z
ĐỀ TÀI
" vận dụng phương pháp dạy
học theo dự án trong dạy học
công nghệ 11 "
VẬN DỤNG PPDH THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 11
Luận văn thạc sĩ giáo dục học.
Tác giả: Lê Thị Thu Trang
MỤC LỤC
Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
II. Lịch sử nghiên cứu
III. Mục đích nghiên cứu
IV. Đối tượng nghiên cứu
V. Phạm vi nghiên cứu
VI. Giả thuyết khoa học
VII. Nhiệm vụ nghiên cứu
VIII. Những đóng góp mới của luận văn
IX. Phương pháp nghiên cứu
X. Cấu trúc luận văn
Chương I: Cơ sở lí luận của PPDHTDA
1.1. Một số vấn đề về PPDH tích cực
1.2. Quan niệm DHTDA
1.3. Đặc điểm của DHTDA
1.4. Phận loại DHTDA
Nam triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình Dạy học
cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future). Chương trình này hướng dẫn GV sử
dụng Internet thiết kế trang web và triển khai các dự án cho HS.
Những công trình nghiên cứu liên quan tới DHDA ở Việt Nam của các tác giả thời gian
gần đây như: bài viết “Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong
đào tạo giáo viên” của Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), đề tài
“Những định luật cơ bản của dòng điện không đổi” cho HS lớp 11 theo quan điểm
DHDA của Nguyễn Văn Nghĩa (2006), đề tài “Tổ chức DHTDA một số nội dung kết
thúc chương “Sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng ”theo Sách giáo khoa Vật lí lớp 9
nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của HS trong học tập” của Trần
Thúy Hằng (2006), đề tài “DHTDA và vận dụng trong đào tạo giáo viên môn Công
nghệ phần kinh tế gia đình” của Nguyễn Thị Diệu Thảo (2007),…
So sánh đặc trưng của DH truyền thống và DH mới
Tiêu chí so sánh DH truyền thống DH mới
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và
lĩnh hội, qua đó hình thành
kiến thức, kĩ năng, tư tưởng,
tình cảm.
Học là quá trình kiến tạo, HS tìm
tòi, khám phá, phát hiện, luyện
tập, khai thác và xử lí thông tin,
…, tự hình thành hiểu biết, năng
lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của GV
Tổ chức hoạt động nhận thức cho
HS. Dạy HS cách tìm ra chân lí.
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo. Học để đối phó
với thi cử. Sau khi học xong
Từ đầu thế kỉ trước, Dewey và S.Charles Peirce đã đưa ra những cơ sở cho DHDA và
khẳng định rằng, tất cả mọi người dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua
những mối quan hệ với môi trường. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, việc học tập còn thiếu
tính tự chủ, thiếu nguồn tư liệu trong lớp học,… Điều đó làm hạn chế những thành quả
trong DH mà xã hội đòi hỏi ở nhà trường.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử, DHTDA có nhiều đặc điểm
phù hợp hơn với sự phát triển của chính trị, kinh tế, văn hóa và những mối quan hệ đa
chiều mang tính toàn cầu, XH trở thành XH tri thức, trong đó con người không chỉ có học
thức hơn, trí tuệ hơn, có khả năng sáng tạo hơn mà còn năng động hơn trong công việc.
Do vậy, DH phải chuẩn bị tốt nhất cho người học thích ứng với sụ phát triển của XH, đặc
biệt là trong hợp tác với người khác. DHTDA do Dewey đề xướng đã cho thấy tính thích
hợp, tính hiệu quả trong việc cho phép HS phát triển những tiềm năng sẵn có và đảm bảo
một cách thích đáng vai trò của họ trong XH.
Động cơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong học tập. Nhiều nhà sư phạm đã chỉ ra rằng:
Việc đặt HS trong tình huống tự khám phá thế giới và chia sẻ những kết quả của quá trình
khai thác kiến thức, tiến trình giải quyết vấn đề như trong DHDA bằng một trong những
cách tốt nhất để kích thích và duy trì động cơ học tập. Chính qua tiến trình này mà những
phát hiện về thế giới dần dần có ý nghĩa, nó phù hợp với nguyên tắc sư phạm: sự học tập
nảy sinh trong hành động. Các nhà nghiên cứu khoa học về nhận thức (Lave, 1998;
Brown, Colin, 1989) cũng chỉ ra rằng: Trong DH, GV phải phát huy vai trò tích cực của
HS, đề ra cho họ các tình huống học tập và đòi hỏi ở họ sự chịu trách nhiệm trong hoạt
động hợp tác. DHDA bằng cách tiếp cận nhằm làm cho HS kiên trì theo đuổi một tiến
trình mục đích trong những tương tác XH mà họ đã hiểu rõ mục đích cần đạt được.
b. Khái niệm dự án
Thuật ngữ dự án (project) được hiểu là một đề án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện để
đạt mục đích đặt ra. Khái niệm dự án được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên
cứu khoa học cũng như trong quản lí XH và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – đào
tạo như một PP hay hình thức DH.
Theo Phạm Đức Quang – Phạm Trịnh Mai, khái niệm dự án được hiểu là tập hợp của
những hoạt động khác có nhau liên quan với nhau theo một lôgic, một trật tự xác định
3. Tổ chức chủ đề xung quanh vấn đề, dự án chứ không phải môn học
4. Tạo cho HS cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học tập để giải quyết vấn
đề.
5. Khuyến khích sự công bằng bằng cách tạo ra các nhóm học tập.
6. Yêu cấu tất cả HS trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương
trình.
d. DHTDA có liên hệ thế nào đối với việc khám phá tìm hiểu
“Quá trình khám phá tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc tò mò
bẩm sinh của con người về thế giới. Trong bối cảnh giáo dục, việc khám phá tìm hiểu này
mang một ý nghĩa cụ thể hơn. GV sẽ áp dụng việc khám phá tìm hiểu như một chiến lược
DH nhằm khuyến khích HS đặt câu hỏi, lập kế hoạch, tiến hành tìm hiểu, quan sát và suy
nghĩ về những gì mình đã khám phá. Tuy nhiên, đây không phải là một định nghĩa khô
cứng. Ngay cả trong một lớp học riêng lẻ, các hoạt động tìm hiểu cũng có thể diễn ra một
các liên tục, từ những hoạt động theo định hướng của GV đến những hoạt động mở rộng
theo sở thích của HS” (Intel)
Sẽ dễ dàng hơn nếu coi DHTDA là một tập con trong DH khám phá. Một nghiên cứu về
DHTDA đã kết luận rằng những dự án như vậy thường tập trung vào những câu hỏi hoặc
vấn đề thôi thúc HS phải đối mặt và chiến đấu với những khái niệm và nguyên tắc trọng
tâm của môn học. Hơn nữa, những hoạt động chính trong dự án đã bao hàm quá trình
khám phá tìm hiểu và kết cấu kiến thức của HS. HS thường vẫn có sự lựa chọn khi thiết
kế dự án cho phép các em theo đuổi ý thức và trí tò mò của mình. Trong quá trình trả lời
những câu hỏi do chính bản thân đặt ra, HS có thể khám phá tìm hiểu thêm về các chủ đề
vốn chưa được GV đặt ra như mục tiêu DH.
* Mô hình DHTDA làm thay đổi lớp học truyền thống
Theo báo cáo về chuyên môn của chương trình Dạy học cho tương lai Intel đã mô tả lớp
học trong đó GV áp dụng hiệu quả mô hình DHTDA như sau:
- Không có một giải pháp định sẵn cho một vấn đề.
- Một không khí học tập chấp nhận sai sót và thay đổi.
- HS ra quyết định trong khuôn khổ chương trình.
- HS thiết kế quá trình tìm kiếm giải pháp.
qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng
hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Tính tích cực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và
tự lực vào các giai đoạn của quá trình DH. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích
tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng
dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của
HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có
sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các
thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng XH khác tham gia
trong dự án. Đặc điểm này được gọi là học tập mang tính XH.
- Tạo ra sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra. Sản
phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số
trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực
tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố và giới thiệu.
1.4. Phân loại DHTDA.
PHTDA có thể phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Dưới đây là một số cách
phân loại:
a. Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
- Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau.
- Dự án ngoài chuyên môn: Các loại dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học.
b. Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức DH chủ
yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự
án cho một lớp học.
c. Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
d. Phân loại theo quĩ thời gian
nguồn thông tin, các chuyển giao công việc, các phiếu đánh giá…
+ GV phải tập trung hơn vào việc tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu và
hướng dẫn HS đồng thời cũng phải tạo ra môi trường học tập thúc đẩy phương pháp học
tập theo kiểu cộng tác giữa các thành viên trong nhóm HS.
- HS:
+ HS đóng vai trò là những “chuyên gia” thuộc các ngành nghề khác nhau trong xã hội
để có thể tham gia ngày càng tích cực vào việc thực hiện mục đích học tập. Trong một
dự án học tập, HS không chỉ tham gia vào quá trình quản lí một phần mà còn quản lí
tổng thể dự án. Tức là, trong quá trình học tập, HS được tham gia quyết định và tự quyết
định các giai đoạn của quá trình DH, đặc biệt là trong việc xây dựng kế hoạch và thực
hiện dự án. Trong chừng mực có thể, HS có thể tham gia xác định và đánh giá dự án.
+ HS được giao những nhiệm vụ cụ thể, gắn với đời sống thực tế, HS hợp tác làm việc
với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò
khác nhau.
+ HS phải thể hiện thành quả của mình thông qua các bài thuyết trình, sản phẩm, trang
web,… Những sản phẩm cuối cùng giúp HS thể hiện khả năng diễn đạt và làm chủ quá
trình học tập.
1.6. Tiêu chuẩn của một dự án theo PPDHTDA
Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học. Một dự án được coi là thành công
khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của HS với ý đồ thiết kế của GV,
chỉ rõ những công việc HS cần làm. Dưới đây là một số tiêu chuẩn giúp nhận diện rõ thế
nào là bài học theo dự án hiệu quả:
+ HS là trung tâm của quá trình DH: Bài học theo dự án được thiết kế cẩn thận, lôi
cuốn HS vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao. Các nhiệm vụ của dự án kích
thích khả năng quyết định, niềm cảm hứng, say mê của HS trong quá trình thực hiện và
tạo ra sản phẩm cuối cùng. HS lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự
quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự án. GV giữ vai trò hỗ trợ hay hướng
dẫn. HS hợp tác, làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi
đảm nhận những vai trò khác nhau.
+ Dự án được chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo: Để dạy tốt và đảm bảo HS tham gia
lớn và các khái niệm xuyên suốt. Câu hỏi loại này thường mang tính liên môn, giúp HS
hiểu được mối quan hệ giữa các môn học. Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự
án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho câu hỏi khái quát. Các câu hỏi bài học thể hiện mức
độ hiểu những khái niệm cốt lõi về dự án của HS. Các câu hỏi nội dung thường mang tính
thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đề ra.
+ Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên: Ngay từ khi triển khai
dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để
kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau. HS sẽ được xem
mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, phải biết rõ điều gì
đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án. Cần phải tạo cơ hội để rà soát, phản hồi hay điều
chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án.
+ Dự án có liên hệ với thực tế: Dự án phải gắn với đời sống thực tế của HS, có thể mời
các chuyên gia bên ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống DH. HS có thể thể
hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng
đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công
nghệ hiện đại.
+ Dự án được hoàn thành đúng thời hạn, không vượt quá kinh phí dự trù
+ Dự án không gây ra những tác động xấu cho môi trường, cho XH, đảm bảo sự phát
triển bền vững cho tương lai.
+ Dự án không gây ra ảnh hưởng tới sức khỏe, tới kết quả học tập và tu dưỡng đạo đức
của HS.
1.7. Ưu, nhược điểm của PPDHTDA
DHTDA mang lại rất nhiều lợi ích cho cả GV và HS. Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí
luận ủng hộ cho việc áp dụng PPDHTDA trong trường học để khuyến khích HS, giảm
thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kĩ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học
tập.
* Đối với HS, những lợi ích từ DHTDA bao gồm:
- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập, phát huy được tính chủ
động, sáng tạo của HS, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình DH khác do
2.3. Những khó khăn khi áp dụng DHTDA vào DH môn Công nghệ 11
DHTDA là một PPDH mới mặc dù đã được áp dụng ở một số môn học nhưng chưa phổ
biến. Vì vậy, khi áp dụng vào DH môn Công nghệ sẽ gặp phải không ít khó khăn:
- DHTDA đòi hỏi sự thay đổi tư duy của cả GV và HS, cách thức học và dạy mới sẽ là
một khó khăn bởi lẽ PPDH truyền thống đã in sâu trong cách dạy và học của thầy và
trò. DHTDA đòi hỏi GV phải lập kế hoạch và nội dung dự án khá công phu, phải
thực sự tâm huyết với nghề. Đối với HS cần thay đổi nhận thức đây là một PP học
mới đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng hợp
tác làm việc trong nhóm.
- Thời gian cần để chuẩn bị và tiến hành dạy và học theo dự án đòi hỏi nhiều hơn trong
khi thời lượng quy định cho môn CN 11 chiếm tỉ trọng khá khiêm tốn so với các môn
học khác.
- Kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ dạy và học còn nghèo nàn, lạc hậu. Trong khi đó,
môn CN11 là môn học có tính ứng dụng, hầu hết các nội dung môn học đều gắn với
thực tiễn sản xuất công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị - đây là lĩnh vực còn mới
mẻ đối với HS phần đông ở nông thôn. Vì vậy, để triển khai PPDHDA có hiệu quả
đòi hỏi nhà trường phải có đủ các trang thiết bị cần thiết: mô hình, vật thật, nhà
xưởng, công cụ lao động, nguyên vật liệu,… Mặt khác, từ nhận thức ban đầu về
PPDH mới, GV và HS sẽ không tránh khỏi bỡ ngỡ và lúng túng nên việc tìm kiếm
mô hình và những ví dụ thích hợp để áp dụng trong DHTDA sẽ gặp không ít khó
khăn.
- Trong chế độ học và thi cử hiện hành, HS còn mang nặng ý thức đối phó học để thi
nên chưa có thái độ học tập đúng mức đối với bộ môn Công nghệ.
- Việc tổ chức học còn mới lạ, đòi hỏi HS phải là chủ thể trong quá trình học, phải rèn
luyện PP tự học, tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng
tác giữa các thành viên trong nhóm. Kết quả làm việc phải được thể hiện bằng sản
phẩm vật chất hoặc phi vật chất.
Từ những khó khăn mang tính khách quan và chủ quan nêu trên, chỉ có lòng quyết tâm
và nhiệt huyết cao của đội ngũ GV phụ trách bộ môn cộng với sự quan tâm và tạo điều
kiện của nhà trường và toàn ngành thì PPDH TDA mới mang tính khả thi.
trong giai đoạn này được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Bài học được triển khai thành dự án
Xuất phát từ nội dung bài học, GV xác định các nội dung kiến thức, và kĩ năng HS cần
đạt được, phải có ý đồ tổ chức bài học thành dự án và suy nghĩ về ý tưởng dự án.
+ GV phải luôn nhìn thấy những vấn đề thực tiễn đang diễn biến trong cuộc sống xung
quanh có liên quan đến nội dung bài học.
+ Lựa chọn các nội dung thích hợp và chỉnh sửa chúng cho phù hợp với mục tiêu dự án
đề ra.
+ Góp phần hướng nghiệp cho HS.
Bước 2: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng sẽ cung cấp một cấu trúc trong việc đặt câu hỏi xuyên suốt của
dự án, phát triển tư duy cho HS ở các cấp độ. Bộ câu hỏi giúp dự án tạo ra sự cân bằng
giữa việc thấu hiểu nội dung và khám phá ý tưởng hấp dẫn khiến việc học trở nên phù
hợp với HS. Bộ câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và
câu hỏi nội dung hướng dẫn việc tiếp thu bài học.
+ Câu hỏi khái quát:
• Giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt của môn học. Câu hỏi
khái quát cung cấp cầu nối giữa các bài, phạm vi môn học, thậm chí cả khóa
học trong một năm.
• Đưa ra nhiều câu trả lời. Đối với các câu hỏi loại này, câu trả lời thường
không có trong một cuốn sách. Chúng thường là những câu hỏi khái quát về
thực tế.
• Thu hút sự quan tâm của HS với yêu cầu tư duy bậc cao; câu hỏi khái quát
bắt buộc HS phải tư duy, phân tích và biết liên hệ những kiến thức đã được
học với cuộc sống hàng ngày.
Ví dụ:
1. Cuộc sống của chúng ta sẽ như thế nào nếu thiếu đi các phương tiện, thiết bị phục vụ
cho sinh hoạt, sản xuất?
2. Trên các phương tiện GTVT đường bộ, nguồn động lực được sử dụng gồm có
những loại nào? Loại nào được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay?
trọng đến mục đích lớn hơn của nó, đó là: định hướng cho việc học, khuyến khích người
học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và hướng dẫn
khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng.
+ Câu hỏi nội dung: Giúp HS xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu”, và “khi nào” cũng như hỗ
trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các chi
tiết trong bài. Các câu hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin xác thực cần phải
tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí về nội dung và những mục tiêu học tập.
Đặc điểm chung của câu hỏi nội dung:
• Điển hình là có câu trả lời phải rõ ràng, phải đúng hay cụ thể, thường được
xếp vào loại câu hỏi “đóng”.
• Sắp xếp theo những tiêu chuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học, hỗ trợ cho các
câu hỏi khái quát cũng như câu hỏi bài học.
• Kiểm tra khả năng ghi nhớ của HS dựa trên các thông tin, thường xuyên HS
phải xác định: ai, cái gì, ở đâu và khi nào.
• Đòi hỏi các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đọc hiểu để trả lời.
Ví dụ:
1) Động cơ lắp trên xe máy có gì giống và khác so với động cơ đốt trong lắp trên ô tô?
2) Nêu vai trò của hệ thống truyền lực trên ô tô, xe máy?
Bước 3: Thiết kế dự án
Trước một nội dung dự định thực hiện một dự án, GV cần phải nghiêm túc trả lời các
câu hỏi:
- Vấn đề mà dự án nêu ra có vai trò gì trong cuộc sống hiện tại? Nếu vấn đề được giải
quyết thì đối tượng được hưởng lợi là ai? (HS đóng vai trò là các nhà tư vấn về việc
lựa chọn các phương án tối ưu để giải quyết vấn đề mà dự án đề cập tới)
- Đưa ra dự án (HS đóng vai là các nhà lập dự án) gồm: Mục tiêu của dự án, công việc
chính cần thực hiện, địa điểm thực hiện dự án, kết quả dự án thu được.
Từ ý tưởng dự án và nội dung kiến thức cần học, HS thiết kế 3 bài tập để trả lời bộ câu
hỏi định hướng, gồm bài trình diễn (sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint), một áp
phích hay tờ rơi (Sử dụng phần mềm Microsoft Publisher, ), một trang web (sử dụng
phần mềm Microsoft Publisher).
chuẩn bị những kiến thức về tin học phục vụ cho việc trình bày dự án sau này.
* Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
- Hoạt động của GV
Theo dõi sát sao quá trình thu thập, xử lí thông tin. Trong giai đoạn này, GV cần kiểm
tra tính chính xác của các nguồn thông tin, đặc biệt cần ý thức cho HS về bản quyền của
các thông tin, cụ thể là HS phải biết ghi lại tác giả các nguồn thông tin đã thu thập.
- Hoạt động của HS
Trên cơ sở kế hoạch xây dựng ở trên, trong bước thực hiện các em làm các công việc cụ
thể được giao như thu thập thông tin, xử lí thông tin của từng cá nhân, sau đó phải làm
việc theo nhóm và theo kế hoạch. Bước cuối cùng của việc thực hiện dự án là kết hợp lí
thuyết với thực hành để hình thành sản phẩm.
* Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm
- Hoạt động của GV
Tổ chức cho HS trình bày kết quả học tập trước lớp và tổ chức cho các nhóm trao đổi ý
kiến, đặt ra các câu hỏi yêu cầu chủ dự án giải trình. GV cũng có thể đặt ra các câu hỏi
cho các chủ dự án nhằm hoàn thiện dự án cho HS.
- Hoạt động của HS:
Tùy theo tính chất, đặc thù của sản phẩm mà các nhóm lựa chọn phương pháp trình bày
dự án cho phù hợp. Có thể trình bày trực tiếp (đối với bài trình bày đa phương tiện) hoặc
trình bày gián tiếp (đối với ấn phẩm trang web HS). Mục đích cần đạt được là từng nhóm
phải bảo vệ có sức thuyết phục dự án của mình, giải trình lí do lựa chọn dự án, tính khả
thi và khả năng áp dụng vào cuộc sống của dự án. Đây là nội dung cơ bản của dự án,
đồng thời rèn luyện cho HS kĩ năng phát biểu ý tưởng của mình tới người nghe và những
kiến thức thu hoạch được qua quá trình thực hiện dự án.
* Giai đoạn 5: Đánh giá
GV hướng dẫn cho HS theo các tiêu chí đánh giá sản phẩm. Trên cơ sở đó, HS tự đánh
giá quá trình triển khai dự án và mức độ sản phẩm đạt được của nhóm mình. Đồng thời
có nhận xét, đánh giá kết quả hoàn thành dự án của các nhóm khác. Từ đó, HS sẽ rút ra
được những kinh nghiệm và phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc triển khai các
dự án sau có kết quả cao hơn.
4 tiết.)
+ Gợi mở, định hướng để HS làm quen với PPDHTDA.
2.6.2. Thiết kế dự án “Vai trò của ĐCĐT trong đời sống XH nói chung và …”
- Vị trí của dự án trong chương trình
Thời gian tiến hành dự án
- Mục tiêu chung của dự án:
- Nhiệm vụ của dự án
- Qui trình thực hiện
+ Giai đoạn 1: Xác định chủ đề và mục tiêu của dự án
Trong giai đoạn này, việc cụ thể hóa các hoạt động của GV được thực hiện theo 5 bước:
Bước 1: Bài học được triển khai thành dự án
Bước 2: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng gồm: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu
hỏi nội dung.
Câu hỏi khái quát: Giúp HS liên hệ giữa kiến thức đã được học với thực tiễn đời sống.
Câu hỏi bài học: Để trả lời cho câu hỏi khái quát, GV hướng HS vào những câu hỏi cụ
thể hơn (= câu hỏi bài học).
Câu hỏi nội dung hỗ trợ HS trả lời cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học. Với các câu
hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin xác thực cần phải tìm hiểu để đáp ứng
các mục tiêu mà dự án đề ra.
Bước 3: Thiết kế dự án
• Chủ đề dự án
• Mục tiêu của dự án
• Giải pháp thực hiện dự án: Tổ chức học tập (Chia lớp thành các nhóm, mỗi
nhóm cử một nhóm trưởng và một thư kí); Phân công thực hiện (căn cứ vào
yêu cầu, nội dung của dự án, nhóm trưởng nghiên cứu, phân công công việc
cho các thành viên. Thư kí có nhiệm vụ cập nhật và tổng hợp kết quả thực
hiện theo kế hoạch); Địa điểm thực hiện dự án (ở nhà và ngoài XH – ngoài
thời gian học ở lớp và số tiết làm việc trên lớp theo chương trình).
• Kết quả dự án cần thu được: Đối với HS THPT, yêu cầu các em thiết kế 2 bài
tập để trả lời bộ câu hỏi định hướng, gồm bài trình diễn (sử dụng phần mềm
Ngày … tháng… năm…
Tiêu chí Đánh giá của GV
Điểm Xếp loại
Nội dung (hệ số 50%)
Trình bày (hệ số 50%)
1. Trình bày khoa học
2. Bài viết sinh động
3. Các hình ảnh minh họa cụ thể, hấp dẫn
4. Diễn đạt tạo hướng gợi mở, suy nghĩ cho người
đọc
5. Các kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin được
phát huy tốt nhất (sử dụng mẫu, chỉnh sửa mẫu, kết
hợp màu sắc)
Điểm trung bình
Ghi chú: Xếp loại giỏi: điểm từ 8 – 10; Loại khá: điểm từ 6,5 – 7,9: Trung bình: điểm từ
5,0 – 6,4; Loại yếu: điểm từ 3,5 – 4,9; Loại kém: điểm từ 0 – 3,4.
PHIẾU ĐÁNH GIÁ BÀI TRÌNH BÀY POWERPOINT
(hệ số điểm 70 %)
Nhóm
Lớp
Ngày … tháng… năm…
Tiêu chí Đánh giá của GV
Điểm Xếp loại
Nội dung (hệ số 50%)
Hình thức trình bày (hệ số 50%)
1. Chất lượng hình ảnh minh họa
2. Vị trí sử dụng hình ảnh
3. Các sơ đồ
4. Thông tin trên các trang trình diễn
5. Người trình bày
Giai đoạn 5: Đánh giá
HS tự đánh giá quá trình, và kết quả thực hiện theo các tiêu chí mà GV đã đưa ra ở giai
đoạn 1, đồng thời rút kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo.
GV nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện và chất lượng của dự án.
2.6.3. Tổ chức dạy học theo dự án
Muốn tổ chức dạy học cho dự án …, GV cần soạn kế hoạch DHTDA và các phiếu đánh
giá trước thời gian triển khai dự án. Việc tổ chức dạy học được thể hiện qua kế hoạch
DH của GV trong bảng sau:
Tổng quan bài dạy:
Người soạn bài:
Họ và tên:
Tiêu đề dự án:
Thời gian thực hiện:
Bộ câu hỏi định hướng:
Câu hỏi khái quát:
Câu hỏi bài học:
Câu hỏi nội dung:
Tóm tắt bài dạy: - Nội dung
- Ý tưởng dự án
- Bài tập: bài tập trình diễn, bản tin/ ấn phẩm
- Lĩnh vực môn học
- Mục tiêu bài dạy/ kết quả học tập
- Các bước tiến hành bài dạy: Trước khi tiến hành bài dạy, Trong khi
thực hiện bài dạy: GV thực hiện bài
giảng, chia nhóm HS, định hướng thực
hiện bài dạy.
- Bài tập trình bày đa phương tiện: GV làm phiếu đánh giá bài trình
diễn PowerPoint, ấn phẩm HS và
phiếu trợ giúp HS làm bài trình diễn,
làm tờ rơi (ấn phẩm).
lập ra kế hoạch chuẩn bị và các bươc hướng dẫn HS thực hiện dự án. Từ đó vận dụng để
xây dựng dự án: “…”. Thông qua thực hiện dự án này, HS sẽ nắm được ….
Đồng thời trên cơ sở đó khơi dậy sự hứng thú trong học tập và lòng say mê tìm hiểu, liên
hệ kiến thức đã được học với hiện thực đời sống. Với PP DHDA này, HS còn được làm
quen với tính hợp tác trong công việc, tính năng động của mỗi cá nhân và khả năng tìm
kiếm, phân tích, tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. HS cũng được trau dồi kĩ
năng báo cáo một chuyên đề nào đó một cách mạch lạc, rõ ràng, xúc tích.
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học là vận dụng
PP DHTDA theo quy trình đã đề xuất ở một số nội dung chương trình CN 11 sẽ góp phần
phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS nhằm nâng cao chất lượng DH.
Ngoài ra thực nghiệm sư phạm còn nhằm mục đích đánh giá tính khả thi của tiến trình
thực hiện được xây dựng dựa trên cơ sở lí luận. Từ đó, bổ sung, sửa đổi để PPDH này
ngày càng phù hợp với thực tiễn DH ở nước ta.
Thông qua thực nghiệm sư phạm có thể đánh giá được hiệu quả phát triển năng lực sáng
tạo, mức độ nắm vững kiến thức của HS trên cơ sở các hoạt động học tập.
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm
Việc thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường … Thời điểm tiến hành thực
nghiệm là … tại lớp … (lớp thực nghiệm – dạy theo PP DHTDA) và lớp … (lớp đối
chứng – dạy theo PP truyền thống). Trình độ HS ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng
tương đương nhau.
3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm theo 5 giai đoạn của tiến trình DHDA để hình thành cho HS kiến
thức phần:…
3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
GV tiến hành chia HS thành 4 nhóm (Nhóm I: … HS, nhóm 2: … HS, nhóm 3: … HS,
nhóm 4: … HS). Trong quá trình chọn nhóm tránh sự sai lệch, mất cân bằng về giới,
trình độ có thể xảy ra nếu lựa chọn theo tổ bởi trong quá trình phân tổ GV chủ nhiệm đã
tính đến các yếu tố này.
lớp.
GV yêu cầu HS tiếp tục hoàn thiện bài trình diễn và ấn phẩm để chuẩn bị cho 2 tiết báo
cáo trước lớp.
GV phát cho các nhóm tiêu chí đánh giá bài trình bày đa phương tiện và ấn phẩm, yêu
cầu HS căn cứ vào đó để hoàn thiện bài tập của nhóm mình.
Tiết 4, tuần 2. Tiết 5, tuần 3:
Từng nhóm trình bày bài trình diễn đa phương tiện và ấn phẩm theo sự phân công của
GV. Các nhóm còn lại nhận xét, rút kinh nghiệm, cho điểm vào phiếu đánh giá.
GV tổng hợp các bài báo cáo của các nhóm, ý kiến tham luận, đưa ra những nhận xét
chung về mức độ hoàn thành bài tập của từng nhóm, đánh giá vai trò của các thành viên
trong nhóm thông qua quá trình làm việc. Công bố điểm cho từng nhóm.
3.6.2. Kết quả điều tra ý kiến của HS về DHTDA
Nhận xét của HS Số HS trả lời Tỷ lệ trả lời
Rất hứng thú
Hứng thú
Bình thường
Không hứng thú
Căng thẳng
Bảng : Ý kiến của HS về khả năng áp dụng DHDA cho các phần khác của môn …
Ý kiến của HS Số HS trả lời Tỷ lệ trả lời (%)
Có
Không
Bảng: Mong muốn của HS về việc tiếp thu được học thep PP DHTDA
Nhận xét của HS Số HS trả lời Tỷ lệ trả lời
có
Không
Bảng: Nhận xét của HS về khó khăn khi thực hiện dự học theo dự án
Nhận xét của HS Số HS trả lời Tỷ lệ trả lời
Mất nhiều thời gian
Khó khăn về tài liệu và