Luận văn tốt nghiệp: Lý thuyết tài chính tiền tệ - nợ công ở Việt Nam - Pdf 15


Luận văn tốt nghiệp

Lý thuyết tài chính tiền tệ - nợ công ở Việt Nam

**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 1

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯỜNG I: LÝ LUẬN CHUNG 3
1. Nợ công 3
1.1 Khái niệm 3
1.2. Phân loại 5
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 6
1.4. Các hình thức vay nợ và công cụ vay nợ công 7
1.5. Quản lý nợ công 8
2. Khủng hoảng nợ công 9
2.1. Khủng hoảng nợ công là gì? 9
2.2. Đặc điểm của khủng hoảng nợ công 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG 11
1. Thực trạng nợ công ở một số nước trên thế giới 11
1.1. Khủng hoảng nợ công 11
1.2. Nguyên nhân khủng hoảng và hậu quả 14
2. Thực trạng nợ công ở Việt Nam 15
2.1. Tình hình sử dụng nợ công 17

Nếu như năm 2008 đánh dấu một mốc đen tối trong lịch sử kinh tế của hầu khắp
các quốc gia trên thế giới với cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng xuất phát từ
“bong bóng thị trường bất động sản Mỹ” thì sang đến cuối năm 2009, hệ thống kinh tế
toàn cầu lại một lần nữa chao đảo trước nguy cơ công phá mạnh mẽ của khủng hoảng
nợ công châu Âu. Bùng nổ trước tiên ở Hy Lạp, hiệu ứng domino của khủng hoảng nợ
công nhanh chóng lan rộng sang các quốc gia trong khối cộng đồng chung EU, tiếp đến
là các nền kinh tế lớn nhỏ khác nhau trên thế giới, báo hiệu nguy cơ trở thành vấn nạn
nhức nhối trong thời gian kéo dài.
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 3

Từ đầu năm 2010 đến nay, thế giới liên tục tiếp nhận vô vàn thông tin về tình
hình nợ công của các nước châu Âu, những biện pháp đặc biệt được đưa ra, những gói
cứu trợ khẩn cấp từ nhiều tổ chức kinh tế khác nhau như IMF, ECB,…để giảm thiểu
nguy cơ vỡ nợ của các Chính phủ. Thêm vào đó, song hành với tình trạng bất lực trước
khủng hoảng của nhiều khu vực kinh tế hiện nay, khủng hoảng nợ công châu Âu còn
biểu hiện nguy cơ lan truyền nhanh và khả năng biến tướng thành khủng hoảng nợ công
toàn cầu.
Vấn đề nêu trên không chỉ tác động xấu đến nền kinh tế của các nước trong vòng
xoáy nợ công, mà hơn thế nữa, còn đe dọa nghiêm trọng tới sự phát triển của kinh tế thế
giới nói chung và trở thành mối quan tâm lo ngại to lớn đối với nhiều quốc gia, trong đó
có Việt Nam.Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu về khủng hoảng nợ công và rút ra bài học
kinh nghiệm trong quản lý nợ công ở Việt Nam là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách
đối với nước ta trong thời điểm hiện tại.
Để làm rõ vấn đề này, bài tiểu luận của nhóm chúng em sẽ đi sâu phân tích cơ sở,
thực trạng, nguyên nhân, tác động của khủng hoảng nợ công, phân tích và đánh giá sơ
bộ diễn biến tiếp theo, từ đó đưa ra một số giải pháp và công cụ khắc phục hợp lý, hiệu
quả nhằm giải quyết vấn đề này. Bài làm cũng tập trung liên hệ vấn đề khủng hoảng nợ

khu vực tài chính công và nợ của khu vực phi tài chính công. Trong đó:
- Khu vực tài chính công gồm: Các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng trung ương, các tổ
chức tín dụng Nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay
mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
- Khu vực phi tài chính công gồm: Chính phủ, tỉnh thành phố, chính quyền địa
phương, các doanh nghiệp phi tài chính Nhà nước.
 Theo quan điểm của Luật quản lý nợ công Việt Nam: Nợ công bao gồm: nợ
chính phủ; nợ được Chính phủ bảo lãnh; nợ chính quyền địa phương.
Như vậy, xét theo khái niệm này, cần lưu ý là không tồn tại sự đồng nhất giữa:
“Nợ chính phủ” và “nợ công”. Nợ chính phủ trong trường hợp này chỉ là một trong ba
yếu tố cấu thành nên nợ công.
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 5

Đối với ba cách định nghĩa trên, tuy mỗi cách mang tính đặc thù riêng và
thích hợp để sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau song chúng đều có
chung một số đặc điểm như: là khoản tiền nợ liên quan đến chính phủ và hoạt động
của chính phủ, mục đích là để tài trợ bù đắp cho thâm hụt ngân sách Do đó, để
đơn giản hóa cách thức tiếp vận vấn đề và đảm bảo tính logic khi phân tích, nghiên
cứu khủng hoảng nợ công ở các phần tiếp theo, có thể hiểu khái quát về nợ công
thông qua khái niệm sau:
Nợ công, còn gọi là Nợ chính phủ hay Nợ quốc gia, là tổng giá trị các
khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay
nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách.
Sử dụng cách định nghĩa này, ta cần quan tâm tới một số lưu ý sau đây:
- Khái niệm đưa ra đã đồng nhất Nợ chính phủ với Nợ công và Nợ quốc gia.
- Định nghĩa này được áp dụng tại phần lớn các quốc gia trên thế giới, những
nước đi theo hướng kinh tế thị trường thực chất, không tồn tại thành phần doanh nghiệp

này sử dụng định nghĩa nào đối với vấn đề nợ công của mình.

1.2. Phân loại:
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau, nợ công có thể được chia thành nhiều
bộ phận riêng biệt, có mối quan hệ tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Sau đây là
ba trong số những các phân loại chủ yếu được sử dụng đối với các khoản nợ công của
mỗi quốc gia, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu: của quốc gia đó.
 Phân loại theo nguồn vay nợ:
- Nợ trong nước: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư trong nước
- Nợ nước ngoài: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư nước ngoài.
Trong thực tế, khi tiến hành thống kê và tính toán giá trị nợ công ở một số nước,
trong đó có Việt Nam, người ta thường chỉ quan tâm đến khoản nợ nước ngoài mà mặc
nhiên bỏ qua các khoản nợ trong nước. Đây là một hạn chế cần sửa đổi; bởi lẽ, thiếu sót
này nhiều khi đưa đến kết quả không chính xác cho giá trị nợ công của một quốc gia,
gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc nhận thức kịp thời và đúng đắn tình trạng
nợ của đất nước mình để hoạch định các chính sách ứng phó kịp thời và hợp lý.
 Phân loại theo chủ thể nợ:
- Nợ của Chính phủ: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 7

khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy
định của pháp luật; không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nợ của chính quyền địa phương: là các khoản nợ do ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
- Nợ được chính phủ bảo lãnh (áp dụng đối với khái niệm Nợ công bao gồm

bù lạm phát cho các khoản nợ đã đến hạn thanh toán.
Thứ tư, lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của
chính phủ. Cơ chế tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác
nhau đề đối tượng hưởng lãi.
Thứ năm, tỷ giá cũng có tác động tới việc vay nợ nước ngoài. Sự biến động
của tỉ giá ảnh hưởng đến chi phí của khoản nợ công: có thể tăng lên (khi tỉ giá tăng)
hoặc giảm đi (khi tỉ giá giảm).

1.4. Các hình thức vay nợ và công cụ vay nợ công
Dựa vào đặc điểm và điều kiện cho vay của các khoản vay nợ, các hình thức
vay nợ được chia vào hai nhóm chính là: vay nợ gián tiếp (chủ yếu thông qua phát
hành trái phiếu) và vay nợ trực tiếp từ trong và ngoài nước. Mỗi cách vay nợ có ưu,
nhược điểm riêng, thích hợp sử dụng cho những hoàn cảnh riêng, trong điều kiện
xếp hạng tín dụng và vị thế nhất định của mỗi quốc gia.
 Vay nợ gián tiếp:
Chính phủ các nước có thể tiến hành vay nợ gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân
để bù đắp thâm hụt ngân sách thông qua việc phát hành các công cụ nợ như: tín
phiếu, trái phiếu, hình thức chứng chỉ Trái phiếu trong trường hợp này được
hiểu theo nghĩa rộng, gồm có: trái phiếu (T-bonds), trái phiếu chính quyền địa
phương (Municipal Bonds), trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc và trái
phiếu công trình. ; trong đó, trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là
không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để
thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 9

(thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát
hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán.


đều mang tính tiêu cực. Do đó, vấn đề đặt ra trước hết là phải quản lý nợ công như thế
nào cho hiệu quả.
Hướng dẫn quản lý nợ công của IMF/WB-2001 chỉ rõ: “mục tiêu của quản lý nợ
công là đảm bảo nhu cầu tài chính của chính phủ được đáp ứng với chi phí thấp nhất
trong trung và dài hạn phù hợp với mức độ rủi ro”. Thông qua chính sách và kế hoạch
phát triển riêng của từng quốc gia, mục tiêu này đã được cụ thể hóa, thể hiện thông qua
các nội dung chủ yếu trong quản lý nợ công, bao gồm:
- Bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với vấn đề cơ cấu, quy
mô và sử dụng nợ công.
- Nâng cao và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về nợ công
- Xây dựng các chiến lược quản lý nợ cụ thể và hiệu quả.
- Xây dựng các mô mình quản lý rủi ro trong hoạt động quản lý nợ.
- Đề xuất và thực thi phát triển thị trường chứng khoán Chính phủ

2. Khủng hoảng nợ công
2.1. Khủng hoảng nợ công là gì?
Cũng giống như tình trạng đa khái niệm của nợ công, tùy thuộc vào từng góc
độ nhìn nhận và đánh giá sự kiện, khủng hoảng nợ công được cắt nghĩa theo các cơ
sở khác nhau. Hiểu một cách khái quát nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi thâm hụt
ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó vượt quá khả năng kiểm soát, điều tiết
và trả nợ của chính phủ, dẫn đến suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm
trọng.
Trải qua thời gian dài vận động phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung,
khái niệm về vấn đề khủng hoảng nợ công cũng được thay đổi nhiều lần và riêng rẽ
đối với từng tổ chức, khu vực độc lập.
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 11

**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 12

Dù các khái niệm nêu trên diễn đạt khủng hoảng nợ công theo các cách khác
nhau, có thể thấy rõ rằng mọi định nghĩa đều bao chứa những nội dung cơ bản
tương đồng. Đó là: Khủng hoảng nợ công xảy ra khi chính phủ một quốc gia không
thể trả được nợ và buộc phải tìm kiếm, cầu viện đến các sự trợ giúp khác.

2.2. Đặc điểm của khủng hoảng nợ công
Dựa vào những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra một số đặc trưng quan
trọng mang tính bản chất đối với các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới.
Một là, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làm suy
giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh
tế.
Hai là, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc
gia đang phát triển. Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường
xuyên tái diễn ở các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, khủng hoảng nợ hoàn
toàn có khả năng xảy ra ở những nước phát triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng
một cách tương đối cao và ổn định.
Ba là, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một
thời gian, kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính
trị - văn hóa - xã hội.
Bốn là, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chính phủ
quốc gia xảy ra sự kiện. Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín
nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốc gia,
niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trở thành
mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG

nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lên đến 172% GDP (so với mức khoảng
120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ) trong khi thâm hụt ngân sách của
nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản hỗ trợ mới.
Và cho dù Hy Lạp có nhận được tiền tài trợ mới, được giãn nợ thì cũng
không có nghĩa là Hy Lạp có thể tránh được chuyện bị các tổ chức xếp hạng
tín nhiệm dán nhãn “vỡ nợ”. Điều đó đồng nghĩa với việc mối lo khủng
hoảng nợ sẽ tiếp tục có thể tác động xấu đến thị trường cổ phiếu, nhất là các
cổ phiếu ngân hàng, và trái phiếu.
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 14

Thật khó dự đoán được điều gì sẽ xảy ra nếu Hy Lạp bị xếp hạng vỡ nợ
và do đó, nhiều nhà đầu tư lại quay sang mua vàng và bán đi các trái phiếu
chính phủ có vấn đề khác như Ý. Điều này không những chỉ đẩy giá vàng
tăng mà còn đang tạo ra một hiệu ứng lây lan có thể khiến Ý trở thành nạn
nhân mới của cuộc khủng hoảng nợ.
+ Sau Hy Lạp, Ý cũng trở thành mối quan tâm của thị trường tài chính cũng
như báo chí. Trước hết, lãi suất trái phiếu chính phủ của Ý đột nhiên được thị
trường đẩy lên quá nhanh. Cụ thể là đợt đấu giá 1,25 tỉ euro trái phiếu thời
hạn năm năm gần đây của Ý đã có lợi suất trung bình là 4,93%, cao hơn
nhiều so với mức 3,9% của tháng trước. Điều này cho thấy thị trường đang
đánh giá rủi ro vỡ nợ của Ý đã tăng lên đáng kể.
Thực tế không thể phủ nhận là Ý có mức nợ công cao, tăng trưởng chậm
và có một chính phủ bị xem là thiếu hiệu quả và không minh bạch. Trường
hợp nếu Ý thực sự thiếu tiền trả các khoản nợ ngắn hạn sẽ gây nhiều lo ngại
lớn Ý là nền kinh tế lớn thứ ba trong khu vực sử dụng đồng euro và quy mô
khoản nợ của nước này cũng lớn tương ứng trong khi tăng trưởng của nước
này vốn dĩ là chậm chạp còn dân số Ý thì thuộc nhóm dân số già.

1.2. Nguyên nhân khủng hoảng và hậu quả:
* Nguyên nhân:
- Do những khoản nợ nước ngoài khổng lồ ngày càng gia tăng. Trong khủng
hoảng, các khoản nợ tư có xu hướng chuyển thành nợ công.
- Một điều bất cập là, một quốc gia có nợ nước ngoài cao, trong khi cư dân
của họ cũng nắm giữ một lượng tài sản lớn của nước ngoài. Trong trường
hợp này, Chính phủ phải đối mặt với trường hợp, quốc gia có thể vỡ nợ trong
khi người dân của mình vẫn có thể hưởng lợi nhuận từ tài sản nước
ngoài.Ngay cả khi điều này xảy ra, Chính phủ có thể giải quyết bằng cách,
kêu gọi người dân bán tài sản nước ngoài và mua trái phiếu Chính phủ trong
nước thay thế.
- Tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công
- Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm 2008 làm trầm trọng thêm
vấn đề.
- trong suốt thời gian dài Chính phủ Hy Lạp đã phải ngụy tạo các báo cáo về
tình hình kinh tế trong nước, sắp xếp lại các giao dịch nhằm che dấu mức
vay thực tế, nhằm phù hợp với các quy định gia nhập, giám sát của EU và có
thể chi tiêu cao hơn.
* Hậu quả:
- Các thị trường ngày càng mất tin tưởng nhau. các ngân hàng không tin
tưởng nhau, thành ra ngày càng ít cho mượn tiền nhau. Vừa lo ngại về khủng
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 16

hoảng nợ kéo dài, các thị trường chứng khoán châu Âu còn sợ là kinh tế Mỹ
sẽ lại lâm vào suy thoái, nhất là sau khi ngày thứ sáu vừa qua, các số liệu về
việc làm ở Mỹ không lấy gì là khả quan.
- Khủng hoảng nợ công tại châu Âu ngày càng trầm trọng, Một đợt tháo

càng trở nên thâm hụt. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ
công bền vững, đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư
ngân sách ngày mai. Hơn thế, thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã trở thành kinh
niên và mức thâm hụt đã vượt qua ngưỡng “báo động đỏ” 5% theo thông lệ
quốc tế, khiến tính bền vững của nợ công càng bị giảm sút. Theo báo cáo của
Bộ Tài Chính, ước tính đến ngày 31.12.2010 nợ công là 56,7% GDP; trong khi
Ngân hàng Thế giới đưa ra mức quy định ngưỡng an toàn nợ công là 50% GDP.
- Tuy nhiên, các khoản vay nước ngoài phần lớn đều là vay dài hạn, với lãi suất
ưu đãi, hiện tại nợ công không gây sức ép cho ngân sách nhà nước về nghĩa vụ
trả nợ đến hạn.
Việt Nam là một nước đang phát triển nên rất cần nguồn vốn để đầu tư phát
triển thì nợ công vẫn là nguồn tài chính quan trọng cho việc chi đầu tư phát triển
và bù đắp thâm hụt ngân sách.
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 18

- Nợ công vẫn đang trong giới hạn an toàn, phần lớn các khoản vay nước ngoài
của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất cố định và ưu đãi. Hình thức huy động vốn
ngày càng đa dạng và linh hoạt.Thể chế chính sách dần được hoàn thiện, công
tác quản lý nợ ngày càng tốt hơn, dần tiếp cận thông lệ quốc tế.
- Tuy vậy, việc gia tăng nợ công vẫn tạo ra những nguy cơ rủi ro cho nền
kinh tế vĩ mô. Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,
thâm hụt ngân sách thường được tài trợ bằng cách vay trong nước và vay
nước ngoài. Việc quản lý và chất lượng sử dụng nguồn vốn vay của Việt
Nam hiện nay rất yếu kém. ), Vì đầu tư không thể tăng mãi nên đến một lúc
nào đó, tốc độ tăng trưởng sẽ phải giảm không đủ bù đắp thâm hụt ngân
sách, trả các khoản nợ vay tới hạn làm ảnh hưởng rất nhiều đến tính bền
vững của nợ công .

đồng vốn nữa.
2.2. Tình hình trả nợ công
Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định và
hầu như không có sự gia tăng đáng kể về giá trị, trung bình hàng năm Việt Nam
dành ra trên 3,5% GDP để chi trả nợ và viện trợ. Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm
dần qua các năm, từ 9,09% năm 2006 xuống còn 6,53% năm 2010. Trong khi
đó, quy mô của các khoản nợ công ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt với
gần 20%/năm; mặt khác, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại
nhiều bất cập như chậm trễ trong giải ngân và sự kém hiệu quả trong sử dụng
vốn vay vào các dự án đầu tư. Vì đầu tư không thể tăng mãi nên đến một lúc nào
đó, tốc độ tăng trưởng sẽ phải giảm không đủ bù đắp thâm hụt ngân sách, trả các
khoản nợ vay tới hạn làm ảnh hưởng rất nhiều đến tính bền vững của nợ công.
Điều này tác động tiêu cực tới khả năng trả nợ của Việt Nam trong tương lai.
2.3. Đánh giá, phân tích tình hình nợ công ở Việt Nam
Sau khi nghiên cứu về thực trạng của nợ công Việt Nam, chúng ta thấy nổi cộm
lên các vấn đề như sau :
2.3.1. Số liệu thống kê.
Chúng ta có thể thấy rằng có 1 sự khác biệt lớn về số liệu nợ mà việt nam cung
cấp so với số liệu mà các tổ chức thế giới (như WB…) đã đưa ra, điều này xuất
phát từ 3 yếu tố chính sau:
 Việc nhìn nhận về nợ công: Nước ta bóc tách nợ công thành 2 bộ phận gồm
khu vực Nhà nước (trung ương, địa phương), khu vực kinh tế công (có sự
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 20

góp vốn, góp mặt của Nhà nước)… đưa ra vấn đề này để thấy rằng có nhiều
công ty quốc doanh trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn, nhưng khi công
ty bị phá sản, Nhà nước không thể phủi tay về trách nhiệm nợ của các công

hưu, còn một phần khác, có thể bằng hoặc gấp đôi, Chính phủ phải đóng vào
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 21

quỹ này. Nhiều nước, không thiết lập ra quỹ này, mà đem chi hết, nên Nhà
nước hàng năm lấy tiền ngân sách ra chi trả mà quên đi quỹ kia, chứng tỏ
theo cách tính này thì những nước như việt nam đang tính thiếu phần nợ
công trong nước.
Hiện nay, hầu hết các nước phát triển như Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các
nước trong khối Liên hiệp châu Âu (EU) đã tính nợ theo đúng tiêu chuẩn
quốc tế. Ở EU, việc tính này đã thành luật. Đó là lý do các nước này đều có
tỷ lệ nợ trên GDP cao hơn 50% nhiều. Tỷ lệ trên 100% đối với các nước này
là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn. Còn đối với các nước đang phát triển, khi
không tính nợ hưu trí thì có lẽ là 50% (tất nhiên là tùy từng nước, tùy theo
nước đó có chính sách hưu trí cho công chức không và tỷ lệ nằm trong diện
công chức lớn như thế nào). Ở các nước phát triển, tỷ lệ nợ công có thể bằng
hoặc gần bằng với tỷ lệ nợ Nhà nước vì khu vực quốc doanh không đáng kể,
do đó họ vẫn chỉ tập trung vào nợ Nhà nước.
 Qua những phân tích trên ta thấy rằng còn rất nhiều vấn đề trong số
liêu nợ công của VN đòi hỏi các cấp ban ngành cần có sự xem xét lại
cũng như có những điều chỉnh hợp lí.

2.3.2. Cơ cấu nợ:
Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và
chiếm tỷ trọng cao nhất. Mặc dù nợ công khác với nợ nước ngoài, nhưng
hiện nay ở Việt Nam, thông tin chi tiết về nợ công chưa đầy đủ; do vậy, các
nhà kinh tế thường sử dụng chỉ số nợ nước ngoài để hình dung quy mô và
mức độ nghiêm trọng của nợ công của quốc gia.

không hiệu quả thì cần phải cân nhắc kĩ về việc vay nợ.
3 Giải pháp và định hướng cho nợ công của Việt Nam.
 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nợ, đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
quan quản lý nợ nước ngoài. Nghiên cứu đề xuất mô hình đổi mới tổ chức
quản lý nợ theo hướng hiện đại và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tiếp tục điều chỉnh và sắp xếp lại một cách hợp lý cơ cấu tổ chức quản lý nợ
trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, đảm bảo sự phân công đúng
người, đúng việc, tránh chồng chéo, trùng lặp. Để đưa ra một mô hình quản
lý nợ công hợp lý cho Việt Nam hiện nay chúng ta không chỉ dựa vào Luật
quản lý nợ công; mà còn phải rút kinh nghiệm thực tiễn từ cách quản lý nợ
**LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ - NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM**

TRẦN THỊ NGỌC NHUNG – K105041626
NGUYỄN VÕ THANH THẢO – K105041645 Page 23

công trên thế giới để tránh đi vào vết xe đổ khủng hoảng nợ công của các
nước.
Cung cấp đầy đủ trang thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sử
dụng hệ thống thông tin, hiện đại hóa quy trình thu thập, tổng hợp, phân tích
cơ cấu nợ để đáp ứng yêu cầu quản lý nợ tiên tiến. Thủ tướng đã chỉ định Bộ
tài chính với sự hổ trợ của Bộ kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng Nhà nước xây
dựng những cơ chế phối hợp trong việc quản lý thông tin nợ quốc gia, tăng
cường đầu tư cung cấp đầy đủ những phương tiện, thiết bị nhằm phục vụ cho
đội ngũ cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, thường xuyên cập nhật các phương
pháp thu thập, tổng hợp, phân tích cơ cấu nợ một cách tiên tiến mang tính
chính xác cao cũng như phù hợp với điều kiện đất nước để có thể đưa ra
những con số phản ánh đúng thực trạng của nợ nước ngoài cho các cấp lãnh
đạo có thể có những quyết định đúng đắn.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, tăng cường phổ biến kiến thức về quản lý

thay đổi cơ cấu nợ để đạt được danh mục nợ tối ưu. Có chính sách điều
hành tốt kinh tế vĩ mô để tăng thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế,
đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, tăng cường dự trữ ngoại tệ để cải
thiện chỉ số nợ nước ngoài và các cân đối lớn của nền kinh tế.
Thành lập Quỹ tích lũy trả nợ :Quỹ này được hình thành nhằm đảm
bảo khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ của các khoản vay nước ngoài của
Chính phủ về cho vay lại hoặc nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà
nước phát sinh từ các khoản bảo lãnh của Chính phủ. Cùng với quyết nghị
thành lập Quỹ này, Chính phủ giao cho Bộ Tài chính thực hiện quản lý Quỹ
tích lũy trả nợ với nguyên tắc bảo toàn và phát triển nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi của Quỹ, sử dụng nguồn vốn của Quỹ đúng mục đích, bảo đảm tập trung
đầy đủ, kịp thời các nguồn thu của Quỹ nợ công.
 Giám sát việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ, quản lý
nợ công, quản lý rủi ro tài khoá, bảo đảm an toàn nợ và an ninh tài
chính quốc gia.
Tăng cường giám sát hiệu quả của việc sử dụng vốn: giám sát các dự
án được đầu tư bằng nguồn vốn chính phủ cũng như hoạt động của khu vực
kinh tế nhà nước thông qua cơ quan kiểm tra - thanh tra độc lập.
Tăng cường quản lý rủi ro và giám sát nợ công: tất cả các cơ quan,
các tổ chức cơ quan nhà nước có liên quan đều có quyền và trách nhiệm
trong việc quản lý nợ công.
Phải minh bạch, công khai rộng rãi các thông tin về nợ công: vốn vay
trong nước, vay nước ngoài, trả nợ gốc, trả nợ lãi trong quyết toán NSNN,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status