặp rất nhiều chủng
phát triển ở nhiệt độ không cao nhưng lại sinh ra -amylase chịu nhiệt cao.
1.1.3.3. Xenlulase
Xenlulase là một phức hệ enzim phức tạp xúc tác cho sự thủy phân
xenlulose thành xenlobiose và cuối cùng thành glucose.
Một phức hệ enzim xenlulase gồm 3 enzim chủ yếu đó là:
Endogluconaza hay CMC-ase: là enzim tấn công chuổi xenlulose
một cách tùy tiện và phân hủy liên kết -1,4 glucozit.
Enxogl
uconase hay xenlobiohydrolase: giải phòng xenlobiose hoặc
glucose từ đầu không khử của xenlulose, tác dụng yếu lên CMC, nhưng
tác dụng mạnh lên xenlulose vô định hình hoặc xenlulose đã được phân
Năm 1857, Corvisar đã tách được tripsin từ dịch tụy, đây là protease đầu
tiên nhận được dưới dạng c
hế phẩm, những chế phẩm này vẫn còn lẩn nhiều
enzim và protein khác.
Năm 1861, Brucke đã tách được pepsin từ dịch dạ dày chó ở dạng tương
đối tinh khiết.
Năm 1862, Danilevxki dùng phương pháp hấp phụ trên colodion đã tách
được tripsin với amylase tụy tạng. Năm 1872, Hommarsten đã tách được chế phẩm Chymozin (renin).
Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu về protease trong máu. Schmidt (1869-
1872) đã nêu giả thuyết rằng trong máu có enzim fibrin tham gia vào quá trình làm
đông máu. Tác giả cũng đã tách enzim này và kết tủa bằng cồn, chế phẩm thu được
có tác dụng làm fibrinogen đông lại nhanh chóng.
Các protease ở thực vật được phát hiện muộn hơn
Năm 1874, Group Besanez công bố đã thu nhận được protease từ hạt của
một số loại hạt đậu đều có hoạt tính phân giải protein.
Năm
1879, Wurtz được xem là người đầu tiên tách được protease ở thực
vật. Ông thấy rằng các phần khác nhau của cây đu đủ có protease, khi dùng
cồn kết tủa sẽ nhận được chế phẩm không tinh khiết (100g/cây) gọi là papain.
Đến nữa đầu thế kỉ 20, người ta mới phát hiện thêm các peptid hydrolase
khác như:
Bromelin protease có trong các phần khác nhau của cây dứa
(Willstatter, Grassmanm, Ambros 1926).
Fixin protease có trong các cây thuộc giống Ficus (Walti, 1938)
Trong khi đó các pr
otease của vi sinh vật chỉ được chú ý nghiên cứu từ năm
1950, mặc dù từ năm 1918-1919, Waksman đã phát hiện được khả năng phân giải
Hagihara và cộng sự
Nickerson, Durand
Morihara Tsuzuki
Hofsten và cộng sự
Tsuru và cộng sự
Danno, Yoshimura
1957
1958
1963
1965
1965
1966
1967
Nhiều loại vi sinh vật có khả năng tổng hợp protease với số lượng lớn. Các
enzim này có thể ở trong tế bào (nội bào) hoặc được tiết vào môi trường nuôi cấy
(ngoại bào).
Vi sinh vật là nguồn sản xuất protease tương đối l y tưởng vì nó có khá nhiều
ưu điểm so với các nguồn khác như động vật và thực vật.
1.2.2. Phân loại và các đặc điểm của protease [9], [12], [17]
Protease là enzim thuộc nhóm hydrolase, thủy phân liên kết peptid CO-NH
của phân tử protein và pepti
d thành các axitamin tự do và một ít peptid khối lượng
phân tử nhỏ.
Theo kết quả nghiên cứu trên các protease từ 1950 đến nay cho thấy các
protease của mỗi loài sinh vật cũng có thể khác nhau về tính chất. Hiện nay có
nhiều cách gọi tên và phân loại nhóm của protease, và được thay đổi qua nhiều thời
kì.
1.2.2.1. Theo phân loại quốc tế các enzim thuộc nhóm này được chia thành
4 phân nhóm phụ
hoạt động mạnh ở vùng pH trung tính.
1.2.2.3. Phân loại theo pH tác dụng tối ưu của protease
Dựa vào pH hoạt động của các protease người ta chia nó ra thành 3 loại:
Protease acid: hoạt động trong khoảng 3-3,8.
Protease base: hoạt động trong khoảng 8,5-8,9.
Protease trung tính. Tuy nhiên, tác động tối ưu của protease còn phụ thuộc vào bản chất của
cơ chất vì cùng một loại protease của một chủng vi khuẩn, khi thủy phân casein,
hemiglobin, gelatin sẽ thể hiện hoạt độ cực đại ở những giá trị pH khác nhau.
1.2.3. Tính ưu việt và các ứng dụng của protease vi sinh vật [1], [9], [14], [15]
Khác với protease của thực vật và động vật, protease của vi sinh vật là những
enzim ngoại bào. Hệ protease của vi sinh vật là một hệ thống rất phức tạp bao gồm
nhiều enzim rất giống nhau về hì
nh dạng cấu trúc và khối lượng phân tử nên rất khó
tách ra dười dạng tinh thể đồng nhất. Cũng do là phức hệ gồm nhiều enzim khác
nhau nên protease vi sinh vật thường có tính đặc hiệu rộng rãi cho sản phẩm thủy
phân triệt để và đa dạng. Protease do vi khuẩn tổng hợp có khả năng chịu được
nhiệt độ cao hơn các nguồn khác.
Protease là loại enzim đư
ợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: công
nghiệp thực phẩm, y học, nông nghiệp v.v...Ở nước ta các nghiên cứu về protease
được bắt đầu từ những năm 60.
1.2.3.1. Trong công nghiệp thực phẩm
Protease của vi khuẩn được sử dụng trong quá trình chế biến cá. Ở mang
cá, đặc biệt là ở ruột cá nguồn vi sinh vật rất phong phú. Khi làm nước mắm,
muối cá, sản xuất bột cá ...protease có trong ruột cá thủy phân một p
hần protein
của cá...Trong một số trường hợp khi thêm protease sẽ làm tăng hương vị của sản
1.2.3.4. Trong mỹ phẩm
Protease được sử dụng để bổ sung vào các loại xà phòng giặt, xà phòng
tắm, kem bôi mặt...Do nó có tác dụng loại bỏ lớp biểu bì da đã chết làm cho da
mịn. các loại xà phòng có chứa protease có tác dụng tẩy mồ hôi và các vết bẩn
protein như: vết m
áu..khá tốt.
1.2.3.5. Trong nông nghiệp
Protease được sử dụng để xử l ý các phế liệu giàu protein làm thức ăn cho
vật nuôi, nhằm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và hệ số sử dụng thức ăn, có thể tiến hành bằng cách thêm trực tiếp protease vào thức ăn trước khi dùng hoặc
dùng protease để xử l ý sơ bộ thức ăn.
1.2.3.6. Trong nghiên cứu khoa học
Được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc protei
n
1.2.
3.7. Trong công nghiệp dược phẩm và y học
Sản xuất các chất hoạt hóa và kiềm hãm protease để điều trị các bệnh đặc
trưng. Protease được sử dụng để tăng khả năng tiêu hóa protein ở những người bị
tiêu hóa kém
do dạ dày, tụy tạng hoạt động không bình thường do thiếu enzim.
Protease còn được sử dụng để phân hủy các cục máu đông trong cơ thể để chữa
bệnh nghẽn tỉnh mạch. Protease được sử dụng để làm tiêu mủ ở các vết thương,
các ổ viêm, làm thông đường hô hấp...
1.2.3.8. Trong xử lý rác
Hiện nay đất nước đang ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh, khối
lượng chất thải đặc biệt là rác hữu cơ trong công nghiệp, nông nghiệp và sinh
hoạt tăng rất nhanh. Theo tính toán của c
ông ty công trình đô thị I, mổi ngày
Nhờ tiến bộ của công nghệ sinh học, người ta đã đề ra con đường xử lý
rác bằng c
on đường sinh học. Tức là phân hủy rác hữu cơ dưới tác dụng của vi
sinh vật. Nguồn vi sinh vật có hoạt tính protease hiện hữu khá phong phú trong
tự nhiên.. Người ta có thể sử dụng các vi sinh vật này để phân hủy các nguồn
protein động vật và thực vật có trong rác hữu cơ. Để giải quyết vấn đề bảo vệ
môi trường sống, đồng thời tận dụng phế liệu sản xuất ra những vật liệu qua
n
trọng cho các ngành. Một trong những biện pháp tốt nhất là tái xuất phế thải làm
phân bón hữu cơ, giá thể trồng nấm, nuôi giun... Trong rác có chứa một số chất
hữu cơ, cũng như các yếu tố dinh dưỡng dùng để bổ sung độ phì nhiêu cho đất và
làm tăng thu hoạch cây trồng. trung bình trong 10 tấn rác có 900-1900kg chất
hữu cơ theo hướng nà
y rác có thể ủ thành đống, tại đây sẽ xảy ra các quá trình
phân giải các chất hữu cơ của vi sinh vật. Nhiệt độ của các đống ủ khoảng 50
0
C.
Muốn cho quá trình ủ rác diễn ra nhanh hơn người ta cho thêm vào đó các loại vi
khuẩn như Streptomyces, Azotobacter, một số nấm mốc như Rhizobium.
Ở nước ta hiện nay đã có những nhà máy ủ phân rác để bổ sung chất hữu
cơ cho nông nghiệp như nhà máy DANO (hóc môn) công suất 5 tấn/ ngày. Tại
đây ủ phân rác dựa trên các tác động phân hủy chất hữu cơ của vi sinh vật. Các
điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của vi sinh vật trong quá
trình ủ rác. Do đó phải tạo điều kiện cần t
hiết nhằm thúc đẩy mạnh hoặc khống
chế hoạt động của vi sinh vật làm cho rác hoại kĩ hơn, đỡ mất chất dinh dưỡng.
1.2.3.9. Trong kỹ nghệ phim ảnh
Protease từ vi khuẩn được sử dụng để tái sinh các nguyên liệu cảm quan
khác nhau như phim điện ảnh, phim rơnghe
n, phim chụp. Nó sẽ phân giải và hòa
quá trình sinh tổng hợp enzim của vi sinh vật.
Các enzim thủy phân một chất nào đó và khi có mặt chất đó trong môi trường
nuôi cấy thì lượng enzim này được tổng hợp ra gấp nhiều lần so với bình thường khi không có cơ chất, được gọi là enzim cảm ứng. Các chất được đưa vào môi trường
nuôi cấy để kích thích tổng hợp ra enzim cảm ứng được gọi là cơ chất cảm ứng. Cơ
chất cảm ứng thường được coi là yếu tố quan trọng dùng để điều khiển quá trình sinh
tổng hợp enzim.
Khi ta cho cơ chất với liều lượng tăng dần thì khả năng tổng hợp enzim cảm
ứng của vi sinh vật cũng sẽ tăng dần. N
hưng nếu ta vẫn cứ tiếp tực tăng nồng độ cơ
chất lên đến một mức độ nào đó quá trình này sẽ chựng lại hoặc giảm do hiện tượng
tăng áp suất thẩm thấu bởi cơ chất gây nên.
Như vậy, để điều khiển quá trình sinh tổng hợp enzim bằng cơ chất cảm ứng
cần chú ý:
Có gen tương ứng trong nhiểm sắc thể của tế bào.
Có đầy đủ các nguyên liệu để xây dựng các phần tử en
zim đó
Năng lượng cần thiết dùng cho tổng hợp enzim.
Muốn thu nhận enzim cảm ứng nào thì phài cho cơ chất cảm ứng của enzim
đó vào môi trường nuôi cấy vi sinh vật.
Tác động cảm ứng chỉ đạt hiệu quả cao ở một liều lượng nhất định. Nếu vượt
quá liều lượng nà
y sẽ làm cho quá trình tổng hợp enzim giảm. Do đó, không
phải cho càng nhiều cơ chất thỉ khả năng sinh tổng hợp enzim sẽ càng cao.
Bình thường khi không có cơ chất cảm ứng, chất kìm hãm có trong tế bào sẽ
tương tác với gen điều khiển làm cho quá trình tổng hợp enzim bị ức chế. Khi ta cho
cơ chất cảm ứng vào môi trường nuôi cấy, cơ chất sẽ tương tác với chất kìm
hãm và
hợp enzim của vi sinh vật, tính chất của enzim được tổng hợp. Tùy từng loài vi
sinh vật nhiệt độ thích hợp có khác nhau. Các loại mốc phát triển thích hợp ở
22
0
C – 32
0
C còn các loại vi khuẩn phát triển thích hợp ở 35
0
C – 55
0
C. Nói
chung, đa số vi sinh vật tổng hợp protease không bền nhiệt và bị kìm hãm nhanh
chóng ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ thích hợp.
1.3.4.2. Độ pH
Khi dùng phương pháp nuôi cấy bề mặt, pH môi trường ít ảnh hưởng
đến quá trình tổng hợp enzim ở vi sinh vật và hầu như không thay đổi trong quá
trình phát triển của vi sinh vật. Đối với nấm mốc pH
op
từ 6-6,5 và đối với vi khuẩn pH
op
trung tính từ 6,6-7,4. Khi dùng phương pháp bề sâu, pH môi trường
có ảnh hưởng rất lớn, nhiều khi có vai trò quyết định đối với sự phát triển và sự
tích lũy protease của môi trường của vi sinh vật. Điều này thể hiện khá rõ ở các
loài thuộc giống Bacillus, pH môi trường thường có thể thay đổi sau khi khử
trùng và trong quá trình phát triển của vi sinh vật, pH ban đầu thích hợp cho sự
phát triển của vi sinh vật là đối với nấm mốc pH từ 3,
8-5,6, đối với vi khuẩn là