BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
LƯƠNG ĐỨC TRÍ
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CANH TÁC
NGÔ, LÚA NƯƠNG BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC
TẠI XÃ IA DOM HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
TẠI XÃ IA DOM HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 4.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. Trình Công Tư
Buôn Ma Thuột năm 2009
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn ñề:
Đất dốc chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền nông nghiệp
cây trồng này còn nhiều hạn chế. Người dân ở ñây chủ yếu sử dụng giống ñịa
phương có ñộ lẫn tạp cao, không ñầu tư ñúng mức về phân bón, áp dụng chưa
thoả ñáng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ và nâng cao ñộ phì nhiêu ñất nên
năng suất thu ñược thường thấp, bấp bênh, ñất ñai bị xói mòn, rửa trôi mạnh,
ñộ phì nhiêu nhanh chóng sụt giảm, có trường hợp chỉ qua 3 - 5 năm canh tác
ñất ñã bị thoái hoá ñến mức mất sức sản xuất.
Nhằm từng bước khai thác hợp lý và có hiệu quả tiềm năng ñất dốc
tại ñịa phương, ổn ñịnh ñời sống xã hội và gìn giữ môi trường, chúng tôi tiến
hành ñề tài: “Nghiên cứu biện pháp canh tác Ngô, lúa nương bền vững
trên ñất dốc tại xã Ia Dom huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác ñịnh các biện pháp kỹ thuật canh tác nâng cao năng suất, hiệu
quả sản xuất ngô và lúa nương trên ñất dốc xã Ia Dom
- Xác ñịnh biện pháp canh tác bảo vệ, ổn ñịnh ñộ phì nhiêu ñất dốc
trồng ngô và lúa nương tại xã Ia Dom
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài:
3.1. Ý nghĩa khoa học :
- Bổ sung thêm luận cứ khoa học cho việc khai thác và sử dụng có
hiệu quả tài nguyên ñất dốc.
- Làm phong phú thêm tư liệu về nghiên cứu và sử dụng ñất dốc ở
Việt Nam nói chung và vùng Tây Nguyên nói riêng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Chỉ ra ñược các giải pháp canh tác ngô và lúa nương phù hợp trên
ñất dốc, trên cơ sở ñó cải thiện và ổn ñịnh ñời sống của cư dân và bảo vệ môi
trường thiên nhiên miền núi.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
ñất là rất khiêm tốn. Độ phì nhiêu ñất bị suy giảm dẫn ñến mất sức sản xuất.
Hướng tiếp cận tốt nhất ñể cải tạo và giữ gìn chất lượng ñất là áp
dụng các biện pháp luân canh, thâm canh, tái sử dụng tàn dư cây trồng và sử
dụng phân hữu cơ, kết hợp phân hoá học trong nông nghiệp, tăng cường áp
dụng các loại cây che phủ, nhất là cây họ ñậu ñể vừa bảo vệ vừa cải tạo ñất.
Cần quan tâm phát triển các kỹ thuật nhằm tăng ñộ che phủ mặt ñất và tính
liên tục của lớp phủ ñể chống xói mòn ñất, tăng cường các quá trình tái tạo
dinh dưỡng, tái tạo các tính chất cơ bản của ñất như cấu tượng ñất, hàm lượng
hữu cơ, ñộ xốp, hoạt tính sinh học, ñộ pH Tất cả những nỗ lực trên nhằm
tạo ñiều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, ñặc biệt ñối
với cây trồng trên ñất dốc (Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne,
2006)[2]
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng ñất dốc trên thế giới:
Đất dốc chiếm một diện tích ñáng kể trong tổng diện tích ñất ñai
toàn cầu. Theo tài liệu của FAO thì diện tích ñất dốc trên toàn thế giới khoảng
973 triệu ha. Ở Châu á ñất dốc chiếm 35% tổng diện tích. Đất dốc việt nam
chiếm tỉ lệ khá cao 75%, Lào 73,7%, Hàn Quốc 49,8%, Malaysia
47,8% (Trích dẫn từ Nguyễn Duy Sơn, 2000)[21]. Vì vậy nghiên cứu có hệ
thống ñối với ñất dốc là ñòi hỏi cấp thiết.
Thực trạng ñã cho thấy, quá trình canh tác trên ñất ñồi núi dốc
không chỉ riêng Việt Nam mà trên toàn cầu nếu không có các biện pháp bảo
5
vệ ñất thì một thời gian không lâu ñất canh tác sẽ bị sụt giảm dinh dưỡng dẫn
ñến quá trình ñất bị thoái hoá bạc màu mất sức sản xuất.
Theo tính toán của Oldeman R.L. và ctv (1990) [36], trong vòng 45
năm (từ 1945 ñến 1990) có 1,97 tỷ hecta ñất bị thoái hoá, trong ñó có khoảng
330 triệu hecta thoái hoá nặng và ước chừng 9 triệu hecta bị thoái hoá trầm
trọng. Các châu lục có diện tích ñất thoái hoá lớn nhất là Châu á: 453 triệu
hecta, châu Phi: 321 triệu hecta, làm ảnh hưởng không nhỏ ñến sức sản xuất
ñất. Coughlan còn cho rằng: khi có 10% ñộ che phủ, lượng ñất xói mòn giảm
từ 30-50% so với ñất trống. Khi tăng ñộ che phủ lên 30% lượng ñất ñược giữ
lại ñến 90%. Một ưu ñiểm nữa của băng chắn theo Sam Fujisaka, (1998) [38]
là làm cho ñộ dốc trong diện tích canh tác giảm dần theo từng năm. Từ năm
thứ nhất ñến năm thứ ba theo thứ tự 9%, 8%, và 7% do sự hình thành dần bậc
thang, vì ñất ñược giữ lại và tích tụ phía trên băng chắn. Do ñó, nhiều nghiên
cứu ñi ñến kết luận: Trồng xen băng chắn hạn chế ñược xói mòn ñất, bổ sung,
phục hồi và duy trì ñược ñộ phì nhiêu của ñất, làm tăng năng suất sắn, ngô,
lúa, mía
Theo Siegfried Lampe (1997) [18], việc sử dụng phân bón có hiệu
lực và cân ñối là chìa khoá cho việc ñưa ñến năng suất bền vững. Tác giả ñã
nhận ñịnh: Một cánh ñồng ñược bón phân sẽ nuôi dưỡng một bộ lá dày ñể
chống xói mòn, hấp thu CO
2
từ không khí nhiều hơn và giải phóng O
2
nhiều
hơn, ñã hạn chế rất lớn về tổn thất do xói mòn, rửa trôi và bay hơi của phân
khoáng. Đồng thời cây trồng ñược bón phân thì hiệu lực sử dụng nước cao
hơn rất nhiều so với cây không ñược bón phân, ñặc biệt là ñối với những vùng
canh tác trên ñất dốc dựa vào nước mưa là chính. Qua theo dõi thí nghiệm cây
lương thực, tác giả còn ñưa ra nhận xét: Bón phân không những làm tăng sinh
khối cây ngô một cách rõ rệt mà còn kéo dài tuổi thọ của lá trên cây, ñồng
thời năng suất tăng từ 20 - 36% và ổn ñịnh nhiều năm so với ñối chứng.
7
Thái Lan là một quốc gia khá thành công trong lĩnh vực sử dụng ñất
dốc. Các công thức ñộc canh lúa nương hiệu quả thấp ñược thay thế bằng ñậu
tương - lúa ñã làm cho tổng giá trị sản phẩm tăng gấp ñôi, mức ñộ xói mòn ít
hơn và ñộ phì nhiêu ñất cũng ñược cải thiện hơn.
Ở Mabini, Thái Lan người ta nghiên cứu các biện pháp trồng ngô
ñáng kể, còn 45 – 85 tấn/ha/năm và năng suất tăng 42% so với công thức
không có các biện pháp bảo vệ ñất.
Cũng tương tự như vậy, khi ñánh giá về ñộ phì nhiêu ñất, Virginia
C. Cuevas và F. C. Diez (1988) [42] kết luận: Giải pháp dùng cây phân xanh
làm băng chắn bảo vệ ñất ñồi núi dốc, kết hợp cắt tỉa lượng sinh khối chất
xanh từ băng chắn vùi vào ñất, ñã duy trì ñược tốt nhất hàm lượng hữu cơ và
ñạm trong ñất, nên năng suất cây trồng cao nhất và ổn ñịnh qua 3 năm liên tục
( 3,7 tấn/ha ñối với lúa nương, 0,431 kg/m
2
ñối với tỏi). Do ñó, có thể nói
băng chắn hạn chế ñược xói mòn ñất, ñồng nghĩa với duy trì ñược ñộ phì
nhiêu của ñất, làm tăng năng suất cây trồng.
Khi nghiên cứu hệ thống canh tác trên ñất dốc Naik Sinukaban
(1994)[35] ñã rút ra ñược kết luận: Khi áp dụng các biện pháp canh tác trên
ñất dốc ñối với cây ngắn ngày như lúa nương, ngô, lạc thì cần phải kết hợp
trồng xen các giống cây phân xanh cây họ ñậu, hoặc sử dụng băng cỏ phủ ñất
và trồng theo ñường ñồng mức sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, năng suất cây
trồng chính sẽ tăng 25 - 50% và mức ñộ thiệt hại do xói mòn, rửa trôi cũng
giảm xuống, ñộ phì nhiêu của ñất ñược bảo vệ tốt hơn.
Việc nghiên cứu về bón phân cải thiện ñộ phi nhiêu của ñất dốc, làm
tăng năng suất cây trồng cũng thường xuyên ñược các nhà khoa học ñề cập.
Theo Ernt Mutert và Thomas Fairhust (1997)[4] nguyên nhân làm cho ñộ phì
nhiêu của ñất dốc kém là do ñộ ñộc của nhôm, mangan, sắt bên cạnh thiếu
lân, canxi, kali Phần lớn ñất dốc xẩy ra phong hoá mạnh và dễ bị rửa trôi
các chất dinh dưỡng. Vì vậy cần bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu và duy
trì ñộ phì nhiêu của ñất bằng cách thông qua con ñường bón phân.
9
Theo Siegfried Lampe (1997)[18] Việc sử dụng phân bón không
ñầy ñủ trong sản xuất nông nghiệp thì hoàn toàn không thể ñáp ứng ñủ lương
thực cho con người và thức ăn gia súc. Sự gia tăng dân số ñã gây áp lực mạnh
lần, ñồng thời xói mòn ñất cũng giảm so với không bón theo thứ tự là 35%,
11% và 19%, còn nếu bón phân cho hệ thống cây trồng xen lạc-sắn có băng
cỏ voi chắn xói mòn hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Tại Philippin, người ta sử dụng biện pháp trồng cây hàng năm theo
băng kết hợp trồng một số cây làm hàng rào theo ñường ñồng mức. Kết quả
cho thấy ñây là biện pháp canh tác bảo vệ ñất chống xói mòn hiệu quả nhất
trên ñất ñồi, giảm lượng nước trôi và ñất xói mòn xuống còn 20 - 70% so với
kỹ thuật của nông dân là trồng dọc dốc. Độ phì nhiêu của ñất cũng ñược cải
thiện thông qua tàn dư hữu cơ từ hàng rào ñược cắt xén vùi vào ñất hàng năm,
năng suất lúa ngô, sắn cũng ñược tăng lên rất ñáng kể, từ 15 – 40%. Hàng rào
trồng theo ñường ñồng mức còn có tác dụng làm giảm ñộ dốc của ñất ñồi,
hình thành ruộng bậc thang dần (Hernandez. L. G. 1996)[31].
Mohd Noor Yusoff (1994)[43] cho rằng: Bón phân hữu cơ cho ñất
ñồi trồng cây ngắn ngày như bắp, lúa cạn hay cây lâu năm như cao su, ñồng
thời trồng xen cây họ ñậu ñã có tác dụng làm tăng ñộ xốp, giảm dung trọng
ñất cũng như vùi tàn dư cây trồng trên ruộng ñã làm tăng pH, giảm nhôm di
ñộng và tăng CEC rất ñáng kể, ñã ñưa năng suất cây trồng tăng 15% ñối với
cao su, 20% ñối với lúa cạn và 33% ñối với bắp.
Việc sử dụng phân bón không chỉ ảnh hưởng tới năng suất, phẩm
chất cây trồng mà còn ảnh hưởng ñến môi trường ñất cũng như tuổi thọ canh
tác của ñất.
Theo Ernst và Thomas Faihurst (1997) [4], canh tác trên ñất dốc, sự
làm giảm ñộ phì là do xói mòn, rửa trôi, ñồng thời cây trồng ñã lấy ñi chất
dinh dưỡng trong ñất ñể tạo nên sinh khối thực vật và sản phẩm của cây. Qua
kết quả nghiên cứu tác giả ñã ñưa ra nhận xét; Khi bón phân khoáng cho cây
trồng canh tác trên ñất dốc sẽ giảm ñược ñộ ñộc của nhôm, mangan và sắt
11
ñồng thời ổn ñịnh ñược lân, canxi, kali trong ñất. Không những phân bón hoá
học mà phân bón hữu cơ ñối với cây trồng và ñất hết sức quan trọng, nó tác
ñộng rất lớn ñến các tính chất khác nhau của ñất tạo cho ñất có môi trường
rằng giải pháp công trình là giải pháp hữu hiệu nhất, vì về cơ bản nó triệt
tiêu ñược dòng chảy, lượng ñất trôi hầu như không ñáng kể, nhưng nông dân
khó thực hiện, và ñó là một biện pháp tốn kém (một hecta mất 300-550
công), hơn thế nữa tầng mùn bị xáo trộn dẫn ñến ñại ña số trường hợp năng
suất cây trồng vụ ñầu ñều thấp, buộc phải ñầu tư phân hữu cơ, phân hóa học
mới có thu hoạch cao. Đào mương ñắp bờ cũng là một biện pháp hữu hiệu:
Đào mương lượng ñất xói mòn giảm 60% và năng suất lúa nương tăng 200%
so với ñối chứng. Giải pháp trồng băng cây phân xanh ngang dốc cho kết
quả khá tốt : Với hai loại cây phân xanh dùng ñể trồng là muồng lá tròn
(Crotalaria strata) và cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis), lượng ñất xói mòn
giảm ñến 70% và năng suất lúa tăng 29% so với ñối chứng. Đặc biệt nếu
trồng cỏ stylo có xen dứa, hàng năm cắt cỏ ép xanh cho dứa, năng suất dứa
tăng 47%, tăng thu nhập cho người dân một cách ñáng kể.
Ở vùng ñồi núi ñất có ñộ dốc trên 10
o
thường chiếm 50 - 60% diện
tích ñất nông nghiệp hiện ñang ñược khai thác. Do ñó nghiên cứu khai thác
ñất nông nghiệp vùng ñồi núi thực chất là vấn ñề nghiên cứu khai thác trên
ñất dốc hay canh tác trên nương rẩy, nghiên cứu quan hệ giữa hệ thống cây
trồng trên ñất dốc với vấn ñề rửa trôi xói mòn ñất, nghiên cứu ứng dụng hệ
thống canh tác nông lâm nghiệp kết hợp trên ñất dốc (Trần Văn Thủy,
2005)[23].
Tác giả Cù Xuân Đồng (1997)[3] ñã ñề nghị: Nhằm bảo vệ ñất dốc
qua tác ñộng của xói mòn rửa trôi, khi canh tác cần sử dụng 2 nhóm biện pháp
chính: Nhóm biện pháp sinh học và nhóm các biện pháp công trình kỹ thuật.
13
Trong ñó cần ưu tiên nhóm biện pháp sinh học vì ñây là biện pháp dễ làm, ít
tốn kém mà mang lại hiệu quả cao. Tác giả còn ñưa ra các biện pháp sinh học
bao gồm: Trồng xen các băng cây họ ñậu giữa các hàng cây trồng chính, cần
trồng xen các loại cỏ có thảm phủ tốt không tranh chấp dinh dưỡng ñối với
tượng thoái hoá này chủ yếu do con người gây ra qua quá trinh canh tác và
thiếu chiến lược khai thác trên quan ñiểm bảo vệ ñất, bảo vệ môi trường sinh
thái cho ngày nay và cho mai sau (Nguyễn Tử Siêm 1999)[19].
Phương thức phát rẫy làm nương theo tập quán quảng canh, ñộc
canh dọc theo sườn dốc là nguyên nhân chủ yếu làm suy thoái nguồn rừng,
nghèo kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và biến những vùng ñất phì nhiêu
trở thành những vùng ñất thoái hoá, bạc màu trơ sỏi ñá do xói mòn, rửa trôi.
Với tập quán canh tác như vậy, chỉ sau 5 năm sử dụng ñất, hàm lượng hữu
cơ giảm một cách ñáng kể, ñặc biệt là trồng cây ngắn ngày (Thái Phiên,
Nguyễn Tử Siêm, 1991) [13].
Lương Đức Loan và ctv (1991)[11] cũng có nhận xét: Chỉ sau 4-5 năm
canh tác lúa nương, sắn và ngô, tổng lượng chất hữu cơ trong ñất giảm 70%
so với lượng hữu cơ ban ñầu mới khai hoang. Hàm lượng hữu cơ mất ñã kéo
theo sự thoái hoá về lý tính ñất, khả năng thấm của ñất giảm.
Ở Tây Nguyên, ñối với ñất trồng lúa, ngô và trồng sắn do hậu quả
của du canh, ñồng thời canh tác theo tập quán của người dân, ñất bị xói mòn
hàng năm từ 119-246 tấn/ha và năng suất cây trồng ngày một giảm (Nguyễn
Xuân Quát, 1994)[17].
Lương Đức Loan và ctv (1986)[10], nhận xét rằng nếu quảng canh lúa
nương, sau 2 - 3 năm, thậm chí sau hơn một vụ, tầng ñất mặt mất khả năng canh
tác bởi các chất dinh dưỡng bị rửa trôi. Các cation kiềm, kiềm thổ trôi dần, trong
khi ñó hàm lượng sắt, nhôm trao ñổi tích luỹ dần (từ 2,44- 4,09 meq/100g ñất
tăng lên 8-12 meq/100g ñất) dẫn ñến ñất bị chua hoá.
Để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và sử dụng lâu bền ñất ñồi
thoái hoá thì cần phải sử dụng các phương pháp canh tác tổng hợp như: Luân
15
canh, xen canh, ñầu tư phân bón, sử dụng cây phân xanh giống họ ñậu làm
băng chắn ñể bảo vệ ñất giảm dòng chảy, giảm cường ñộ xói mòn, ñồng thời
làm tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, Trần Đức Toàn, Huỳnh
Đức Nhân và ctv (1998) [24].
phân bón (Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn 2006)[2]
Đinh Ngọc Lan và ctv (2000) [8], khi nghiên cứu ảnh hưởng của
một số loại cây dùng làm băng phân xanh (vetiver, cốt khí, ñậu công) ñến
khả năng bảo vệ ñất ñã ñưa ra kết luận: Đối với cây nông nghiệp ngắn ngày
như sắn, ngô, lúa nương, trồng băng cây xanh theo ñường ñồng mức chắn
xói mòn ñều có hiệu quả. Tuy nhiên, băng cỏ vetiver tỏ ra hữu hiệu hơn cả,
ñặc biệt là băng kép cỏ vetiver kết hợp với cốt khí ñã làm giảm xói mòn ñất
54,5% so với ñối chứng và năng suất cây trồng (sắn) tăng ổn ñịnh từ 2-2,9
tấn/ha bởi không chỉ chắn xói mòn tốt, mà còn bổ sung một lượng dinh
dưỡng ñáng kể từ thân lá cốt khí sau mỗi lần cắt tỉa hàng năm. Đối với lúa
nương, băng cốt khí trồng theo ñường ñồng mức ñã làm giảm ñáng kể lượng
nước chảy tràn và lượng ñất mất. Tuy nhiên, trồng băng cốt khí kết hợp băm
nhỏ thân lá cốt khí tủ trên bề mặt ñất có tác dụng tốt hơn, với phương pháp
này ñã làm giảm dòng chảy ñến 64%, do vậy lượng ñất mất ñã giảm ñến
57%. Chính những ưu ñiểm ñó năng suất lúa nương tăng một cách ổn ñịnh
từ 15- 20%.
Trong nghiên cứu canh tác truyền thống trên ñất dốc, với vấn ñề
sử dụng bền vững, Thái phiên, Mai Văn Trịnh, Elizabeth (1998) [15] nhận
xét: Các hình thức canh tác nương rẫy không có biện pháp cải tạo, bón phân,
bảo vệ ñất…làm ñất bị rửa trôi, xói mòn, năng suất cây trồng ngày một
giảm, sức sản xuất của ñất giảm sút. Vì vậy tác giả ñã kết luận: Trước sự
giảm sút về năng suất cây trồng, ñất ngày một bị nghèo kiệt thì người dân
cần áp dụng bón phân, ñồng thời kết hợp với những biện pháp chống xói
17
mòn, cụ thể ñối với ngô bón 30kg N/ha + 20kg K
2
O, năng suất ngô tăng lên
2,5tấn/ha so với không bón.
Đối với cây ngắn ngày, canh tác trên ñất dốc áp dụng các kỹ thuật
tiến bộ ñồng thời bón phân cho cây trồng chính, kết hợp trồng băng cây phân
phối hợp NPK và phân chuồng ñã mang lại hiệu quả ñáng kể. Đối với lạc,
ngô, lúa nương, sắn tăng 60 - 70% so với ñối chứng. Đồng thời ñất canh tác
luôn duy trì ñược ñộ phi nhiêu, giảm ñộ chặt của ñất.
Biện pháp canh tác truyền thống của nhân dân ñịa phương là trồng
thuần không ñầu tư hay ñể ñất trống thì lượng nước trôi và ñất mất rất lớn
trung bình hàng năm 2.700 - 3.700m
3
nước trôi/ha, 2,1 - 2,7 tấn ñất mất/ha.
Các biện pháp có ñầu tư phân bón thấp hoặc cao kết hợp trồng xen băng cốt
khí hoặc kết hợp trồng xen keo lá tràm ở tầng cao lượng nước trôi giảm xuống
chỉ còn 56 - 59%, ñất mất 37 - 45% so với ñất trống (Nguyễn Văn Trường,
1994)[25]
Đất bazan ở Tây nguyên năm ñầu khai phá rừng hàm lượng hữu
cơ trong ñất từ 5,5 - 6,2%, nhưng sau 5 năm canh tác lúa, ngô, không ñầu tư
phân bón cũng như không có biện pháp bảo vệ ñất lượng hữu cơ trong ñất
chỉ còn lại 1,8 - 2,3%. Nghiên cứu trên ñất phiến thạch sét (Phú Thọ) cũng
cho kết qủa tương tự: hàm lượng hữu cơ trong ñất ban ñầu là 3,5%, sau 5
năm trồng lúa nương, ngô, sắn, không bón phân lượng hữu cơ chỉ còn lại
0,9%, ñất không còn khả năng sản xuất (Thái Phiên, Trần Đức Toàn, 1997)
[14].
19
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
nhất là tháng 9 (có năm ñạt 502 mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng
01 (có năm chỉ 2,20 mm). Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, tháng có
ñộ ẩm trung bình cao nhất là tháng 8 (91%), tháng có ñộ ẩm trung bình thấp
nhất là tháng 4 (68%)
Tổng diện tích ñất tự nhiên của xã là 14.159,00 ha, chiếm 19,74%
diện tích tự nhiên toàn huyện Đức Cơ, gồm 4 loại ñất chính: Đất nâu tím phát
triển trên ñá Bazan; Đất nâu ñỏ phát triển trên ñá Bazan; Đất nâu thẫm trên
sản phẩm phong hoá của ñá bọt và Bazan; Đất nâu vàng trên ñá Bazan. Ngoài
20
ra còn có các loại ñất khác như: Đất vàng ñỏ, ñất xám, ñất dốc tụ phân bổ
rải rác trên ñịa bàn xã. Nhìn chung ñất vùng Ia Dom thích hợp cho việc phát
triển mạnh cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực thực phẩm và ñồng cỏ
chăn nuôi gia súc.
Tài nguyên nước trên ñịa bàn xã khá phong phú, có nhiều con suối
nhỏ hợp thành những dòng chảy. Tuy nhiên lượng nước phân bố không ñều,
mùa mưa chiếm trên 85% tổng lượng nước và mùa khô chỉ có khoảng 15%
lượng nước do ñó ñã xảy ra hạn cục bộ ở một số vùng gây thiệt hại cho sản
xuất. Trên ñịa bàn xã không có hồ lớn chứa nước phục vụ cho tưới tiêu cũng
như phát triển thuỷ sản.
Toàn xã có 4.118 người với 887 hộ, trong ñó Dân tộc Jrai chiếm
44,27%. Tốc ñộ phát triển dân số của xã còn cao, xấp xỉ 3,8%/ năm. Trình ñộ
dân trí không ñồng ñều và còn thấp nhiều so với bình quân của cả tỉnh Gia
Lai.
Cây trồng chủ yếu của xã là cây lương thực, thực phẩm như: lúa cạn, ngô,
sắn, ñậu các loại… Ngoài ra một số vùng trồng cây công nghiệp dài ngày
như: cao su, cà phê, hồ tiêu…
2.3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng các biện pháp canh tác ñến sinh trưởng,
năng suất lúa nương và ngô trên ñất dốc.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác ñến ñộ phì nhiêu ñất .
Thí nghiệm ñược bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu nhiên, nhắc lại 4 lần.
Diện tích ô cơ sở: 15m x 5m = 75m
2
, tổng diện tích
20 ô x 75m
2
= 1500m
2
.
Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 1: Hướng trên dốc
LẦN NHẮC
I
T1 T2 T3 T4 T5
LẦN NHẮC
II
T4 T3 T5 T2 T1
LẦN NHẮC
III
T2 T5 T4 T1 T3
LẦN NHẮC
IV
T5 T1 T2 T3 T4
Hướng dưới dốc
22
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu biện pháp canh tác ngô bền vững trên ñất dốc
Gồm 4 công thức như sau:
• T1: Ngô thuần không bón phân (ñối chứng)
• T2: Ngô thuần, bón phân
I
T1
T2
T3
T4
LẦN NHẮC
II
T4 T3 T1 T2
LẦN NHẮC
III
T3 T2 T4 T1
LẦN NHẮC
IV
T4 T1 T2 T3
LẦN NHẮC
V
T2 T4 T3 T1
Hướng dưới dốc
23
- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu công thức luân canh ngô
Gồm 4 công thức như sau
• T1: Ngô một vụ
• T2: Ngô hai vụ
• T3: Ngô vụ một, lạc vụ hai
• T4: Lạc vụ một, ngô vụ hai
2
.
Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 3: Hướng trên dốc
LẦN NHẮC
I
T1 T2 T3 T4
LẦN NHẮC
II
T3 T4 T1 T2
LẦN NHẮC
III
T2 T1 T4 T3
LẦN NHẮC
IV
T4 T2 T3 T1
LẦN NHẮC
V
T2 T4 T1 T3
Sau 2 năm nghiên cứu, tiến hành xây dựng mô hình kiểm chứng kết
quả thí nghiệm vào năm 2008, với thiết kế như sau: