Luận văn: Hoàn thiện công tác thẩm định dự án cho vay vốn ngành bao bì tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình potx - Pdf 15


Luận văn
Hoàn thiện công tác thẩm định dự án
cho vay vốn ngành bao bì tại Ngân hàng
Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba
ĐìnhLỜI MỞ ĐẦU

Ngay khi ra đời, hệ thống ngân hàng đã chứng tỏ vai trò thiết yếu của mình trong
guồng máy kinh tế, sự hưng thịnh hay sự suy thoái của ngân hàng luôn tạo những ảnh
hưởng mạnh mẽ đối với tình hình phát triển kinh tế một quốc gia. Sau hơn 20 năm tiến
hành công cuộc đổi mới đất nước làm thay đổi cơ bản nền kinh tế với những chỉ số
kinh tế ngày càng khả quan, hệ thống ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng.
Những đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam được coi là khâu đột phá, có những
đóng góp tích cực cho nền kinh tế trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước
duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi
trường đầu tư và sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư. Tín dụng
ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao
trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP,
mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả
nước. Hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải
thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Hòa mình với nhịp độ phát triển chung, rủi ro trong cho vay của các tổ chức
tín dụng còn cao, đặc biệt là dư nợ tín dụng quá hạn trong đó có cả nợ khó đòi hiện
đang là vấn đề nổi cộm. Cũng như nền kinh tế nói chung, hoạt động của hệ thống
ngân hàng đã đến lúc cần có giải pháp để thực hiện việc chuyển từ giai đoạn phát
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN CHO VAY
VỐN NGÀNH BAO BÌ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM – CHI NHÁNH BA ĐÌNH

1.1.Khái quát về Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình
1.1.1. Tổng quan về Ngân hàng Công thương Việt Nam
 Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau
khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò
quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam.

hoạch hoá sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình quản lý hai cấp (Ngân
hàng Nhà nước – Ngân hàng thương mại), và các NHTM quốc doanh lần lượt ra đời
với các chức năng chuyên môn NHCT – NHNT – NHĐT&PT – NHNN&PTNT.
Đồng thời, Ngân hàng công thương Ba Đình cũng được chuyển đổi thành một chi
nhánh NHTM quốc doanh với tên gọi là chi nhánh Ngân hàng Công thương quận
Ba Đình trực thuộc Ngân hàng Công thương Hà Nội, và hoạt động theo mô hình
quản lý 3 cấp (trung ương – thành phố - quận). Với mô hình quản lý này, trong
những năm (7/88 – 3/93) hoạt động kinh doanh Ngân hàng công thương Ba Đình
kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của một ngân hàng thương
mại trên địa bàn thủ đô, do hoạt động kinh doanh phụ thuộc hoàn toàn vào NHCT
thành phố Hà Nội, cùng với những khó khăn và thử thách mà Ngân hàng gặp phải
vào những năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế theo đường lối mới của Đảng.
Trước những thực tế đó, theo quyết định số 93/NHCT – TCCB của Tổng giám
đốc NHCT Việt Nam bắt đầu tư ngày 01/04/1993, Ngân hàng Công thương Việt
Nam thực hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (trung ương - quận), xoá bỏ
cấp trung gian là NHCT thành phố Hà Nội. Do vậy, ngay sau khi nâng cấp quản lý
cùng với việc đổi mới cơ chế hoạt động, tăng cường công tác quản lý cán bộ và đội
ngũ trẻ có năng lực thì hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đã có nhiều sức bật
mới, đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín tham gia cạnh tranh tích cực trên thị
trường, và không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện mình để thích nghi với môi trường
kinh doanh trong cơ chế thị trường.
Cho đến nay hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba
Đình được ổn định và phát triển theo 4 định hướng lớn của ngành “ổn định – an
toàn - hiệu quả và phát triển” cả về quy mô, tốc độ tăng trưởng, địa bàn hoạt động
cũng như về cơ cấu mạng lưới tổ chức bộ máy.
Từ năm 1995 đến nay, với những kết quả kinh doanh đã đạt được, cùng với tốc
độ tăng trưởng và hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu kế hoạch được giao, Chi nhánh
Ngân hàng công thương Ba Đình liên tục được Ngân hàng Công thương Việt Nam

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của chi nhánh NHCT Ba Đình)

GĐ &
PGĐ
Khối
Kinh
doanh

Khối
Dịch vụ



Phòng
Thanh toán
XNK
Phòng
Thẻ

Phòng
Kế ToánPhòng T

chức
Hành
chính
Phòng
Tổng hợp

Phòng
Tiền Tệ
& Kho
quỹ 1.1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi
nhánh Ba Đình
 Chức năng:
NHCT Ba Đình là một chi nhánh lớn của Ngân hàng Công thương Việt Nam
tại Hà Nội, hoạt động kinh doanh theo mô hình 1 NHTM đa năng, mang tính kinh

thống mạng, máy tính của chi nhánh.
- Ngoài ra, chi nhánh còn có nhiệm vụ dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp,
phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động
hàng năm của mình.
1.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam –
Chi nhánh Ba Đình những năm gần đây
Năm 2006, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại diễn ra rất sôi
động với nhiều chi nhánh, điểm giao dịch mở ra, nhiều ngân hàng tăng vốn điều lệ,
giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán liên tục tăng. Tuy nhiên, do lãi suất trên
thị trường thế giới có nhiều biến động, đặc biêt là đồng USD tác động trực tiếp đến
quan hệ tỷ giá và lãi suất đồng VNĐ. Mặt khác, do quan hệ cung cầu vốn trên thị
trường, sự biến động giá cả, lãi suất huy động của các NHTMCP đều áp dụng vượt
các mức lãi suất đã thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng. Một số doanh nghiệp có
nguồn tiền gửi lớn đang gửi vốn tại Chi nhánh là nhà cổ đông chiến lược của một số
NHTMCP tạo ra sự cạnh tranh, dịch chuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng
khác, làm cho lãi suất huy động vốn VNĐ luôn không ổn định, cạnh tranh giữa các
ngân hàng trở nên gay gắt. Trong đầu tư tín dụng, với định hướng tăng trưởng đi đôi
với chất lượng, tìm kiếm khách hàng, phương án cho vay tốt và áp dụng chuẩn mực
phân loại nợ hàng tháng nên nợ xấu thường xuyên được kiểm soát và khắc phục.
Năm 2007, với nhiều diễn biến bất lợi như giá dầu mỏ, giá vàng tăng cao đạt
mức kỷ lục làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Sự xuất hiện thêm các tổ
chức định chế tài chính, tín dụng trong nước, thị trường nhà đất sốt giá trở lại làm
gia tăng áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Một vài doanh nghiệp có quan
hệ tín dụng tại Chi nhánh có dư nợ lớn, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn đã ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh chung của Chi nhánh.
Đến năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu đã làm lạm phát tăng cao do chi phí đấy trong những tháng đầu năm
nhưng cuối năm lại rơi vào tình trạng giảm phát, nhập siêu tăng và đầu tư gián tiếp
nước ngoài giảm, diễn biến cung cầu vốn ngoại tệ bất thường. Hoạt động tài chính


Năm 2006, so với kế hoạch vốn huy động đạt 96%, trong đó, VNĐ đạt 95,8%,
ngoại tệ quy VNĐ đạt 99%. Nguyên nhân chính là một số doanh nghiệp có tiền gửi
thường xuyên lớn, phải cấp vốn cho các đơn vị thành viên hoặc chuyển vốn về
Tổng công ty theo quy chế nội bộ. Mặt khác, chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường tăng
nhanh có sức hấp dẫn, gia tăng thêm người tham gia kinh doanh cổ phiếu nên trong
những tháng cuối năm tiền gửi ở khu vực dân cư giảm nhiều.
So với kế hoạch, năm 2007, tống nguồn vốn huy động đạt 98,86%, trong đó
VNĐ đạt 94,72%, ngoại tệ quy VNĐ đạt 117,15%
Năm 2008, tổng nguồn vốn huy động đạt 105,7% trong đó VNĐ đạt 111,8%,
ngoại tệ quy VNĐ đạt 90,2% so với kế hoạch. * Về cơ cấu nguồn vốn huy động

Năm

Ti
ền gửi của các tổ chức kinh tế

T
i
ền gửi dân c
ư

2006 1962 2388
2007 2817 2324
2008 2188 23305
(Nguồn: báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2006 – 2008)


Năm
Dư nợ bình
quân
Dư n
ợ tính đến cuối năm

Dư nợ cho vay VNĐ
Dư n
ợ cho vay ngoại tệ
quy VNĐ
2006

2.383

1.710

650

2007

2.373

1.844

799

2008

3.722


- Từ nguồn Chính phủ cấp: kế hoạch thu 3 tỷ, thực hiện 193 triệu đồng, trong
đó có món nợ nhiều năm có vướng mắc với cơ quan thi hành án không thực hiện
được, doanh nghiệp có biểu hiện thiếu thiện chí trả nợ.
* Năm 2007, với những biện pháp thực hiện quyết liệt như bám sát nguồn thu,
thỏa thuận khách hàng trả từng tháng đối với từng khách hàng nên kết quả thu nợ
ngoại bảng có chuyển biến rõ rệt.
- Thu nợ từ nguồn xử lý rủi ro 17.655 triệu đồng, đạt 51,4% so với kế hoạch
- Thu nợ từ nguồn Chính phủ được 370 triệu đồng.
* Năm 2008, dù có nhiều biện pháp đưa ra để thu hồi nợ nhưng do các doanh
nghiệp gặp khó khăn về tài chính không có nguồn trả nợ, một số khoản nợ có bổ
sung tài sản đảm bảo nhưng là các thiết bị công trình đã cũ, lạc hậu , khó bán, nhà
xưởng sản xuất, giấy tờ pháp lý không đầy đủ nên khó xử lý… khiến cho quá trình
thu nợ ngoại bảng đạt kết quả thấp.
- Thu nợ từ nguồn xử lý rủi ro: 4.495 triệu đồng, bằng 10,7% kế hoạch.
- Thu nợ từ nguồn Chính phủ: 249 triệu đồng, đạt 44,5 % kế hoạch.
1.1.4.3. Hoạt động tài trợ thương mại
A, Kinh doanh ngoại tệ
Ngoài thu đổi, mua bán ngoại tề của các đại lý qua thị trường tự do và thị
trường liên ngân hàng, Chi nhánh còn khai thác, thu mua từ các doanh nghiệp xuất
khấu, đơn vị có nguồn ngoại tệ lớn,đồng thời theo dõi sát sao chặt chẽ luồng tiền đi-
đến, tỷ giá, điều chuyển vốn… Do vậy không có rủi ro, trạng thái ngoại tệ được
khắc phục, tuân thủ đúng quy định NHCTVN
Năm 2006, tổng doanh thu ngoại tệ đạt 878,730 triệu USD, tăng 78% so với
năm trước. Kết quả lãi gộp thu được 3.122 triệu đồng.
Năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ đạt 833,37 triệu USD, giảm 45,36 triệu
USD so với cuối năm 2006. Thu kinh doanh ngoại tệ 3,23 tỷ đồng, bằng 103,5% so
với năm trước.
Đến năm 2008, cùng với khủng hoảng kinh tế là tình trạng nhập siêu gây nên
hiện tượng khan hiếm ngoại tệ kéo dài, cộng thêm sự thay đổi trong chính sách điều
hành tỷ giá của NHNN và NHCTVN dẫn đến biến động rất lớn về kinh doanh ngoại

toán thay cho bên bên được bảo lãnh, phí thu góp phần đáng kể vào khối lượng thu
dịch vụ chung của Chi nhánh.
Năm 2007, giá trị bảo lãnh đạt 650,84 tỷ đồng. Đến năm 2008, được sự tín
nhiệm của khách hàng nên khối dịch vụ bảo lãnh tại Chi nhánh rất lớn, trị giá phát
hành bảo lãnh đạt 1.455 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với năm 2007.
1.1.4.4. Công tác phát hành thẻ
Trong những năm qua Chi nhánh đã triển khai rất nghiêm túc và có hiệu quả
công tác phát triển thẻ đến toàn bộ các phòng ban, tổ nghiệp vụ.
Năm 2006 phát hành được 2908 thẻ ATM, đưa tổng số thẻ ATM mà Chi
nhánh đang quản lý lên 5831 thẻ, lắp đặt 13 máy ATM ở nhiều vị trí thuận tiện cho
khách hàng. Phát hành 60 thẻ tín dụng quốc tế, đạt 100% kế hoạch, thiết lập và lắp
đặt 20 máy thanh toán EDC. Năm 2007 phát hành 3509 thẻ ATM, đạt 43,86% kế hoạch. Phát hành 108 thẻ
tín dụng quốc tế đạt 90% kế hoạch. Kí 22 hợp đồng đối với cơ sở chấp nhận thẻ, đạt
88% kế hoạch.
Năm 2008 phát hành 18657 thẻ ATM, đạt 93,3% kế hoạch; 89 thẻ tín dụng
quốc tế đạt 111,3%; 10 cơ sở chấp nhận thẻ đạt 50% kế hoạch.
Xác định công tác thẻ và dịch vụ ngân hàng điện tử là một mảng nghiệp vụ
mang tính chất dịch vụ, Ban lãnh đạo đã chỉ đạo sát sao nhằm mở rộng và phát
triển. Tuy nhiên do cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng, các dịch vụ kèm theo
phát hành thẻ… nên công tác phát hành thẻ gặp khó khăn và chưa chuyên nghiệp.
1.1.4.5. Các mặt công tác khác
A, Kế toán giao dịch
Cơ chế thanh toán của NHNN không ngừng hoàn thiện tạo cơ sở cho các
NHTM hoạt động và cùng với quá trình đổi mới, áo dụng công nghệ cao vào dịch
vụ thanh toán, khối lượng thanh toán qua ngân hàng được gia tăng, tỷ trọng thanh
toán không dùng tiền mặt tăng lên rõ rệt.
Hết năm 2006 có 5.554 tài khoản tiền gửi giao dịch thanh toán, tăng 9,4% so

Năm 2008, khối lượng thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng đạt 17.880 tỷ VNĐ
và 90 triệu USD. Tổng tiền thừa trả lại cho khách hàng 474 món với số tiền
883.195.000 đồng, 1,085 USD và 900 USD, thu giữ 96 tờ tiền giả các loại có tổng
mệnh giá 14.160.000 và nộp về NHNN kịp thời theo đúng qui định.
C, Công tác tổ chức cán bộ- đào tạo- tiền lương- mạng lưới, triển khai áp dụng Hệ
thống quản lý chất lượng và các công tác khác.
Năm 2006, Chi nhánh đã hoàn thành phát triển được 03 điểm giao dịch mẫu
theo đúng kế hoạch của NHCTVN giao: Quỹ tiết kiệm 26- Quán Thánh và Quỹ tiết
kiệm 21- Thành Công, thuê thêm 1 địa điểm mới tại K1- Đường Láng hạ của Tống
công ty XDCTGT I. Chi nhánh luôn có kế hoạch kiểm tra hàng tháng, hàng quý trên
các mặt hoạt động ngiệp vụ nhất là bảo vệ kho quỹ, an ninh mạng.
Năm 2007, Chi nhánh phát triển thêm 02 điểm giao dịch tại đường Láng hạ và
Cửa nam.
Năm 2008, Chi nhánh mở thêm 01 điểm giao dịch tại phố Văn Cao, đang thực
hiện kế hoạch chuyển đổi mô hình các quỹ tiết kiệm thành điểm giao dịch theo đúng
quy trình phát triển mạng lưới. Mở 01 đại lý nhận lệnh giao dịch chứng khoán cho
Công ty Chứng khoán NHCT tại K1 Láng hạ.
Chi nhánh đã duy trì tốt hoạt động công nghệ thông tin, công tác quản trị hệ
thống các phần mềm ứng dụng được thực hiện triệt để đáp ứng tốt các yêu cầu
nghiệp vụ trong giao dịch.
Các phòng tổ nghiệp vụ đã triển khai và nghiêm túc thực hiện đúng các quy định,
quy chế, quy trình và các hướng dẫn nghiệp vụ do NHCTVN ban hành, hàng tháng có
sự kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các qui định của hệ thống quản lý chất lượng. 1.1.4.6. Kết quả kinh doanh
* Năm 2006, việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh của
Chi nhánh gặp không ít khó khăn, nhất là chỉ tiêu về kế hoạch lợi nhuận do phải
trích dự phòng rủi ro lớn, lãi dự thu nhóm II trở lên phải bóc tách ra khỏi thu nhập
nhiều, nguồn vốn sụt giảm. Song với sự nỗ lực phấn đấu, kết thúc năm 2006, lợi


1.2. Thực trạng công tác thẩm định dự án cho vay vốn ngành bao bì tại Ngân
hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình
1.2.1. Đặc điểm của các dự án ngành bao bì trong mối quan hệ với yêu cầu thẩm
định
Chúng ta đã biết quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và các doanh nghiệp vừa và
nhỏ là quan hệ tác động qua lại trong quá trình hoạt động sản xuát kinh doanh.
Thông thường, Ngân hàng cho vay vốn đối với các dự án sản xuất kinh doanh, và
với các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Ngân hàng trong một vài năm. Vì
thông qua đó Ngân hàng có thể đánh giá được thực trạng, tình hình tài chính, khả
năng sinh lời, thanh toán các khoản nợ vay và mức độ rủi ro của doanh nghiệp cũng
như đánh giá được tính khả thi của dự án và các phương án kinh doanh, tiềm năng
phát triển của doanh nghiệp đó…

1.2.2. Vai trò của thẩm định dự án cho vay vốn đối với hoạt động của Ngân hàng
a. Thẩm định dự án
Bất kỳ một công việc kinh doanh nào muốn bắt đầu hay mở rộng, nâng cấp,
phát triển đều cần có vốn. Nguồn vốn đầu tiên được đưa ra sử dụng là vốn tự có
được tích lũy đến thời điểm dự kiến đầu tư. Trường hợp nguồn này không đủ đáp
ứng, chủ thể muốn kinh doanh sẽ bắt buộc phải tìm đến các nguồn vốn khác từ bên
ngoài. Đó là nguồn do nhà nước cấp vồn đầu tư từ nước ngoài, vốn huy động bằng
phát hành và vốn vay ngân hàng.
Tuy nhiên, cho dù hình thức nào được lựa chọn thì chủ yếu đầu tư cũng chỉ
đầu tư khi họ biết chắc rằng số tiền mà họ bỏ ra đem lợi ích như mong muốn. Để
công việc kinh doanh của mình được tài trợ, cá nhân hay tổ chức thiếu vốn phải
chứng minh được tính hiệu quả của công việc đầu tư của họ. Biện pháp thông
thường và hiệu quả nhất chính là lập dự án đầu tư. Có thể nói dự án đầu tư là kim
chỉ nam, là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt
kết quả kinh tế xã hội mong muốn. Hơn nữa, đối với ngân hàng, đây là căn cứ để
tiến hành công cuộc thẩm định.

công trình đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng, cho dù có đem lại nguồn lợi
nhuận lớn thế nào đi chăng nữa nhưng có ảnh hưởng không tốt đến môi trường, hay
đơn giản chỉ là phá vỡ tính thống nhất của cảnh quan thì cũng không thể chấp nhận
được.
Đầu tư là cần thiết, song đầu tư phải đem lại hiệu quả mới có ý nghĩa
 Thứ hai: Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng là rủi ro lớn nhất. Đó là
rủi ro không thu hồi được các khoản cho vay. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây khó
khăn cho ngân hàng do: Phải gánh chịu chi phí đầu vào quá lớn, đối mặt với luồng
tiền rút ra lớn hơn mức dự kiến có khả năng đáp ứng, làm giảm lòng tin của khách hàng… Nếu trường hợp rủi ro lớn đồng thời có thể dẫn đến sự phá sản của ngân
hàng, thậm chí sự sụp đổ của thị trường tài chính.
Cho nên, hơn các đối tượng khác ngân hàng đặc biệt quan tâm đến các biện
pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Thẩm định dự án đâu tư đã trở nên một khâu
quan trọng không thể thiếu trong quá trình xét duyệt cho vay của ngân hàng. Nhờ
công tác thẩm định mà các ngân hàng có thể tự mình kiểm soát mức độ hiệu quả của
công việc kinh doanh trong tương lai.
Do đó, kết quả thẩm định sẽ là những kết luận chính xác về tính khả thi hiệu
quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để ra những
quyết định cho vay hoặc từ chối. Trường hợp dự án được chấp nhận, kết quả này
còn làm cơ sở để xác định số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Như vậy, công việc thẩm định dự án đầu tư giúp cho ngân hàng ra quyết định
có cho vay hay không? Nếu cho vay thì cho vay như thế nào, với mức là bao nhiêu.
Điều này đảm bảo an toàn cho ngân hàng trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn
khó đòi. Bên cạnh đó, công tác thẩm định còn giúp cho chủ đầu tư lựa chọn những
phương án tốt nhất hoặc đưa ra ý kiến xác đáng cho chủ đầu tư để dự án cs tính khả
thi cao. Nó còn giúp các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá sự cần thiết và phù hợp
của dự án với quy hoạch phát triển chung của nghành, địa phương và của cả nước
Nhìn chung trong giai đoạn vừa qua, phòng khách hàng vừa và nhỏ đã chú
trọng rất nhiều đến việc nâng cao chất lương thẩm định dự án đầu tư. Cán bộ thẩm
định ở phòng đã phần nào tuân thủ chặt chẽ quy trình thẩm định dự án đầu tư đảm
bảo an toàn vốn vay và đạt hiệu quả hoạt động cho vay. Với phương châm “Lợi ích
của khách hàng cũng là lợi ích của ngân hàng” NHCT Ba Đình nói chung và phòng
khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng phục vụ khách hàng với thái độ rất
nhiệt tình, chuyên nghiệp và chu đáo, vì vậy chi nhánh đã đạt nhiều thành tích trong
thời gian vừa qua.
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, số dự án phòng khách hàng doanh nghiệp vừa
và nhỏ thẩm định qua các năm qua tương đối ổn định, vốn đầu tư có xu hướng tăng
nhưng không đáng kể. Số dự án tiến hành thẩm định tăng ổn định qua các năm, giao
động trong khoảng 30 dự án.

Phân loại tổng vốn cho vay theo lĩnh vực cho vay tại phòng khách hàng vừa và
nhỏ, chi nhánh NHCT Ba Đình
(Đơn vị: Tỷ đồng)
STT

L
ĩnh vực hoạt động

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

1 Ngành xây dựng 902 916 958

dịch với khách hàng, cán bộ thẩm định chính là các cán bộ tín dụng, vì thế trong
nhiều trường hợp, một số dự án kỹ thuật phức tạp, một số cán bộ gặp trở ngại trong
quá trình thẩm định.
1.2.4. Quy trình thẩm định dự án cho vay vốn tại Ngân hàng Công thương Việt
Nam – Chi nhánh Ba Đình
Ngân hàng công thương Việt Nam đã ban hành quy trình nghiệp vụ tín dụng
riêng, áp dụng trong toàn hệ thống, trong đó có quy định cụ thể quy trình nghiệp vụ
thẩm định. Hiện nay ở NHCT Ba Đình, cũng như phòng khách hàng doanh nghiệp
lớn và phòng khách hàng cá nhân thì phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng đều tiến hành thẩm định theo một quy trình chung mà NHCT Việt Nam đưa
ra. Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Ba Đình được mô tả theo
sơ đồ sau:
Sơ đồ quy trình thẩm định thực hiện tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi
nhánh Ba Đình Khách hàng
Phòng khách
hàng
Phòng/ B
ộ phận
phụ trách nguồn
vốn
Phòng khác
Phòng thông tin
điện toán
Phòng
kế
toán
Giám đốc

Thẩm định
Xác định NV và
lãi suất
Tham gia khi
có đề nghị
Xác nhận điều
kiện thanh toán
Tái thẩm định
Yêu cầu giải
thích thêm
Chuẩn bị ký
hợp đồng
Thông báo
với khách
hàng
Xét duyệt
cho vay
Xét duyệt
cho vay

HĐTD Bước 1: Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ, kiểm tra đầy đủ các giấy tờ
trong hồ sơ. Sau khi kiểm tra, cán bộ tín dụngbáo cáo với trưởng phòng tín dụng và
tiếp tục tiến hành các bước trong quy trình nếu như hồ sơ đã đầy đủ; nếu chưa đầy
đủ cán bộ tín dụng phải yêu cầu khách hàng hoàn thiện hồ sơ bằng cách bổ sung.
Bước 2: Thẩm định các điều kiện vay vốn
Đầu tiên cán bộ thẩm định kiểm tra hồ sơ vay vốn và mục đích vay vốn bằng

tái thẩm định trong đó có ít nhất một tổ trưởng hoặc phó phòng tín dụng là thành
viên, và những thành viên nàykhông bao gồm những cán bộ tín dụng đã thẩm định
lần đầu.
Các cán bộ tái thẩm định này có trách nhiệm thẩm định lại khách hàng và
toàn bộ hồ sơ vay vốn độc lập, ghi rõ ý kiến trên tờ trình về việc đề xuất có cho vay
hay không và chịu trách nhiệm về các công việc nêu trên.
Bước 7: Trình duyệt khoản vay
Đối vói những dự án không phải qua hội đồng thẩm định cơ sở: cán bộ tín
dụng trình tờ thẩm định / tái thẩm định cho trưởng phòng thẩm định để đưa ra quyết
định có được duyệt hay không; sau đó, trưởng phòng tín dụng sẽ kiểm tra lại toàn
bộ hồ sơ và các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật; và giám đốc ngân hàng phê
duyệt khoản vay trên cơ sở kiểm tra toàn bộ.
Đối với những dự án phải qua hội đồng thẩm định cơ sở thì trưởng phòng thẩm định
đề nghị chủ tịch hội đồng thẩm định triệu tập họp HĐTĐ và chuẩn bị hồ sơ trình hội
đồng thẩm định cơ sở; và chủ tịch hội đồng thẩm định sẽ triệu tập và điều hành cuộc
họp hội đồng thẩm định cơ sở.
1.2.5. Cơ sở và phương pháp thẩm định
Khi tiến hành thẩm định cần thu thập các tài liệu sau để làm cơ sở cho công tác
thẩm định:
- Các tài liệu nói về chủ trương nhiệm vụ phát triển kinh tế của Nhà nước, địa
phương, của nghành kinh tế, xu hướng phát triển nghành kinh tế.
- Các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật.
- Thông báo giá cả hàng hóa, thiết bị trên thị trường trong nước, ngời nước và
diễn biến của thị trường.
- Các văn bản pháp lý có liên quan.
- Các dự án tương tự.
- Các tài liệu về tài chính, hoạt động và uy tín của pháp nhân vay vốn 2 năm
trước và các quý trong năm xin vay.
- Hồ sơ xin vay của chủ đầu tư.
- Ngoài ra còn có các thông tin về pháp nhân vay vốn thu thập được qua thăm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status