CANH TÁC BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC pot - Pdf 15

CANH TÁC BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC
Giới thiệu một số giải pháp canh tác bền vững trên đất dốc, được thực hiện
bởi các nhà Khoa học Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi
phía bắc - NOMAFSI

Quản lý và sử dụng đất dốc bền vững dựa trên tiếp cận nông nghiệp sinh
thái
Tg: Le Quoc Doanh, Ha Dinh Tuan, Nguyen Quang Tin
Northern Mountainous Agriculture and Forestry Science Institute (NOMAFSI)
Phu Ho Commune, Phu Tho Town, Phu Tho Province, Vietnam
Tel: 02103.865.379 Fax: 02103.865.931.
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript
enabled to view it. ; This email address is being protected from spambots. You
need JavaScript enabled to view it.

Sustainable sloping land management using agro-ecology approach
Summary
Loss of forests, poor soil fertility, low crop yields and increased natural calamities
are the biggest constraints to upland agriculture, trapping people in vicius circle.
To be more effective and sustainable in sloping land management, it is necessary
to apply ecological approach.
Since 1998, the Vietnam Agricultural Science Institute (VASI), then Northern
Mountainous Agriculture and Forestry Science Institute (NOMAFSI) have been
cooperating with CIRAD and other partners like IRRI and IRD in the
implementation a project on research, development and transfer of sustainable
agro-ecology based sloping land agricultural technologies like direct sowing
mulch based cropping systems (DMC), maintaining permanent soil cover, mini-
terraces with soil mulch, inter-cropping, crop rotation, etc.
Attention have been paid to establishment of various AF models combining short-
term crops, long-term trees and fodder crops for harmonic development of
agriculture, forestry and animal husbandry production. Good grasses like elephant

thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc lớn
hơn 25
o
chịu xói mòn rất mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn, thường chỉ trồng
được 2-3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó trồng sắn và bỏ hoá. Dân số gia tăng
dẫn đến bình quân diện tích đất trên đầu người bị giảm, thời gian đất bỏ hoá cũng
bị rút ngắn xuống khoảng 3 đến 5 năm. Với khoảng thời gian ngắn như vậy thì độ
phì và các tính chất lý hoá của đất chưa được tái tạo đủ mức cần thiết cho sinh
trưởng và phát triển của cây trồng nông nghiệp. Vì vậy năng suất cây trồng rất thấp
và thời gian canh tác chỉ kéo dài tốt đa là 2 vụ. Những vùng đất có độ dốc thấp, do
sức ép của chăn thả tự do, cây cối không thể tái sinh, các loài cỏ cho trâu bò cũng
không thể phát triển, ngoại trừ cỏ may, cỏ đắng và cỏ tranh, đã trở thành vùng đất
trống, đồi núi trọc với độ thoái hoá nặng đến mức khó có thể phục hồi nếu như
không đầu tư cao và kịp thời. Các loài cỏ dại không có giá trị kinh tế lại phát triển
mạnh và cạnh tranh gay gắt với cây trồng. Kết quả là rừng bị mất, đất bị thoái hoá,
năng suất cây trồng thấp, thu nhập từ chăn nuôi cũng giảm nên cuộc sống của nông
dân miền đất dốc rất khó khăn, luẩn quẩn trong vòng đói nghèo.
Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã quan tâm đầu tư giúp đỡ phát triển nông
nghiệp và nông thôn miền núi nhưng sự chuyển biến còn chậm. Công cuộc xóa đói
giảm nghèo cho nông dân miền núi vẫn còn là thách thức lớn đối với toàn Đảng và
toàn dân ta.
Để có cách nhìn đầy đủ hơn trong quản lý, sử dụng đất dốc và giúp nông dân nắm
vững một số kỹ thuật nông nghiệp sinh thái trong canh tác trên đất dốc bền vững,
chúng tôi tóm lược những khó khăn, hạn chế cũng như những tiềm năng, thuận lợi
của đất dốc và giới thiệu một số kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững cũng như
những quan điểm, định hướng về sử dụng phương thức tiếp cận nông nghiệp sinh
thái trong nghiên cứu, quản lý và sử dụng đất dốc bền vững ở miền núi Việt Nam.
I. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ TIỀM NĂNG CỦA ĐẤT DỐC
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trở ngại, vùng cao ViệtNamvới đất dốc là chủ yếu,
có rất nhiều tiềm năng nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Đất dốc ngày càng có vai

phụ thuộc nhiều vào lượng mưa. Luôn luôn có những đợt hạn hán nghiêm trọng
vào mùa khô. Ở nhiều vùng còn không có đủ nước cho con người cũng như động
vật. Hạn hán là khó khăn chính đối với đất dốc; nếu mưa chỉ đến muộn khoảng 1
tháng so với dự tính thì một vụ mùa thất bại là chắc chắn. Hạn vào mùa khô là do
sự mất rừng cũng như do việc canh tác bừa bãi không thể kiển soát được trên đất
dốc.
d. Tình trạng bị cách biệt
Vùng núi có nhiều địa phương bị cách biệt khỏi các trung tâm phát triển, vì vậy mà
cơ sở vật chất còn vô cùng thiếu thốn. Chính vì điều này đã gây ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển kinh tế.
Do nghèo nàn lạc hậu về giao thông vận tải, nhiều vùng đất dốc bị tách biệt khỏi
thị trường nên nhu cầu trao đổi hàng hoá của người dân bị hạn chế. Điều này đã
làm chậm quá trình thay đổi cơ cấu cây trồng (từ việc du canh bằng cách đốt
nương làm rẫy để trồng cây hàng năm đến việc trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế
cao) nhằm bảo vệ đất dốc khỏi bị xói mòn.
e. Tỷ lệ đói nghèo và trình độ văn hoá thấp
Dân cư các vùng đất dốc chủ yếu là dân tộc thiểu số với tỷ lệ đói nghèo cao hơn,
còn trình độ hiểu biết thì lại thấp hơn so với mức trung bình của cả nước. Công
việc chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước và trồng cây cho hiệu quả kinh tế đòi hỏi
sự đầu tư cao hơn và kỹ thuật canh tác cũng cao hơn. Đây là một bất cập lớn giữa
khai thác đất dốc và trình độ, năng lực của cư dân địa phương.
g. Giảm độ che phủ
Việc diện tích rừng bị giảm và các phương pháp canh tác lạc hậu đã để lại hậu quả
là nhiều vùng đất rộng lớn đã trở thành đất trống đồi núi trọc. Ở Châu Á, khi rừng
đã bị phá để trồng cây lương thực, đất sẽ trở nên chua và thường bị cỏ tranh xâm
chiếm. Nông dân phải bỏ hoá những khu đất này, tiếp tục phá rừng nơi khác để làm
nương mới trồng cây lương thực. Việc mất thảm thực vật rừng sẽ ảnh hưởng rất
xấu đến môi trường sinh thái như hạn hán, lũ lụt và lũ quét ở vùng cao.
2. Tiềm năng
a. Tiềm năng mở rộng đất canh tác

tồn tại và phát triển lâu dài của cả dân tộc.
II. HƯỚNG ĐI CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG
ĐẤT DỐC Ở VÙNG CAO NHIỆT ĐỚI
Hướng tiếp cận tốt nhất để cải tạo và giữ gìn chất lượng đất là áp dụng các biện
pháp nông nghiệp sinh thái: tái sử dụng tàn dư cây trồng và phân hữu cơ nguồn gốc
động vật, giảm sử dụng hoá học trong nông nghiệp, tăng cường áp dụng các loại
cây che phủ, nhất là cây họ đậu để vừa bảo vệ vừa cải tạo đất. Cần quan tâm phát
triển các kỹ thuật tối đa hoá sinh khối, độ che phủ mặt đất và tính liên tục của lớp
phủ để chống xói mòn đất, tăng cường hoạt tính sinh học, tăng cường các quá trình
tái tạo dinh dưỡng, tái tạo các tính chất cơ bản của đất như cấu tượng đất, hàm
lượng hữu cơ, độ xốp, hoạt tính sinh học, độ pH, độc nhôm sắt. Từ việc phân huỷ
các chất hữu cơ các cation bazơ sẽ trung hoà pH, còn các phân tử mùn sẽ liên kết
với nhôm và sắt để giảm độ dốc trong đất. Tất cả những nỗ lực trên nhằm tạo điều
kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
1. Tăng tối đa lượng chất hữu cơ trong đất
Bằng cách này chúng ta dễ dàng đạt năng suất mong muốn với giá thành sản xuất
hạ. Điều này có thể đạt được qua áp dụng các kỹ thuật nông lâm kết hợp, xen canh,
luân canh, gối vụ và trồng cây che phủ đất để tạo sinh khối tối đa cho bảo vệ và cải
tạo đất. Khi có nhiều chất xanh làm thức ăn gia súc thì chăn nuôi phát triển và thúc
đẩy trồng trọt cũng như nghề rừng cùng phát triển theo hướng bền vững. Việc này
cũng tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hữu cơ (còn gọi là nông nghiệp sinh
thái).
2. Liên tục che phủ đất bằng lớp phủ thực vật sống hay đã khô
Đây là biện pháp quan trọng nhất, đa dụng và là nền tảng cho mọi nỗ lực quản
lý và sử dụng đất dốc bền vững theo hướng nông nghiệp sinh thái. Có thể sử dụng
nilon để che phủ cho đất dốc nhưng phải che theo luống ngang sườn dốc và rãnh
giữa các luống phải được phủ bằng xác thực vật. Phải tái sử dụng tốt nhất lượng
chất hữu cơ sẵn có tức là không được đốt tàn dư thực vật như nông dân thường
làm, trái lại phải sử dụng chúng làm vật liệu che phủ để bảo vệ và cải tạo đất.


4. Luân canh, xen canh và đa dạng hoá cây trồng
Luân canh, xen canh, gối vụ không chỉ tăng thu nhập mà còn tăng sinh khối nhờ sử
dụng các loài cây ngắn ngày, mọc nhanh, đa chức năng, có bộ rễ phát triển khoẻ,
sâu để khai thác dinh dưỡng trong lòng đất như "cây bơm dinh dưỡng" hoặc tăng
dinh dưỡng đất nhờ cây họ đậu cố định đạm. Ngoài ra cần xen canh các loài cây có
bộ rễ phát triển nông và sâu để điều hoà dinh dưỡng và giữ độ tơi xốp của đất.
Luân canh còn có tác dụng chống tích tụ nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng.
5. Nuôi cây chủ yếu thông qua lớp che phủ
Trên nhiều loại đất vùng nhiệt đới nóng ẩm do độ pH thấp dưới 5, có độc nhôm sắt,
đất bị nén chặt nên rễ cây trồng không thể phát triển được. Trong điều kiện áp
dụng biện pháp che phủ đất, rễ cây có thể khi thác dinh dưỡng dưới đất và từ lớp
che phủ thực vật. Trên thực tế, rễ nhiều loại cây trồng có phần lớn miền hút nằm
ngay sát lớp che phủ thậm chí trong lớp che phủ nếu độ ẩm được duy trì ở mức
thích hợp. Trong nhiều trường hợp, việc bón phân vào lớp che phủ còn hiệu quả
hơn là bón vào đất.
6. Nguyên tắc thiết kế kỹ thuật
Thiết kế các kỹ thuật quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện một cách hệ
thống và phải cân nhắc đầy đủ sự tương tác giữa các hợp phần trong hệ thống
(trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, con người, xã hội, văn hoá, truyền thống, tập tục,
v.v )
Các kỹ thuật phải đáp ứng các yếu cầu sau:
- Đa dạng, đơn giản, hiệu quả (rẻ tiền), ít đầu tư;
- Hiệu quả nhanh, dễ nhận biết và dễ chấp nhận về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, văn
hoá và môi trường;
- Lợi dụng tối đa các nguồn lợi sẵn có ở địa phương.
7. Một số tác động khác
Nếu thực hiện tốt các nguyên tắc nêu trên, chúng ta có khả năng sản xuất đủ lương
thực và hoa màu đáp ứng nhu cầu cuộc sống trên những diện tích đất cố định và sẽ
không phải chặt đốt rừng để sản xuất. Như vậy độ che phủ rừng sẽ tăng lên và rừng
sẽ bảo vệ con người khỏi thiên tai như lụt lội, hạn hán. Rừng sẽ cung cấp cho ta

ra sinh khối lớn phục vụ chăn nuôi và bảo vệ đất, chống xói mòn và cải tạo đất
cũng như để sản xuất vật liệu che phủ tại chỗ.

Lưu thông dinh dưỡng, nước và không khí, giúp cây trồng phát triển bộ rễ để hấp
thụ nhiều dinh dưỡng và nâng cao năng suất.

Tăng cường hoạt động sinh vật đất, làm giàu đất nhờ giun, dế, vì sinh vật cố định
đam, phân giải lân và xenluylô.
Các loài cỏ đều có khả năng phá vỡ lớp đất rắn bề mặt nhờ bộ rễ khoẻ như cỏ
Humi, cỏ Tín hiệu, cỏ Ghi nê, cỏ Ruzi. Chúng có bộ rễ sum sê, phát triển mạnh nên
khi phân giải sẽ làm cho đất tơi xốp hơn. Ngoài ra chúng còn có sinh khối lớn (50 -
70 tấn/ha) làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, hoặc làm cho vật liệu che phủ
đất.
Các loài đậu đỗ có triển vọng nhất là lạc dại, đậu mèo, muồng lá tròn kép, đậu
stylo, rút dại, đậu kiếm, đậu nho nhe và một số đậu đỗ thực phẩm khác như đậu
tương, đậu dải áo, đậu rồng, đậu ván, v.v Hiện nay chúng đang được tiếp tục thu
thập và khảo sát kết hợp nhân giống các loài này để triển khai cải tạo đất, trừ cỏ dại
và sản xuất thức ăn chăn nuôi.
2. Hạn chế xói mòn trên đất dốc bằng cây phủ đất
Việc tạo thảm thực vật che phủ đất sẽ giảm đáng kể hiện tượng xói mòn đất. Ngoài
ra, cây che phủ đất còn có tác dụng tốt trong cải thiện cấu trúc và lý tính của đất.
Đất được che phủ sẽ cho năng suất cao và ổn định hơn.
Cây che phủ có thể được trồng thuần trên các bãi đất trồng, luân canh trong hệ
thống cây ngắn ngày, các hàng đồng mức, trong vườn cây ăn quả, trong rừng thưa
hoặc rừng mới trồng chưa khép tán.
3. Thay thế cày bừa làm đất cơ giới bằng các biện pháp sinh học
Điều này có thể đạt được nhờ sử dụng các loài cây ngắn ngày, mọc nhanh, có bộ rễ
khoẻ, ăn sâu, cây cố định đạm (xem Phụ lục). Bộ rễ khoẻ sẽ phá vỡ lớp đất rắn và
tăng dung tích hấp thụ của đất, trai đổi oxy và nước. Bộ rễ ăn sâu sẽ khai thác các
chất dinh dưỡng từ sâu trong lòng đất để tạo nên một lượng sinh khối lớn trên mặt

trong vụ mùa. Nếu không làm như vậy thì cỏ dại sẽ mọc nhiều và gây khó khăn
cho việc chuẩn bị ruộng để gieo mùa. Các loài cây đậu leo khác cũng có thể sử
dụng như đậu mèo. Điều này phụ thuộc vào lựa chọn của nông dân, song cách làm
là như nhau.
d) Ngô hoặc lúa trồng xen cây lạc lưu niên:
Lạc lưu niên (Arachis pintoi) là một loài cây họ đậu không leo mà chỉ bò lan trên
mặt đất, có sức chống chịu sâu bệnh tốt và có thể sinh trưởng, phát triển trên đất
nghèo dinh dưỡng; chịu che bóng tốt. Đây cũng là loài thức ăn gia súc có chất
lượng cao. Lạc lưu niên là một loài cây che phủ đất và diệt cỏ dại tuyệt vời. Nó
được trồng trong các vườn cây ăn quả để cải thiện, bảo vệ độ phì của đất, còn được
dùng để che phủ đất trồng ngô và lúa nương. Vụ màu năm 2002, chúng tôi đã trồng
ngô trên ruộng lạc lưu niên 1 năm tuổi. Cách làm như sau: Cắt lạc lưu niên theo
băng rộng 30- 40 cm rồi chọc lỗ tra hạt ngô vào hai mép các băng đã cắt lạc lưu
niên. Sau 20- 30 ngày lạc lưu niên sẽ bò lan ra và phủ kín gốc ngô. Kết quả thu
được rất khả quan: Năng suất ngô đạt 40 tấn/ha mà không phải làm cỏ, làm đất.
Dưới tán ngô, lạc lưu niên vẫn phát triển tốt và cho sinh khối lớn. Lạc lưu niên là
cây lưu niên nên không phải trồng lại. Rõ ràng trồng lạc lưu niên là một biện pháp
đơn giản, giảm được nhiều công lao động, giải phóng phụ nữ để họ có thời gian
giáo dục con cái hoặc làm các công việc tăng thu nhập khác và sản xuất mang tính
bền vững cao. Lạc lưu niên trồng bằng dây như dây lang, không tự phát tán nên
không có nguy cơ phát triển quá tầm kiểm soát của con người.
e) Trồng sắn xen lạc:
Nông dân ta vẫn hay trồng xen sắn với một số cây học đật như đậu nho nhe, đậu
tương, đậu xanh.v.v Nhiều nơi cũng trồng sắn xen lạc song do năng suất các
giống cũ thấp nên hiệu quả kinh tế không cho thu hoạch. Vì vậy, gần đây nông dân
nhiều địa phương chỉ trồng sắn chay. Trong khi đó, trồng sắn lại gây xói mòn đất
nhiều nhất, nên sau khi trồng được hai hoặc ba năm là phải bỏ hoá đất. Thực tế cho
thấy diện tích trồng sắn ở nhiều nước, nhiều vùng đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, nhờ
những thành tựu trong chọn tạo giống,hiện nay có nhiều giống lạc năng suất cao,
chịu hạn và chịu bệnh héo xanh rất tốt, ví dụ giống lạc MD7 do Viện KHKTTNN

hoá "tích cực" như vậy. 6. Quản lý tích cực đối với đất bỏ hoá
Trồng các loài cây bụi, cây gỗ mọc nhanh như keo tai tượng, keo lai, đậu công, đậu
triều, cốt khí, muồng lá nhọn. Các loài cây này sẽ cải tạo đất nhanh trong vòng 3
đến 5 năm mà vẫn cho thu nhập (thức ăn cho người, gia súc, gỗ, củi, hạt).
7. Cải tạo đất nhanh bằng phương pháp hun đất
Trên thực tế nông dân thích đốt rừng và tàn dư cây trồng vì họ thấy rằng ở những
điểm đốt, cây trồng mọc tốt hơn. Một số nông dân đã dùng đất bùn đắp vào vỏ lò
gạch, sau đó đem bón ruộng để giảm đầu tư phân bón mà năng suất cây trồng vẫn
cao. Hun đất tại chỗ cũng cho tác dụng tương tự. Cách làm như sau: Đào các rãnh
sâu 30cm x rộng 30cm; lót đáy rãnh bằng cành cây nhỏ, rơm, cỏ khô dày 15-
20cm; rải một lớp rơm mồi dày 5cm sau đó lấp đất 10cm; trừ những điểm trống để
mồi lừa cách nhau 1m; châm lửa đốt các mối rơm; chú ý để lửa bén tốt xuống dưới.
Sau đó lửa sẽ chay âm ỉ và om đất trong 2-3 ngày. Nhớ chọn những ngày nắng để
lượng chất khô cháy hết. Có thể tranh thủ mùa khô để hun đất, sau đó trồng cây
che phủ. Đến vụ gieo trồng, cần phải tiêu diệt cây che phủ. Nếu là cây họ đậu thì
cần dùng dao, liềm phát cây sát đất; nếu là loài cỏ 1 là mầm thì phải phan thuốc
diệt cỏ (nên dùng Glyphosate không độc cho người, gia súc và tôm cá); 10 ngày
sau thì chọc lỗ tra hạt dọc theo hai mép rãnh. Cần duy trì lớp phủ và trồng xen cây
họ đậu để tiếp tục cải tạo đất, nếu không cây trồng sẽ khó phát triển ở các vụ sau.
Không dùng cành cây to vì chúng khó cháy hết, nếu có cháy hết thì nhiệt độ đốt
tăng cao ảnh hưởng xấu đến lý tính của đất. Không nên liên tục hun đất mà phải
thực hiện hun đất theo chu kỳ 4-5 năm. Tốt nhất chỉ sử dụng phương pháp hun đất
sau khi đã được tập huấn kỹ để tránh rủi ro.
8. Làm tiểu bậc thang trên đất quá dốc
Đất càng dốc càng chóng bị thoái hoá. Làm tiểu bậc thang kết hợp che phủ đất sẽ
khặc phục được hiện tượng này. Tiêu bậc thang còn có ích cho thâm canh vì giữ
được phân bón, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hoạch.

Trồng lạc lưu niên, muồng lá tròn kép, stylo trong vườn cây ăn quả, vừa bảo vệ
đất, vừa làm thức ăn chăn nuôi. Ngoài ra có thể trồng cây thuốc, rau thơm, gia vị
song cần phải nghiên cứu nhu cầu thị trường.
12. Trồng cây thức ăn gia súc quy mô hộ, giảm sức ép chăn thả tự do
- Trồng cỏ trên các bãi đất trống,
- Trồng cỏ trong các hàng đồng mức,
- Trồng cỏ quanh bờ ao,
- Trồng cỏ trong rừng cây tán thưa, rừng mới trồng.
Ngoài các kỹ thuật nêu trên, còn rất nhiều cách làm phổ biến khác như trình bày ở
phần I cũng như các kỹ thuật nông lâm kết hợp do các cơ quan nghiên cứu trong
nước và quốc tế khuyến cáo, trong đó phải kể đến những đóng góp to lớn của
Trung tâm nghiên cứu Nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF). Điều quan trọng là
nông dân phải được đào tạo và nâng cao năng lực để lựa chọn, thích nghi và áp
dụng cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế xã hội ở địa phương
của họ. Có như vậy các kỹ thuật quản lý và sử dụng đất dốc nêu trên mới phát huy
được tiềm năng và tác dụng của chúng trong việc xây dựng một nền sản xuất nông
lâm nghiệp hiệu quả và lâu bền, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống
cho nông dân miền núi, ổn định sản xuất ở miền xuôi và bảo vệ môi trường sinh
thái.
IV. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh dân số tăng nhanh, đất canh tác bị thu hẹp và để ứng phó với biến
đổi khí hậu, chúng ta cần quan tâm bảo vệ tài nguyên đất và nước, đặc biệt là đất
dốc. Như đã nêu trên, đất dốc hàm chứa rất nhiều tiềm năng phát triển, nhưng lại là
hệ sinh thái rất dễ bị tổn thương, vì vậy cần phải có phương pháp tiếp cận tổng hợp
và thân thiện môi trường. Gần đây phương thức tiếp cận nông nghiệp sinh thái
(Agro-ecology) hay nông nghiệp bảo tồn (Conservation Agriculture - CA) đang
được nhiều nước quan tâm nghiên cứu áp dụng, trong đó có ViệtNam.
Với sự hợp tác giữa Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự
phát triển của Cộng hoà Pháp (CIRAD) và Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm
nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) nhiều biện pháp kỹ thuật quản lý và sử

Philippines.
Ernst Mutert và Thosmat Fairhurst (1997). Quản lý dinh dưỡng trên đất dốc Đông
Nam Á, những hạn chế, thách thức và cơ hội. Hội thảo về Quản lý dinh dưỡng và
nước cho cây trồng trên đất dốc miền Bắc Việt Nam. Hà Nội, ngày 13-14/01/1997.
Bùi Huy Hiền (2003). Đất miền núi: tình hình sử dụng, tình trạng xói mòn, suy
thoái và các biện pháp bảo vệ và cải thiện độ phì. Trong Nông nghiệp vùng cao
Thực trạng và Giải pháp. NXB Nông nghiệp.
Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998). Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam.
Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (2002). Sử dụng bền vững đất miền núi và vùng cao
ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999). Đất đồi núi Việt Nam: thoái hoá và phục hồi.
Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Trần Đức Viên (1996). Nông nghiệp trên đất dốc: thách thức và tiềm năng. Nhà
xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Trần Đức Viên (2001). Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở Việt Nam.
Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status