ĐỀ TÀI THẢO LUẬN : PHÂN TÍCH
MQH BIỆN CHỨNG GIỮA NHẬN
THỨC VÀ THỰC TIỄN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 1
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI
KHOA : THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ, K46
Lớp học phần : 1016MLNP0111
Thành viên nhóm 7:
1. Nguyễn Tài Nguyên (nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Ngọc Ngà
3. Nguyễn Thị Thúy Ngân
4. Nguyễn Thị Nhung
5. Phạm Thị Hồng Nhung
6. Trần Trọng Phúc
7. Trịnh Hồng Phúc
8. Nguyễn Thu Phương
9. Đỗ Văn Phượng
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 3
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận.
THỰC TIỄN VÀ TÍNH CHẤT THỰC TIỄN 4
NHẬN THỨC VÀ TÍNH CHẤT NHẬN THỨC 6
BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ THỰC TIỄN – NHẬN THỨC 13
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN – NHẬN THỨC 17
Ý NGHĨA PHƢƠNG PHÁP LUẬN 24
mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Khác với các loại hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người
sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định,
làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và bản
chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng
phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy hoạt động thực tiễn bao
giờ cũng có tính mục đích, mang tính sáng tạo, tính lịch sử, xã hội.
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
1. Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người dùng những công cụ lao động tác động
vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết để nhằm duy trì sự
tồn tại và phát triển của mình.
- Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động bằng : lao động phổ thông, (chân tay), lao
động trí óc, cộng với các phương tiện, dụng cụ lao động, máy móc kỹ thuật để sản
xuất và tái sản xuất mở rộng ra vật chất (sản phẩm, hàng hóa) phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng và xã hội.
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 5
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. Ví dụ hoạt động sản xuất ra lúa gạo, hoa màu, thức ăn, nước uống SX kinh doanh
ra vải vóc, quần áo, hàng hóa tiêu dùng, xây dựng nhà cửa Phát minh ra các loại xe
máy, ô tô, máy móc phục vụ cho công nghiệp
2. Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các đoàn thể, tổ chức quần chúng,
6
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. ANGGHEN đã viết: “từ trước tới nay Khoa học tự nhiên cũng như Tự nhiên hoàn
toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ. Hai môn
ấy, một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng, nhưng chính người ta
biến đổi tự nhiên… là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ
con người đã phát triển song song với việc người ta học cải biến tự nhiên”.
2. NHẬN THỨC VÀ TÍNH CHẤT NHẬN THỨC
Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự
phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và
không ngừng tiến đến gần khách thể.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản
ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích
cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các
thành tựu khoa học, C. Mác và Ph. Angghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng
duy vật về nhận thức. Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý
luận nhận thức vì đã xây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản
chất của nhận thức. Học thuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người.
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi
nhận thức là sự phản ánh thê giới khách quan vào bộ óc con người, là hoạt động
khách quan của chủ thể; thừa nhận không có gì là không thể nhận thưc được mà chỉ
có cái con người chưa nhận thức được.
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và
tư liệu phong phú, cụ thể; nó trực tiếp gắn chăt với hoạt động thực tiễn, tạo thành cơ
sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết, khái quát
và tông kết thành lý luận mới. Tuy nhiên nhận thưc kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ
nó chỉ dừng lại ở sự mô tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ sự quan
sát và thí nghiệm trực tiếp. Do đó nó chỉ đem lại những mặt hiểu biết về các mặt riêng
rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưa phản ánh được các bản chất, nhưng mối liên hệ mang tính
quy luật của các sự vật, hiện tượng. vì vậy nhận thức kinh nghiệm tự nó không bao
giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu. Ngược lại, mặc dù được hình thành
từ sự tổng kết những kinh nghiệm, nhưng nhận thức lý luận không hình thành một
cách tự phát, trưc tiếp từ kinh nghiệm do tinh độc lập tương đối của nó, lý luận có thể
đi trước nhưng dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thúc kinh
nghiệm có giá trị, lựa chọn nhũng kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực
tiễn, góp phần lam biến đổi đời sống của con người, thông qua đó mà nâng những tri
thức kinh nghiệm từ cái là chỗ cụ thể, riêng lẻ đơn nhát thành cái khái quát, có tính
phổ biến.
Nhận thức thông thƣờng là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát,
trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. Nó phản ánh sự vật, hiện
tượng xảy ra với tất cả những đăc điểm,chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau
của sự vật. Vì vậy nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn
liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày, Vì thế, nó có vai trò thường xuyên
và phổ biến chi phối hoạt động của mọi người trong xã hội.
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 8
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận.
Cảm giác: là hình thức nhận của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp
vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết
quả của sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 9
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. thức. Lenin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Nếu dừng
lại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật.
Điều đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắm được một cách
tương đối trọn vẹn sự vật. Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao
hơn".
Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự vật
đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người. Tri giác là sự tổng hợp các
cảm giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú
hơn. Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có
tính trực quan của sự vật. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là
thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật
ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người. Do vậy
nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn.
Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật
do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các
giác quan. Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố
gián tiếp. Bởi vì, nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các
giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp. Cho nên biểu tượng
liên kết khái niệm "dân tộc Việt Nam" với khái niệm "anh hùng". Theo trình độ
phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại là phán đoán
đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim loại) và
phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện). Ở đây phán đoán phổ
biến là hình thức thể hiện sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng.
Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ mới biết được mối liên hệ giữa
cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán
đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối quan hệ
giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến. Chẳng hạn qua các phán
đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì
giữa đồng với các kim loại khác còn có các thuộc tính giống nhau nào khác
nữa. Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhận
thức suy luận.
- Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để
rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới. Thí dụ, nếu liên
kết phán đoán "đồng dẫn điện" với phán đoán "đồng là kim loại" ta rút ra được
tri thức mới "mọi kim loại đều dẫn điện". Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo
trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có
được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mới
một cách nhanh chóng và đúng đắn.
Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
- Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.
- Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý
tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự
vật.
Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai. Nói
cách khác, thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được. Do đó, thực
chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng. Do đó, tri thức lý luận thể hiện
chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, có
quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận
thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể. Vì
nó gắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ
sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận. Ngược lại, mặc dù
được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách
tự phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước
những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị,
lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn. Thông qua đó mà
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 12
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái
khái quát, phổ biến.
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững bản chất, chức năng của từng
loại nhận thức đó cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương
pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và
bệnh giáo điều.
b) Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức được hình
thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. Nó
phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và
của toàn nhân loại cũng như của mỗi con người đã chứng minh rằng, những tri thức
mà con người đã và đang đạt được không phải bao giờ cũng phù hợp với thực tế
khách quan; trái lại có nhiều trường hợp không phù hợp, thậm chí là đối lập với thực
tế khách quan.
Khái niệm chân lý được dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế
khách quan; sự phù hợp đó được chứng minh bởi thực tiễn.
Theo Lê-nin “Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình : tư tưởng
(=con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng,một
bức tranh (=hình ảnh) đơn giản, lờ mờ, nhợt nhạt, không khuynh hướng, không vận
động.
K. Marx: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan
hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí".
Ngoài ra, khi xem xét về các tính chất của chân lí, người ta đưa ra 4 tính chất: tính
khách quan, tính tƣơng đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể. Nói về mối quan hệ
thống nhất biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lí, Lenin viết:
"Chân lí tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lí tương đối đang phát triển;
chân lí tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập
với nhân loại; những phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lí khoa
học, dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lí tuyệt đối".
3. BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ
THỰC TIỄN
Mối liên hệ giữa nhận thức và thực tiễn ra sao? Trước tiên ta cần phải hiểu Mối liên
hệ là phạm trù triết học như thế nào? Tính chất của nó ra sao?
Các mối liên hệ mang tính đa dạng, mỗi lĩnh vực khác nhau của thế giới và biểu hiện
những mối liên hệ khác nhau, rất phong phú và nhiều vẻ. Mỗi loại mối liên hệ khác
nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
có thể phân chia theo từng cặp như mối liên hệ bên ngoài và bên trong, chủ yếu và
khoa học, giáo dục, tuyên truyền không phải là thực tiễn. Bản thân khoa học chỉ có
khả năng đem lại bức tranh lý tưởng về thế giới trong nhưng đặc trưng, bản chất của
nó. Vấn đề cũng không thay đổi cả khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất vật chất
trực tiếp. Bởi khi đó, bản thân lực lượng sản xuất tồn tại với tư cách là hình thức
được đối tượng hoá của khoa học, còn khoa học vân tiếp tục là hình chức hoạt động
tinh thần của con người, là sự phản ánh lý tưởng hiện thực.
2.Tính chất của mối quan hệ
Đúng là thực tiễn không thể thiếu nhận thức.Song luận điểm đó không chứng tỏ sự
đồng nhất của hai hình thức hoạt động khác nhau là thực tiễn và nhận thức.
Thứ nhất cần lưu ý rằng tham gia vào thực tiễn chỉ gồm có các kết quả đã đạt được
trong quá trình nhận thức trước đó. Các kết quả đó đối với hoạt động nhận thức có
một giá trí độc lập, còn đối với hoạt động thực tiễn thì chỉ là cơ sở lý luận, có giá trị
như là một mô hình của tương lai. Ý thức và sản phẩm của nó ( mục đích, mô hình, lý
tưởng), trong trường hợp này, không có một giá trị độc lập, nó không có nhiệm vụ cải
biến đối tượng cảm tính của tự nhiên hay xã hội.
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 15
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. Thứ hai, đương nhiên là có một cơ chế (cho dù nó chưa được nghiên cứu đấy đủ) để
đưa các kết quả hoạt động nhận thức vào thực tiên. Chính cơ chế này đã chế định
một khuynh hướng nghiên cứu mới - nghiên cứu triển khai. Đây là một lĩnh vực mới
mẻ, đòi hỏi chúng ta phải có những nỗ lực to lớn. Song một điều hiển nhiên là thực
tiễn cải tạo xã hội do quần chúng tiến hành đòi hỏi phải hoạch định mục đích, chương
trình, phải nhận thức các nhiệm vụ chiến lược và sách lược. Chính vì vậy mà nó
16
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. Từ đó suy ra rằng thực tiễn và nhận thức không thể là tuyệt đối đối lập với nhau. Tính
tương đối của sự đối lập ấy trước hết được quy định bởi điều là: Quan hệ nhận thức
của con người với thế giới không bao giờ có thề là quan hệ tuyệt đối biệt lập với thực
tiễn. Hơn nữa, quan hệ nhận thức luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và phát
triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội. Nó, rốt cuộc, phải dựa trên cơ sở quan hệ
thực tiễn với hiện thực. Đến lượt mình vốn là hoạt động của chủ thể có ý thức và ý
chí, thực tiễn luôn bao hàm quan hệ nhận thức của chủ thể với khách thể với tư cách
là vòng khâu đặt mục đích của hoạt động thực tiễn.
Song, sự đối lập tuyệt đối đó không có nghĩa là không có sự đối lập tuyệt đối giữa
nhận thức và thực tiễn.Nhận thức do thực tiên chế định và phục vụ thực tiễn, song
chúng có tính độc lập tương đối, mang những đặc trưng riêng của hoạt động. Cả khi
tạo thành một thể thống nhất trong khuôn khổ của hoạt động xã hội, chúng vẫn là
những mặt khác nhau của hoạt động đó. Chỉ khi được đưa vào thực tiễn, ý niệm, tư
tưởng, nhận thức mới có thể "cải tạo" thế giới. Nếu dừng lại trong lĩnh vực ý thức,
chúng không có khả năng cải biến một cái gì ngoài khả năng ý thức. Các tư tướng, tự
chúng, không phải là thực tiễn, mô hình lý tướng về xã hội tương lai thiếu sự cải tạo
vật chất chỉ là mô hình nhận thức.Cần phái nhấn mạnh tính đặc thù, tính độc lập của
nhận thức để không rơi vào chủ nghĩa thực dụng thiển cận, để phát hiện ra các quy
luật phát triển của riêng nhận thức, tính kế thừa lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã
hội khác nhau.
Song, cũng cần nhấn mạnh một điều khác là: Tính độc lập tương đối của nhận thức
là có tính chất tương đối. Thí dụ, nhận thức cách mạng hoàn toàn không phải là thực
tiễn cách mạng. Tuy nhiên vốn được sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội,
không biết đối chiếu tri thức với đối tượng và do vậy, họ đã bất lực trước các lý lẽ của
chủ nghĩa duy tâm và bất khả lý luận. Nếu tuyệt đối đối lập thực tiễn với nhận thức,
thì chúng ta cũng sẽ vấp phải vấn đề đó. Vậy, đâu là bước chuyển từ lý nhận thức
đến thực tiễn? Trong khi đó cuộc cách mạng được C.Mác thực hiện trong nhận thức
luận chính là ở chỗ: ông đã đưa thực tiễn vào nhận thức ở lĩnh vực mà ý thức tuyệt
đối đối lập với vật chất, Mác đã phát hiện ra khâu trung gian, bước chuyển từ cái ý
niệm đến cái vật chất và từ cái vật chất đến cái ý niệm. Thực tiễn xã hội hoàn thành
vai trò thước đo chân lý và cơ sở của nhận thức chính là do nó không đối lập tuyệt
đối mà đối lập tương đối với ý thức về mặt nhận thức luận và do nó luôn là hệ thống
những hoạt động nhằm đạt tới mục đích xác định. Do vậy, không nên tuyệt đối hoá cả
tính chủ quan lẫn tính khách quan của thực tiễn.
Quan hệ giữa thực tiễn và nhận thức là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ
thể. Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng. Nắm bắt được tính chất biện chứng
của quá trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng ta luôn có được một lập
trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng như chủ
nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông.
4. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN VÀ
NHẬN THỨC A. TÁC ĐỘNG CỦA NHẬN THỨC ĐẾN THỰC TIỄN
- Nhận thức khoa học vận dụng vào một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và
sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 18
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận.
thức, song chúng có những chức năng nhiệm vụ khác nhau. Nếu nhận thức cảm tính
gắn liền với thực tiễn, với sự tác động của khác thể cảm tính, thì nhận thức lý tính,
nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bản chất, quy luật vận động và
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 19
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. phát triển sinh động của sự vật, giúp nhận thức cảm tính có được sự định hướng
đúng đắn và trở nên sâu sắc hơn.
+ Quy luật chung, có tính chu kỳ lặp đi lặp lại của quá trình vận động, phát triển của
nhận thức là : Từ thực tiễn đến nhận thức từ nhận thức – từ nhận thức trở về với
thực tiễn…quá trình này lặp đi lặp lại không có điểm dừng cuối cùng, trình độ nhận
thức và thực tiễn ở chu kỳ sau thường cao hơn chu kỳ trước, nhờ đó mà quá trình
nhận thức đạt dần tới những tri thức ngày càng đúng đắn hơn và sâu sắc hơn về
thực tại khách quan.
- Hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và có hiệu quả một khi con người vận
dụng được những tri thức đúng đắn về thực tế khách quan trong chính hoạt động
thực tiễn của mình. Thực tiễn phát triển nhờ sử dụng những nhận thức đúng đắn đạt
được trong hoạt động thực tiễn.
- Thực tiễn phát triển là nhờ những vận dụng đúng đắn những nhận thức chân lý mà
con người đã đạt được trong quá trình thực tiễn của mình.
B. TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN ĐÊN NHẬN THỨC
Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức
và là tiêu chuẩn của chân lý,kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức.Sở dĩ như
tương tự bộ não và các giác quan con người.
Như vậy cả về phương diện lý luận và thực tiễn, khoa học hiện đại hay nói
cách khác hơn là nhận thức đóng vai trò nền tảng trong quá trình nhất thể hoá. Hơn
nữa, tư tưởng cấu trúc của khoa học còn phản ánh sâu sắc sự thống nhất vật chất
của thế giới. Về phương diện Toán học, sự thống nhất của toán học với thế giới quan
triết học biểu hiện ở chỗ chúng xác nhận những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy
vật: tư tưởng về sự thống nhất vật chất của thế giới và tính có thể nhận thức được
của thế giới đó. Các khoa học khác như vật lý học, sinh học đã có những đóng góp
quan trọng vào việc luận chứng cho sự thống nhất này. Có thể nói rằng cùng với sự
phát triển của khoa học và thực tiễn các lý thuyết toán học ngày càng có khả năng đi
sâu vào việc luận chứng cho tư tưởng về sự thống nhất vật chất của thế giới. Chẳng
hạn, cùng một phương trình có thể diễn tả sự phân huỷ chất phóng xạ, sự sinh sản
của vi khuẩn, sự tăng trưởng của nền kinh tế
Như vậy, tư tưởng cấu trúc của toán học hiện đại góp phần quan trọng vào sự
nhận thức những cơ sở nền tảng của sự tổng hợp tri thức vốn chứa đựng nội dung
thế giới quan, phương pháp luận sâu sắc. Đồng thời nó là một trong những cơ sở
khoa học để luận chứng cho thế giới quan duy vật biện chứng về sự thống nhất vật
chất của thế giới.
Ví dụ: từ sự đo đạc ruộng đất, đo lường vật thể mà con người có tri thức về toán học.
Chính thông qua hoạt động thực tiễn nó luôn luôn nảy sinh nhu cầu mới thúc đẩy
nhận thức phát triển vì thế mà nói thực tiễn là động lực của nhận thức,chẳng hạn: từ
nhu cầu chữa trị các căn bệnh hiểm nghèo mà thúc đẩy nhận thức của con người
khám phá ra bản đồ gen người ,từ nhu cầu thực tiễn quan sát các vật bé nhỏ mà
thúc đẩy nhận thức con người sáng tạo ra các kính hiển vi.
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 21
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn.
Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là nhằm cải
tạo hiện thức kháchquan , đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần xã hội. Sự
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 22
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận. hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực
tiễn.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì xét đến cùng nhận thức là nhằm phục vụ hoạt
động thực tiễn và nâng cao hiệu quả thực tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân
lý vì các tri thức của con người đc khái quát, tổng kết chưa chắc đã đúng do vậy các
tri thức ấy phải đc kiểm tra đối chứngtrong thực tiễn nếu đó là đúng thì đó là chân lý.
Các tri thức khoa học chỉ có giá trị khi nó đươc vận dụng vào thục tiễn.
Ví dụ: Nhà bác học Điêzen đã viết giả thuyết về động cơ sử dụng chất thải công
nghiệp làm nhiên liệu và giả thuyết của ông đã được ứng dụng để chế tạo ra các loại
động cơ chạy dầu như hiện nay.
Thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển do vậy nó luôn đặt ra những nhu
cầu những nhiệm vụ những xu hướng trong quá trình nhận thức đã thúc đẩy ra đời
mạnh mẽ, tự nhiên và xã hội ngày nay nhiều môn học mới, ngành học mới ra đời trên
cơ sở nhu cầu cuộc sống của con người (tin học, dân số học, bình đẳng giới, môi
trường học, hà nội học, Việt Nam học ) đều do thực tiễn con người đòi hỏi.
Vậy mục đích của quá trình nhận thức không chỉ để nhận thức mà để cải tạo hiện
thức khách quan theo nhu cầu lợi ích của con người do vậy thực tiễn vừa là động lực
vừa là mục đích của nhận thức.
cơ bản của triết học Mác- Lê nin nói chung và nhận thức mácxít nói riêng.
Như vậy,thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức,là yếu tố đóng vai trò
quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức
phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.
KẾT LUẬN VÈ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
- Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức:
Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý
thức, là nguồn gốc sinh ra ý thức.Não người là dạng vật chất có tổ chức cao, là cơ
quan phản ánh để hình thành ý thức.Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh
của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới
khách quan.Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức quyết định nội dung của ý
thức.
- Ý thức có tính độc lập tƣơng đối tác động trở lại vật chất.
Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất có tính năng động sáng tạo
nên có thể tác động trở lại vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông
qua hoạt động thực tiễn của con người.
Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động
thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
Ý thức phản ánh ko đúng hiện thực khách quan ở mức độ nhất định có thể kìm
hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 24
NHÓM 07
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức. Ý
nghĩa phƣơng pháp luận.