TÌM CỘI NGUỒN CỦA NGÔN NGỮ VÀ Ý THỨC doc - Pdf 15


class="bi x2 y2 w2 h3"
TÌM CỘI NGUỒN
CỦA NGÔN NGỮ VÀ Ý THỨC

Trần Đức Thảo(Đoàn Văn Chúc dịch) Tìm thứ nhấtĐộng tác chỉ dẫn như là hình thức gốc của ý
thứcTìm thứ haiNgôn ngữ hỗn hợpI. Sự tiến triển của dụng cụ


B. Những nguồn gốc của dấu hiệu biểu hiện trong
sự phát triển dự-thành nhânC. Dấu hiệu chỉ dẫn phức hợpD. Công thức chung của sự biểu hiện đối tượng
vắng mặtE. Dấu hiệu biểu hiện hỗn hợp của hình thức
dụng cụ tínhF. Sự bắt chước trì hoãn như là dấu hiệu biểu hiện
hỗn hợp nhấn mạnh của sự vận động của đối tượng vắng
mặtCâu chức năngA. Những hình thức sơ đẳng của câu chức năngNhững hình trực tiếp của sự liên lạc cử chỉ tính
III. Bi kịch sinh học của người nữ và sự ra đời
người-chế tác (homo-faber)IV. Dấu hiệu của người đàn bà dương vật và
ngữ nghĩa ƠđipiênV. Biểu tượng thiến và phức cảm Ơđíp nữVI. Từ „Ơđíp“ néanderthalien đến Ơđíp ấu thơ Nguồn: Theo bản gốc Pháp văn Recherches sur
l’origine du langage et de la conscience của Nxb
Editions Sociales, Paris, 1973. NXB Văn hoá Thông tin
1996Ebook: tovanhung (www.thuvien-ebook.net)

Lời nói đầu
Nếu hỏi một bạn đọc Trần Đức Thảo là ai,
hẳn anh ta lập tức nói là một trong những nhà triết
học của Việt Nam và (với đôi chút ngần ngừ) của
cả thế giới nữa. Nếu hỏi tiếp ông ta đã viết những

này, đã có học vị tiến sĩ, nhưng khi viết sách vẫn
không quên chua thêm vào là “cựu sinh viên” của
trường Đại học Sư phạm. Năm 1939, Trần Đức
Thảo thi vào trường đỗ cao, và đến năm 1943 tốt
nghiệp thủ khoa, nhận được học vị thạc sĩ với luận
án La méthode phénoménologique chez Husserl
(Phương pháp hiện tượng luận ở Husserl) Bấy giờ
một số tờ báo ở Pháp và ở Đông Dương coi đây là
một sự kiện đặc biệt, biểu hiện của một tài năng
thiên phú. Sau đó, Trần Đức Thảo đăng kí làm
luận án tiến sĩ về hiện tượng luận Husserl.
Nhưng chiến tranh thế giới II tràn vào Pháp và
Cách mạng tháng Tám thành công ở Việt Nam.
Trần Đức Thảo tích cực tham gia vào những hoạt
động yêu nước ở Pháp và hướng lòng về Việt
Nam. Bấy giờ, hiện tượng luận, trong việc xử lý
mối quan hệ giữa hiện tượng và bản thể, đã chia
thành hai nhánh. Một chú trọng hơn đến hiện
tượng, cái nghiệm sinh, coi hiện tượng là có trước
và tạo ra bản chất. Hai coi bản chất là cái có
trước, và hiện tượng chỉ là sự hiện thực hoá nó.
Nhánh trước dẫn đến chủ nghĩa hiện sinh. Nhánh
sau dẫn đến chủ nghĩa Marx. Nhiều trí thức Pháp
với tinh thần cá nhân đi theo con đường thứ nhất.
Trần Đức Thảo, với tư cách là người Việt Nam,
không thể tách cá nhân mình ra khỏi vận mệnh
dân tộc, đã chọn con đường thứ hai: chuyển từ
hiện tượng luận sang chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Thế là xảy ra cuộc tranh luận nổi tiếng giữa
nhà triết học Việt Nam với nhà văn, triết gia hiện

đăng dần trên tạp chí La Pensée (Tư tưởng) từ
năm 1966 đến 1970, và năm 1973 được Editions
Sociales (Xuất bản xã hội) in dưới tiêu đề Tìm cội
nguồn của ngôn ngữ và ý thức. Sau khi sách ra đời
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ở châu Âu, và
được in ở Mỹ năm 1981.
Sau đại hội VI, Trần Đức Thảo cho ra đời
cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không
có con người” (NXB TP Hồ Chí Minh, 1988). Năm
1992, Trần Đức Thảo được sang Pháp chữa bệnh
và lấy thêm tư liệu để viết công trình La logicque
du présent vivant (Logic của cái hiện tại sống
động). Nhưng tiếc thay, cuốn sách chưa hoàn
thành thì ông ngã bệnh và qua đời ở Paris ngày
19-04-1993. Di hài Trần Đức Thảo được đưa về
Hà Nội và chôn ở nghĩa trang Văn Điển. Có thể nói,
cái chết của Trần Đức Thảo đã thức dậy ở độc giả
Việt Nam ham muốn tìm hiểu tác phẩm của ông.
Việc xuất bản các bài giảng của ông dưới tiêu đề
Lịch sử tư tưởng trước Mác (NXB Khoa học Xã hội,
1995) là một bằng chứng. Việc có người dầy công
nghiền ngẫm và dịch cuốn Tìm hiểu cội nguồn của
ngôn ngữ và ý thức là một bằng chứng khác.
Con người sở dĩ thành người chính là ở chỗ nó
có ý thức. Ví dụ nổi tiếng của Marx về sự khác
nhau giữa một con ong khéo léo nhất với một kiến
trúc sư tồi nhất đã nói lên điều đó. Nhưng ý thức
bắt nguồn từ đâu và có từ bao giờ; đó là niềm băn
khoăn lớn của nhân loại và cũng là câu hỏi mà
Trần Đức Thảo muốn trả lời bằng cuốn Tìm cội

Ngôn ngữ hỗn hợp là nghiên cứu thứ hai của
cuốn sách, tìm hiểu sự sinh thành của ý thức qua
những biểu thị ngôn ngữ gắn với sự phát triển của
công cụ người. Con khỉ chỉ biết dùng cơ quan tự
nhiên của nó để sử dụng một dụng cụ, còn con
người thì dần dà biết dùng dụng cụ để chế tác ra
công cụ, như việc dùng một hòn đá để ghè một
hòn đá khác thành rìu. Muốn đẽo được thành rìu
thì ít nhất trong óc nó phải có hình ảnh của một đối
tượng vắng mặt và một ngôn ngữ biểu thị cái đối
tượng vắng mặt đó. Dựa theo những dữ kiện mà
các giai đoạn sản xuất tiền sử cung cấp, cũng như
ở tâm lý học trẻ em, Trần Đức Thảo đã phân tích
rất tỉ mỉ sự hình thành ý thức ở homo faber (người
chế tác).
Nghiên cứu thứ ba về Những nguồn gốc của
khủng hoảng Ơđíp. Xuất phát từ sơ đồ của Freud,
nhưng Trần Đức Thảo không cho rằng Ơđíp là một
nguyên bản có nguồn gốc từ quan hệ của trẻ em
với cha mẹ và cần thiết cho sự phát triển cái tôi
của nó, mà là một dư sinh của những giai đoạn
nhất định trong sự phát sinh loài. Thực ra, trong
Vật tổ và cấm kị, Freud cũng đã cho ơđíp có một
nguồn gốc lịch sử, nhưng Trần Đức Thảo phê phán
ông là không đúng khi đồng nhất xã hội người với
bầy động vật. Nhà triết học giải thích mặc cảm
Ơđíp bằng bi kịch sinh học của người đàn bà. Thời
đá cũ sơ kì sản phụ tử vong rất nhiều vì xương
chậu chưa kịp phát triển thích hợp khi con người
đứng thẳng. Do nạn khan hiếm phụ nữ nên lớp

những người chủ trương kết hợp Marx với Freud,
một xu hướng triết học - tâm phân học lớn ở Tây
phương với những tên tuổi như E. Fromm (La Peur
de la liberté, 1941, L’Art d’aimer, 1954), H.
Marcuse (Eros et civilisation, 1995, l’Homme
unidimentionel, 1964)… Ông đã viết báo cáo để
khẳng định lại vấn đề này. Cuốn Vấn đề con người
và chủ nghĩa “lý luận không có con người” được
viết ra để phản bác lại L. Althusser, nhà triết học
Pháp muốn kết hợp Marx với cấu trúc luận. Trần
Đức Thảo muốn bảo vệ sự thuần nhất của triết
học Mác-Lê.
Tuy không phải là một triết gia (người sáng lập
những triết thuyết, mà chỉ là một nhà triết học
(người nghiên cứu, giảng dạy triết học) nhưng Trần
Đức Thảo là một người suốt đời bận tâm triết học.
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn về vật
chất hoặc tinh thần, không làm ông thôi suy tư về
nó. Điều đáng quý hơn nữa là ông luôn có ý thức
không để mình lạc hậu so với trình độ tri thức
chung của thế giới. Vì thế, người ta thấy ông lúc
nào cũng đọc, đọc rất nhiều từ dân tộc học, nhân
học tiền sử, đến tâm lý học trẻ em, tâm phân
học… Nhưng có ý thức là một chuyện, còn kịp thế
giới lại là một chuyện khác, bởi phụ thuộc vào
phẩm cách cá nhân một phần, phần khác vào môi
trường thông tin. Bởi vậy, ngày nay đọc sách của
Trần Đức Thảo, bạn đọc có thể thấy đây đó một
số tư tưởng đã cũ, một số những kết luận đã bị tư
liệu mới vượt qua, hoặc những lập luận tuy nhất

chúng. “Cái phân biệt ngay từ thoạt kỳ thủy- Marx
viết- người kiến trúc tồi nhất với con ong thành
thạo nhất, ấy là người kiến trúc đã xây dựng cái cơ
cấu trong đầu ông ta trước khi xây dựng nó bằng
sáp. Kết quả mà lao động đi tới, tiền tồn một cách
ý tưởng trong trí tưởng tượng của người lao động.”
[1]

“Như thế, những người đầu tiên xuất hiện ở thời kỳ
tiền- chélléen, với hoạt động sản xuất, đã có một
hình thức sơ đẳng của ý thức”. Nhưng liệu đó đã
phải
hình thức sơ đẳng
nhất? Nếu cho rằng đó là
hình thức sơ đẳng nhất, chúng ta phải giải thích nó
trực tiếp bằng sự phát triển của hoạt động dụng cụ
tính như nó bắt đầu xuất hiện ở vượn. Mà đó là
điều khó có thể, bởi sự sử dụng những vật tìm
thấy trong thiên nhiên làm dụng cụ chỉ là một
công
việc thích nghi
với hoàn cảnh hiện diện. Hình thức
của dụng cụ tự nhiên có thể thay đổi từng lúc,
miễn sao nó cho phép thoả mãn cách này hay
cách khác nhu cầu tức thời. Ngược lại, sự biểu hiện
của công cụ bao hàm hình ảnh về một hình thức
ổn định, cố định trong bản thân nó một lần là
xong. Thói quen của sự hoạt động dụng cụ trong
những điều kiện tự nhiên tất sẽ làm cho chủ thể
động vật khéo léo hơn, nhưng người ta không hề

cách có thói quen lao động thích nghi, nhưng vẫn
chưa đạt tới hình thức sản xuất đặc thù của xã hội
người. Vậy ấy là ở trình độ mà chúng ta phải tìm
hình thức nguyên thủy của ý thức, như nó nảy
sinh trong dòng đi của sự phát triển của hoạt động
dụng cụ tính, là cái, bắt rễ trong sự tiến hóa động
vật, thực thao sự chuyển đoạn sang loài người.

*
Ý thức phải được khảo cứu trước hết trong “tính
hiện thực trực tiếp” của nó: ngôn ngữ, tất nhiên
hiểu theo nghĩa chung, là ngôn ngữ cử chỉ và ngôn
ngữ khẩu thiệt. Ngôn ngữ vốn được cấu thành
ngay trên bản than động tác lao động thích nghi,
bắt đầu từ trình độ người vượn: “Trước hết là lao
động, rồi sau đó và đồng thời với nó là ngôn ngữ:
đấy là hai kích thích tố chủ yếu, do ảnh hưởng của
chúng mà bộ óc con vượn dần dần biến thành bộ
óc của người,” Engels viết như vậy.
[3]

Những con vượn, mà chúng ta đã biết, không thực
sự nói tiếng nói. Vô số thủ đoạn diễn đạt của
chúng- cử chỉ, tiếng kêu… liên quan nhiều đến
phương diện xúc động, chủ yếu sinh học, của tình
thế. Chúng cũng có thể dung những tín hiệu cho
những ứng xử nào đó nhưng không có ý nghĩa
thực sự, với tư cách là ý nghĩa về đối tượng, điều
ấy chứng minh sự vắng mặt ở con vượn mối quan
hệ hữu thức với đối tượng như được diễn đạt cụ

giác nó đem lại cho nó chỉ được xác định tùy theo
các khả năng hoạt động của chính thân thể nó-
được nối dài nhiều hay ít bởi những vật thể khác
mà nó có thể điều khiển. Vậy đối tượng đối với nó
là cái nó có thể thực tại
đụng tới
, trực tiếp hay qua
một trung gian: đó chính xác là điều con khỉ đột
làm với miếng thịt, bằng trung gian của bàn tay
chủ nó là cái, có thể nói, nối dài động tác của chính
bàn tay nó. “Và đúng là bởi hình ảnh tâm thần về
đối tượng trình ra như thế là tiếp cận với những
động tác ảo đã được phác thảo ít nhiều trong
chính thân thể con vật, mà con vật thì thấy mình
bất lực để
chỉ dẫn
đối tượng từ xa, dù khoảng
cách ấy chỉ rất ngắn. Nói khác, nó không có hình
ảnh về khoảng cách với ý nghĩa là khoảng cách,
đến mức nó tri giác rõ đối tượng ngoại tại nhưng
không tri giác đối tượng là
ngoại giới
trong tính
ngoại hiện khách quan. Mà tính cách chủ yếu nhất
của tri giác người, với tư cách
tri giác hữu thức
lại
cụ thể là nhằm vào đối tượng ngoại giới
là ngoại
giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status