Luận văn
Phân tích công tác quản trị chiến lược
tại Công ty sữa Vinamilk
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 1 Nhiều công ty và doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty và doanh nghiệp
nhỏ và vừa họ thường bị cuốn theo vòng xoáy của công việc phát sinh hằng ngày (sản
xuất, bán hàng, tìm kiếm khách hàng, giao hàng,thu tiền,…) hầu hết những công việc này
được giải quyết theo yêu cầu phát sinh, xảy ra đến đâu giải quyết đến đó chứ không hề
được hoạch định hay đưa ra một chiến lược một cách bài bản, quản lý một cách có hệ
thống và đánh giá hiệu quả một cách có khoa học. Các cấp quản lý họ bị các công việc
“dẫn dắt” đến mức lạc đường” lúc nào không biết, không định hướng rõ ràng mà chỉ thấy
ở đâu có lối thì đi, mà càng đi lại càng lạc đường, đó là cái mà các công ty và doanh
nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, bởi hiện nay
chúng ta đang ngày càng cạnh tranh với các công ty, doanh nghiệp hùng mạnh trên thế
giới và việc các công ty, doanh nghiệp phải xác định rõ ràng được mục tiêu, hướng đi,
vạch ra một con đường hợp lý và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu để đảm bảo đi
đến mục tiêu đã định trong quỹ thời gian cho phép. Và quản trị chiến lược cho phép
chúng ta hoàn thiện quá trình đó. Quản trị chiến lược là xương sống của mọi quản trị
chuyên ngành. Ở đâu cần có một hệ thống quản lý bài bản, chuyên nghiệp được vận hành
tốt, ở đó không thể thiếu các cuộc họp quan trọng bàn về quản trị chiến lược, vì vậy mà
nhiệm vụ hàng đầu của bất kỳ một nhà quản trị nào phải hiểu rõ và nhận thức đúng đắn về
công việc này để không để mắc những sai lầm mà đôi khi chúng ta phải trả giá bằng cả sự
sống còn của doanh nghiệp.
Để chuẩn bị cho hành trang đó của chúng tôi, chúng tôi đã tìm hiểu và phân tích
công tác quản trị chiến lược tại Công Ty Sữa Vinamilk và quá trình này được chúng tôi
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 3
2.
Hoat động kinh doanh chiến lược:
- SBU 1: VINAMILK (Sữa chua ăn, Sữa tươi, Sữa chua uống, Sữa chua men sống,
Kem, Phô mai, Sữa bột dành cho người lớn).
- SBU 2: DIELAC (Sữa bột dành cho bà mẹ, Sữa bột dành cho trẻ em).
- SBU 3: RIDIELAC (Bột ăn dặm dành cho trẻ em).
- SBU 4: VFRESH (Sữa đậu nành, Nước ép trái cây, Trà các loại, Nha đam, Smoothie)
- SBU 5: SỮA ĐẶC (Sữa đặc, Sữa ngôi sao Phương Nam).
3. Tầm nhìn, sứ mệnh kinh doanh của doanh nghiệp:
Tầm nhìn:
Vinamilk tập trung mọi nguồn lực để trở thành công ty sữa và thực phẩm có lợi cho
sức khỏe với mức tăng trưởng nhanh, bền vững nhất tại Việt Nam bằng chiến lược xây
dựng các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Sứ mệnh:
Vinamilk không ngừng đa dạng hóa các dòng sản phẩm, mở rộng lãnh thổ phân phối
nhằm duy trì vị trí dẫn đầu bền vững trên thị trường nội địa và tối đa hóa lợi ích của cổ
đông công ty. Vinamilk mong muốn trở thành sản phẩm được yêu thích nhất ở mọi khu
vực, lãnh thổ.
Vì thế Vinamilk tâm niệm rằng chất lượng, sáng tạo là người bạn đồng hành của Công
ty và xem khách hàng là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
4. Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản:
Đơn vị tính: đồng
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Tổng doanh thu 2.459.118.718.694
4.447.108.633.195
3.771.803.246.934
Tỷ suất sinh lời 3.17%
7%
17.76%(Nguồn: Phòng tài chính – Vinamilk) THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 4
PHẦN 1:
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI:
1. Ngành kinh doanh của doanh nghiệp:
Tốc độ tăng trưởng năm 2007 : 6.675 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng năm 2008 : 8.381 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng năm 2009 : 10.820 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng năm 2010 : 16.081 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng năm 2011 : 22.071 tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 35%
2. Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành:
Trong sự phát triển của mình, các ngành phải trải qua các giai đoạn từ tăng trưởng
đến bảo hòa và cuối cùng là suy thoái.
Ngành sữa là một trong những ngành có tính ổn định cao, ít bị tác động của chu kỳ
sẽ tiếp tục phát triển hơn trong tương lai.
3. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô:
4. Đánh giá cường độ cạnh tranh:
• Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng:
Sức mạnh mặc cả của các nhà cung cấp nguyên liệu sữa trong nước hạn chế: Xét về
quy mô ngành chăn nuối bò sữa, 95% lượng bò sữa được chăn nuôi tại các hộ gia đình, chỉ
5% được nuôi tại các trại chuyên biệt với quy mô từ 100 – 200 con trở lên. Điều này cho
thấy người dân nuôi bò tự phát, dẫn đến việc không đảm bảo số lượng và chất lượng làm
giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước. Việc thiếu kinh nghiệm
- Yêu cầu vệ sinh ATTP rất nghiêm ngặt
- Nền chính trị ổn định thuận lợi cho việc kinh
doanh của công ty
- Chính phủ ban hành các chính sách ưu đãi (phê
duyệt 2.000 tỷ đồng cho các dự án phát triển
ngành sữa đến năm 2020)
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 6
Phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nước ngoài: Do hơn 70%
đầu vào là nhập khẩu, giá sữa bột thế giới sẽ gây áp lực lên ngành sữa Việt Nam. Nguồn
nhập khẩu tăng nhẹ trong khi nhu cầu sữa của Đông Nam Á là rất lớn. Diễn biến giá
những năm gần đây khó dự đoán được vì vậy ngành sữa Việt Nam vẫn trong thế bị động.
• Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng:
Khách hàng của Vinamilk chia làm 2 loại: Khách hàng lẻ và nhà phân phối.
Khách hàng lẻ: Các khách hàng cuối cùng, có khả năng gây áp lực lớn cho các công ty về
chất lượng sản phẩm. Hiện tại các sản phẩm sữa rất đa dạng và có thể thay thế cho nhau,
và yếu tố giá cả không phải là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng khi lựa chọn các
sản phẩm sữa. Các công ty cạnh tranh với nhau bằng chất lượng, sự đa dạng của sản phẩm,
sức mạnh thương hiệu rồi mới đến cạnh tranh giá cả.
Quyền lực khách hàng lẻ thể hiện ở:
Vị thế mặc cả: Khách hàng có thể so sánh sản phẩm cùng loại của nhiều công ty khác
nhau để từ đó đưa quyết định mua hay không mua sản phẩm và tạo áp lực về giá cho
công ty.
Thông tin mà người mua có được
Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa
Tính nhạy cảm đối với giá
Sự khác biệt hóa sản phẩm
Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế
Động cơ của khách hàng
Các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh dưỡng: Có khả năng tác động đến quyết
phẩm tốt cho sức khoẻ, khuynh hướng sản phẩm thuận tiện cho nhu cầu sử dụng ở từng
thời điểm và từng địa điểm khác nhau…Như vậy có thể nói, sản phẩm thay thế trong
ngành sản xuất các mặt hàng sữa của Vinamilk phải đối mặt là những sản phẩm được chế
biến với với những nguồn nguyên liệu khác biệt nhưng đảm bảo nguồn dinh dưỡng có thể
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
• Đe doạ từ các sản phẩm gia nhập mới
Sức hấp dẫn của ngành: ngành sữa đang là một ngành sinh lợi và có tốc độ tăng
trưởng cao. Thị trường sữa trong nước được đánh giá là có nhiều tiềm năng trong tương
lai và là thị trường có biên lợi nhuận khá hấp dẫn… Thị trường sữa trong nước có thể duy
trì được mức tăng trưởng tiếp tục trong những năm tới do nhu cầu uống sữa hiện tại ở Việt
Nam còn thấp.
Nhìn chung ngành sản xuất sữa tại Việt Nam có mức sinh lời khá cao, tuy nhiên ở
những nhóm sản phẩm khác nhau có những khác biệt nhất định trong mức sinh lời. Sản
phẩm sữa bột trung và cao cấp đang dẫn đầu về mức sinh lời đạt 40% giá bán lẻ, sữa nước
và sữa chua đạt 30% giá bán lẻ, còn sữa đặc với nhu cầu đang ngày càng giảm dần với
mức sinh lời chỉ đạt 12% giá bán lẻ.
Báo cáo tổng kết thị trường Việt Nam của một công ty sữa đa quốc gia nêu rõ: GDP
Việt Nam tăng khoảng 8%/năm và tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn khoảng trên 20%. Sân
chơi của các doanh nghiệp sữa nằm ở khả năng mua sắm ngày càng lớn của người tiêu
dùng với các khoản ngân sách quốc gia dành cho chiến lược phòng chống, giảm tỷ lệ suy
dinh dưỡng của trẻ còn 15 đến dưới 20% trong vòng 10 năm tới. Các chính sách chăn nuôi
bò đang được đẩy mạnh góp phần tăng cường nguồn nguyên liệu cho các công ty sản xuất
sữa trong nước thay vì nhập khẩu, để tăng sức cạnh tranh. Bên cạnh đó việc Việt Nam gia
nhập WTO một cơ hội lớn cho sữa Việt Nam gia nhập thị trường thế giới và học hỏi kinh
nghiệm trong việc chế biến chăn nuôi và quản lý… để hoàn thiện hơn tạo ra những sản
phẩm sữa chất lượng tốt và giá cả rẻ hơn.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 8
Qua đó chúng ta cũng thấy được mối đe dọa cho ngành sữa Việt Nam là việc hội
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ khiến cho các nhà máy sản xuất sữa nhỏ tại
2. Thị trường:
Các sản phẩm của Vinamilk chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Doanh thu
thị trường nội địa chiểm khoảng 80% trong năm 2008.Trên thị trường Việt Nam có khoản
hơn 23 công ty sản xuất sữa trong đó công ty Vinamilk là công ty lớn nhất với khoảng
38% thị phần ,Dutch lady hiện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Vinamilk với 28 % thị
phần.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 9
Hệ thống phân phối trong nước của Vinamilk được trải rộng bao gồm 1.787 nhân
viên bán hàng, 220 nhà phân phối cùng với hơn 141.000 điểm bán hàng, cao hơn so với
đối thủ Dutch Lady có khoảng 80.000 điểm bán lẻ.
Thị phần trong nước của vinamilk có nhiều khả năng được mở rộng sau sự
kiện Melamine. Một số đối thủ quan trọng của Vinamilk đã gặp những bất lợi từ sự
kiện Melamine và một số sự kiện liên quan đến chất lượng sữa thành phẩm. Trong
điều kiện nhu cầu sữa của Việt Nam vẫn đang tăng trưởng tốt, một số công ty trong
đó có Vinamilk không chịu ảnh hưởng từ các sự kiện trên sẽ có cơ hội để tăng thị
phần .
3. Đánh giá các nguồn lực, năng lực dựa trên chuỗi giá trị của DN:
Các hoạt động chính
Đội ngũ khoa học
nghiên cứu cao,
nhiều sản phẩm
m
ới ra
đ
ời
Dây chuyền sản
xuất khép kín,đạt
tiêu chuẩn
ISO_2001
Có hệ thống phân phối rộng
rãi trên toàn quốc,nhân viên
bán hàng lưu động rộng rãi ,có
nhi
ều ch
ưong tr
ình khuy
ến m
ãi
Dịch vụ chăm
sóc khách hàng
chu đáo,có trang
web tư v
ấn sức
Các sản phẩm đạt tiêu
chi phí bảo quản vật
tư,sản phẩm làm ra
có chất lượng tốt
đáp ứng nhu cầu
khách hàngNguồn nhân lực dồi ở
trong nước cụ thể là ở
địa phương gần nguồn
cung cấp nguyên liệu.
Thêm vào đó là đội ngũ
kĩ sư trình độ cao, nhà
qu
ản lý thông minh
Các hoạt động hỗ trợ
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 10
• Hậu cần đầu ra
Hệ thống tủ mát, tủ đông với một khoản đầu tư lớn công ty đã tạo được một rào cản
cạnh tranh cao và tạo cho sản phẩm của công ty được bảo quản một cách tốt nhất bảo đảm
chất lượng dinh dưỡng.
Vinamilk đã hợp tác với IBM để xây dựng và triển khai cơ sở hạ tầng CNTT theo
yêu cầu, bao gồm hệ thống máy chủ, hệ thống lưu trữ, hệ thống phục hồi sự cố và phần
mềm quản lý ứng dụng. Những giải pháp này mang đến cho Vinamilk khả năng mở rộng
hệ thống, hiệu năng tối đa và mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh.
• Marketing và bán hàng
Vinamilk mong muốn tạo thương hiệu và lòng tin với người tiêu dùng. Mục tiêu ấy
luôn được Vinamilk sắp xếp thành các bước cụ thể. Thay vì nói về tác dụng của sữa, việc
là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, có quyền quyết định tỷ lệ trả cổ tức hàng
năm; phê chuẩn báo cáo tài chính hàng năm; bầu và bãi miễn HĐQT, BKS; bổ sung và
sửa đổi điều lệ; quyết định loại và số lượng cổ phần phát hành; sáp nhập hoặc chuyển đổi
Công ty; tổ chức lại và giải thể Công ty, v.v
Hội đồng quản trị (HĐQT): HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty giữa
hai kỳ ĐHĐCĐ, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề có liên quan
đến mục đích, quyền lợi của Công ty – trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
Ban kiểm soát (BKS): Là cơ quan trực thuộc ĐHĐCĐ, do ĐHĐCĐ bầu ra. BKS
có nhiệm vụ kiểm soát hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty. Ban kiểm
soát hoạt động độc lập với HĐQT và bộ máy điều hành của Ban Tổng Giám đốc.
Ban Tổng Giám đốc: Ban Tổng Giám đốc Công ty gồm Tổng Giám đốc và các
Phó Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm và bãi nhiệm. Các thành viên HĐQT được kiêm
nhiệm thành viên Ban Tổng Giám đốc.
Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu trước HĐQT về việc tổ
chức, quản lý, điều hành toàn diện các hoạt động tác nghiệp hằng ngày của Công ty
theo nghị quyết, quyết định của HĐQT.
Phó Tổng Giám đốc được Tổng Giám đốc phân công, ủy nhiệm quản lý và điều
hành một hoặc một số lãnh vực hoạt động của Công ty. Phó Tổng Giám đốc chịu trách
nhiệm trước Tổng Giám đốc và liên đới trách nhiệm với Tổng Giám đốc trước HĐQT
trong phạm vi được phân công, ủy nhiệm.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 12
4. Xác định các năng lực cạnh tranh:
Các năng lực cạnh tranh:
Vị thế của công ty trong ngành: Vinamilk là công ty sữa lớn nhất cả nước với thị phần
37%. Quy mô nhà máy cũng lớn nhất cả nước với tổng công suất hiện nay là 504 nghìn
tấn/năm, đạt hiệu suất 70%.
Giá trị cốt lõi của công ty:
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 13
- Năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới theo xu hướng và nhu cầu tiêu
dùng của thị trường.
- Hệ thống và quy trình quản lý chuyên nghiệp được vận hành bởi một đội ngũ các
nhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm được chứng minh thông qua kết quả hoạt
động kinh doanh bền vững của công ty.
- Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp cả
nước.
- Thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại và tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế
5. Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
- Vinamilk là thương hiệu của người Việt Nam, được xây dựng bởi bàn tay và khối óc
của người Việt Nam nên chúng tôi đủ sức để cạnh tranh lành mạnh với các DN trong
cộng đồng WTO, bởi chỉ có cạnh tranh mới đem lại sự phát triển.
- Vinamilk là thương hiệu hiện được xếp trong Top 10 thương hiệu mạnh Việt Nam.
Hoạt động hơn 10 năm trong cơ chế bao cấp, cũng như nhiều DN khác chỉ sản xuất
theo kế hoạch, nhưng khi bước vào kinh tế thị trường, Vinamilk đã nhanh chóng nắm
bắt cơ hội, không ngừng đổi mới công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa sản
phẩm để chuẩn bị cho một hành trình mới.
- Từ 3 nhà máy chuyên sản xuất sữa là Thống Nhất, Trường Thọ, Dielac, Vinamilk đã
không ngừng xây dựng hệ thống phân phối tạo tiền đề cho sự phát triển. Với định
hướng phát triển đúng, các nhà máy sữa: Hà Nội, liên doanh Bình Định, Cần Thơ, Sài
Gòn, Nghệ An lần lượt ra đời, chế biến, phân phối sữa và sản phẩm từ sữa phủ kín thị
trường trong nước.
- Không ngừng mở rộng sản xuất, xây dựng thêm nhiều nhà máy trên khắp cả nước
(hiện nay thêm 5 nhà máy đang tiếp tục được xây dựng), Vinamilk đã trở thành DN
hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, chiếm lĩnh phần lớn thị phần sữa tại
Việt Nam, đạt doanh thu hơn 6.000 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách nhà nước mỗi năm
trên 500 tỉ đồng. Công ty Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa
hàng
Điểm yếu
1. Chưa tự chủ được nguồn
nguyên liệu
2. Mẫu mã chưa đa dạng
3. Không quản lý được chất
lượng nguyên liệu đầu vào
4. Chưa có thị phần sữa đặc
lớn
5. Sản phẩm chưa đáp ứng
vóc dáng
Cơ hội
1. Thu nhập
2. Ngân sách NN dành cho phòng
chống suy dinh dưỡng ở trẻ
3. Tỉ lệ dân số trẻ cao
4. Tăng trưởng kinh tế VN cao
5. Nhà nước có chính sách mở
rộng phát triển nuôi bò sữa
Chiến lược SO
S1,S2,S3 & O1,O4,O5: phát
triển thị trường
S1, S2, S4, S5 & O2, O3: chiến
lược tập trung
Chiến lược WO
W2, W4 & O1, O4: chiến
lược khác biệt hóa
Thách thức
1. Giá nguyên liệu nhập khẩu tăng
- Sữa chua các loại: Susu, có đường, trái cây, dâu…
- Phomai Vinamilk
• Đối với phụ nữ: ngoài sản phẩm sữa chua thường phía Vinamilk còn tăng cường
sản phẩm mới giúp phụ nữ luôn tươi trẻ đó là:
Vinamilk Probi là sản phẩm sữa chua lên men từ hàng tỉ men sống Lactobacillus
Casei, hoạt động tích cực trong hệ tiêu hóa, giúp:
- Tăng cường sức đề kháng cho hệ tiêu hóa
- Giúp thanh lọc độc chất từ thực phẩm và môi trường bên ngoài
- Hấp thu tối đa các chất dinh dưỡng
Uống sữa chua men sống Vinamilk Probi mỗi ngày là cách tự nhiên nhất cho một
hệ tiêu hóa khỏe khoắn từ bên trong.
Vinamilk Probi – Trong khỏe khoắn, ngoài tươi xinh
Chiến lược tập trung hóa
Vinamilk là một công ty theo đuổi chiến lược thương hiệu tập trung và đã đạt được
những thành công trong việc thực thi chiến lược này. Việc tái cấu trúc lại thương hiệu với
một thương hiệu lớn (mega brand) Vinamilk đã tập trung xây dựng thương hiệu lớn này
trên nhiều dòng sản phẩm và đã tạo những chiến dịch marketing cũng rất tập trung, lấy lại
thị phần từ Dutch Lady cũng như nâng tầm hình ảnh thương hiệu trong người tiêu dùng.
Thay vì mang lợi nhuận đầu tư sang các ngành bất động sản hay tài chính, Vinamilk tiếp
tục đầu tư cho hệ thống nhà máy sản xuất sữa, mở rộng chiến lược kinh doanh sang ngành
hàng nước giải khát có lợi cho sức khỏe, ngành mà công ty cũng có nhiều lợi thế trong
phân phối và tiếp thị. Chính những chiến lược thương hiệu tập đoàn tập trung và được
thực thi có kỷ luật đã đưa Vinamilk lên một trong những công ty đứng đầu trong thị
trường chứng khoán.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 16
2. Chiến lược tăng trưởng + Các chính sách triển khai
Chiến lược chuyên môn hóa
có thể tận dụng hệ thống phân phối sữa hiện có để bán bia. Đó là chưa kể, SAB Miller với
thương hiệu mới Zorok còn xa lạ với thị trường bia Việt Nam.
Vì thế, đầu năm 2009, Vinamilk đã chuyển nhượng cổ phần của mình trong liên
doanh nhà máy bia này cho đối tác nước ngoài. Với sản xuất cà phê hòa tan, sau 5 năm
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 17
phát triển, Vinamilk đã phải chuyển nhượng nhà máy (đặt tại Bình Dương) cho Công ty cổ
phần Trung Nguyên.
Ba dự án mà Vinamilk đang đẩy nhanh tiến độ trong giai đoạn 2011-2012 gồm: nhà
máy sản xuất sữa nước công suất 800 triệu lít/năm tại Khu công nghiệp Mỹ Phước (Bình
Dương), với vốn đầu tư 120 triệu USD; nhà máy chế biến sữa bột tại Khu công nghiệp
Việt Nam - Singapore, vốn đầu tư 120 triệu USD, công suất 52.000 tấn/năm; nhà máy sản
xuất sữa tươi, sữa chua tại Khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng), vốn đầu tư 23 triệu
USD.
Ba nhà máy mới của Vinamilk được kỳ vọng sẽ giúp Công ty có thể đạt doanh thu
1 tỷ USD vào năm 2012. Việc đưa liên tiếp 3 nhà máy sữa mới đầu tư, đều có công suất
lớn vào hoạt động sau một thời gian dài không có đầu tư lớn cho thấy, nhà sản xuất sữa
hàng đầu Việt Nam đã nhận thấy giá trị của lĩnh vực kinh doanh chính.
Việc Vinamilk rút khỏi các dự án bia và cà phê hòa tan cho thấy, không dễ gì “với
tay” sang các lĩnh vực mới lạ, nếu không dồn sức lực và chất xám.
Chiến lược tích hợp
Năm 2011 là năm thứ hai Vinamilk vận
hành và tích hợp hệ thống quản trị rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của mình. Một năm thăng trầm với nhiều khó khăn thách thức
cũng như hãnh diện với những thành công quan trọng, góp phần nâng cao giá trị cho Công
ty. Trên
cơ sở
những nền tảng đ
ược
hoàn thiện trong năm 2011, rất nhiều thách thức và
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 18
nghiệp đồng bộ, tích hợp giữa viễn thông và CNTT do Viettel tri
ển khai. Hệ thống quản
lý này không làm thay đổi phần mềm quản lý hiện có của Vinamilk, mà còn tích h
ợp với
các h
ệ thống quản lý doanh nghiệp sẵn có, đảm bảo thông suốt. Tất cả dữ liệu của
Vinamilk, từ nhà phân phối đến nhân viên bán hàng trên toàn quốc sẽ đư
ợc quản lý một
cách đồng nhất, giúp tăng hiệu quả cho công tác nâng cấp, bảo trì, sao lưu và ph
ục hồi
hệ thống khi có nhu cầu.
Phát biểu tại lễ ký kết, bà Mai Kiều Liên, nhấn mạnh: “Vinamilk mong muốn v
à
tin tưởng hệ thống phần mềm quản lý bán hàng trực tuyến sẽ trở thành cánh tay đ
ắc lực
giúp Vinamilk ph
ản ứng nhanh và chính xác với các diễn biến trên thị trư
ờng, nhằm gia
tăng chất lượng dịch vụ khách hàng, nâng cao uy tín doanh nghi
ệp, nâng cao hiệu quả
quản lý, quản trị doanh nghiệp và góp phần đưa Vinamilk trở th
ành 1 trong 50 công ty
sữa lớn nhất thế giới vào năm 2017. Sự hợp tác này sẽ mở đầu cho một giai đoạn c
ùng
đi lên và phát triển của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam”.
Lễ ký kết hợp tác xây dựng, triển khai phần mềm bán hàng trực
tuyến giữa Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk và Viettel.
Giải pháp bán hàng trực tuyến của Viettel cung cấp dịch vụ hoàn chỉnh từ hạ tầng,
điểm như: dễ dàng huy động vốn, rủi ro thấp hơn. Bên cạnh đó thì loại hình công ty
này chịu nhiều sự kiểm soát ràng buộc của pháp luật.
Cấu trúc tổ chức của công ty theo cấu trúc ma trận vì thế bộ máy quản lý cồng kềnh
và khó khăn trong việc quản lý.
Cơ cấu bộ máy của công ty: THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 20
Ma trận SWOT của công ty Vinamilk:
Những điểm mạnh (S) Những điểm yếu (W)
1. Quy mô kinh doanh đang dẫn đầu thị trường
sữa Việt Nam
2. Thương hiệu Vinamilk là thương hiệu quen
thuộc và được người Việt Nam tin dùng
trong 34 năm qua.
3. Hệ thống phân phối mở rộng ra cả nước và
liên tục được mỏ rộng qua các năm giúp đưa
sản phẩm của công ty nhanh chóng đến tay
người tiêu dùng.
4. Sản phẩm đạt chất lượng tốt và được người
tiêu dùng yêu thích
5. Chuỗi các nhà máy được bố trì dọc Việt Nam
giúp giảm chi phí vận chuyển, được đầu tư
máy móc thiết bị hiện đại, được nâng cấp và
mở rộng mỗi năm, sản phẩm đảm bảo tiêu
chuẩn quốc tế
6. Mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp
trong và ngoài nước giúp cho công ty có
nguồn cung cấp nguồn hàng hợp lý và giá cả
ổn định. Hiện nay, công ty đang thu mua
sản phẩm mới về kiểu cách mẫu mã và chất
lượng.
4. Thu nhập của người dân ngày càng tăng lên,
nhu cầu sản phẩm càng cao và họ quan tâm
đến nhiều sản phẩm chăm sóc sức khỏe nhiều
hơn.
1. Thị trường sữa bột trong nước đang có cạnh
tranh gay gắt từ các sản phẩm nhập ngoại
2. Đối thủ luôn luôn có những sản phẩm mới và
cách marketing tốt hơn
3. Các đối thủ nước ngoài có cách xâm nhập thị
trường và marketing tốt hơn.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 21
2. Phong cách lãnh đạo chiến lược:
Định hướng con người
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là chiến lược đầu tư cho sự thành công trong
tương lai của công ty. Vì thế các nhân viên của Vinamilk sẽ có cơ hội được đào tạo nhằm
hoàn thiện các kỹ năng, kiến thức đáp ứng được yêu cầu và thách thức trong công việc.
Các khóa đào tạo về chuyên môn kỹ thuật cũng như các buổi tham gia huấn luyện thực tế
được công ty tổ chức thường xuyên trong và ngoài nước. Vinamilk vạch ra con đường
phát triển nghề nghiệp cụ thể cho bạn và chúng tôi mang đến các chương trình đào tạo phù
hợp nhất giúp bạn nâng cao hiệu quả làm việc.
Định hướng nhiệm vụ
- Tiếp tục hoàn thiện và phát triển doanh nghiệp hơn nữa.
- Giữ vững là doanh nghiệp đi đầu trong ngành sản xuất sữa tại Việt Nam
- Đa dạng hóa về sản phẩm, chủng loại.
- Nâng cao năng lục quản lý, đầu tư các nguồn lực (con người và môi trường làm
việc).
- Phát triển thương hiệu mạnh, mở rộng kênh phân phối trong và ngoài nước.
dựng một nền văn hoá doanh nghiệp ưu việt chỉ duy nhất có tại Vinamilk. Đó là một trong
những yếu tố quyết định đến sự thành công của Vinamilk ngày hôm nay. Có thể nói hiện
tượng văn hóa Vinamilk là một bài học quý giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam muốn
phát triển bền vững và có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, trước mắt khi nước ta
chính thức gia nhập WTO thì vấn đề đặt ra ở đây chính là sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong chính thị trường nội địa. Đã qua rồi những ngày chạy vạy sao cho được ăn no
mặc cho ấm, ngày nay do sự phát triển của xã hội nhu cầu của con người ngày một nâng
cao không phải là ăn no mặc ấm nữa mà là ăn ngon mặc đẹp, thích sự sành điệu hợp thời
trang, sản phẩm chọn mua không phải chỉ cần chất lượng tốt mà còn cần mẫu mã đẹp, dịch
vụ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp chính vì vậy văn hóa kinh doanh ngày càng có
vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Những tiếng chuông cảnh báo cho các
doanh nghiệp đã vang lên, hỡi các doanh nghiệp hãy lắng nghe và tiếp thu những nhu cầu
của khách hàng để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhằm thúc đẩy doanh nghiệp mình
phát triển, đưa nền kinh tế nước nhà lên những tầm cao mới.
Hướng về cộng đồng: Trong nhiều năm qua, Vinamilk luôn được biết đến là DN
hàng đầu hướng về cộng đồng cùng các hoạt động từ thiện xã hội. Mới đây, Vinamilk đã
tổ chức đoàn trực tiếp đến thăm hỏi, động viên và trao quà cho người dân 5 tỉnh Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế bị ảnh hưởng bởi lũ lụt với tổng số tiền
1,7 tỷ đồng (trước đó Vinamilk cũng hỗ trợ khẩn cấp người dân vùng lũ 100 triệu đồng).
Số tiền và hàng hóa này do hơn 4.000 cán bộ công nhân viên Vinamilk trên khắp cả nước
tham gia đóng góp. Đoàn công tác của Vinamilk đã vào các huyện vùng sâu, xa như Can
Lộc, Hương Khê (Hà Tĩnh), Minh Hoá, Bố Trạch (Quảng Bình)…để trao quà trực tiếp.
Ngoài ra, đoàn còn phối hợp với Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT và Tỉnh đoàn Quảng Bình
hỗ trợ trực tiếp cho các em học sinh tiểu học gặp khó khăn, tặng quà cho các cá nhân tiêu
biểu cứu người trong lũ dữ (mỗi cá nhân 2 triệu đồng), tặng 30 chiếc thuyền composite
làm phương tiện hỗ trợ công tác cứu nạn tại xã Cồn Đảo, Quảng Minh, Huyện Quảng
Trạch, Quảng Bình (năm 2009,Vinamilk hỗ trợ người dân miền Trung khắc phục hậu quả
cơn bão số 9 và số 11 gần 2 tỷ đồng tiền mặt và 200 triệu đồng là hàng hóa). Bên cạnh đó,
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 23
2011
V1000 DN đóngthuế thu nhập lớn nhất
(đứng hàng 22)
VN500
2011
Top 200 doanh nghiệp (DN) tư nhân nộp thuế
thu nh
ập doanh nghiệp lớn nhất VN năm 2011,
Vinamilk đã tiếp tục đạt vị trí Top 5
Công ty Cổ phần Báo cáo đánh
giá Việt Nam THỰC HIỆN: NHÓM 2 – K7HK3 Trang 24
Đề ra chiến lược phát triển cho công ty là một chuyện và việc tìm kiếm áp dụng các
nguồn lực để thực hiện được chiến lược đó là cả một vấn đề. Điều mà bản thân các công ty
tự hỏi là chiến lược đó của công ty sẽ thực hiện như thế nào và trong bao lâu và chiến lược
đó đã phù hợp với công ty hay không, quá ít hay quá khả năng.
Đề ra một chiến lược cho công ty không phải là một điều dễ dàng, đó là một quá
trình nghiên cứu của các nhà quản trị, khi đề ra một chiến lược cho công ty một nhà quản
trị phải tìm hiểu một cách rõ ràng những nhân tố bên ngoài tác động đến công ty và những
khả năng mà công ty có thể cung ứng cho chiến lược ấy đạt được mục tiêu.
Một chiến lược tốt là một chiến lược rõ ràng cụ thể phù hợp với xu thế khả năng
của công ty. Khi đã đề ra được chiến lược thì việc thực hiện chiến lược phải luôn sát cánh
bên những chiến lược mà công ty đã đưa ra, quan trọng là nguồn lực của công ty phải luôn