Con người và tri thức - Pdf 15

Con người và tri thức- yếu tố sống còn của
nền GD
19:39' 28/01/2006 (GMT+7)
(VietNamNet) - Một mùa Xuân mới đang về trên quê hương Việt nam yêu
dấu. Đó là mùa Xuân của hy vọng, của tương lai tương sáng và cả những
thách thức đang chờ đợi. Sự thách thức ấy đặt gánh nặng lên đôi vai của
những người làm công tác Giáo dục, bởi một xã hội tươi đẹp cần có "Minh
quân, Lương tướng" và "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
Góp phần cùng công cuộc đổi mới ấy, chúng tôi, những Nghiên cứu sinh của Quỹ
học bổng VEF, đang theo học tại Mỹ, ở nhiều chuyên ngành khác nhau, xin được
đóng góp cách nhìn của mình vào một chủ đề không bao giờ cũ: Con người trong
môi trường Giáo dục Đại học hiện đại của Việt nam, và xin đề xuất 10 diểm sau:
Phát huy truyền thống và mạnh dạn áp dụng những tư duy mới: Người Việt
nam có truyền thống ngàn năm "Tôn sư trọng đạo". Đó là một truyền thống quý
giá và hơn cả, đó là một phong cách sống và cư xử. Các giáo sư Mỹ, thường
ngạc nhiên và thích thú khi làm việc với học sinh Việt nam, bởi sự kính trọng mà
các học sinh Việt nam dành cho họ, không giống với cách thể hiện của các học
sinh phương Tây. Truyền thống này cần được phát huy, tuy nhiên, trong một
khung cảnh mới, đó là sự bình đẳng giữa một nhà khoa học thế hệ trước và
một nhà khoa học thế hệ sau, và chấp nhận những quan điểm khoa học
không đồng nhất. Khoảng cách giữa thày và trò ở Việt nam cần được thu hẹp
lại, với tư duy cởi mở hơn, với thói quen tranh luận một cách lành mạnh.
Linh hoạt trong một môi trường năng động: Để liên tục cập nhật được kiến
thức mới và đáp ứng được sự thay đổi của yêu cầu thực tế, các giáo viên, giáo
sư đại học có toàn quyền thiết kế bài giảng, giáo trình, sách đọc, cách
giảng dạy và chấm điểm. Họ đồng thời hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung
bài giảng và chất lượng sinh viên. Mỗi năm, bài giảng được thay đổi, cập nhật
thông tin và các xu hướng mới, kể cả thay đổi hoàn toàn những bài kiểm tra, để
theo kịp kiến thức hiện tại. Sinh viên có toàn quyền góp ý về bài giảng, về nội
dung, và đánh giá khoá học theo ý kiến riêng của họ. Sự tương tác giữa thày
và trò mang lại chất lượng ngày một cao hơn cho khoá học ở những năm

có quá nhiều những tiến sĩ giấy, tiến sĩ ảo với những
công trình khoa học vô tác dụng, hoặc kết quả của
những công trình nghiên cứu có thể đoán đuợc
trước khi thực hiện. Đó là kết quả của nền giáo dục
thiếu tính cạnh tranh, và ở mức độ hiểu biết thấp.
Những công trình khoa học ở cấp độ Tiến sĩ cần
phải có một hội đồng thẩm định khách quan, ở
trình độ quốc tế, và có thể phải có sự góp ý của
các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực đó ở cả trong
nước và nước ngoài. Một tấm bằng hoàn toàn có
thể dược cấp bởi chính trường Đại học đó, và chất
lượng công việc của người mang bằng thể hiện
thương hiệu của nhà trường.
Thái độ cầu thị và hợp tác trong lĩnh vực khoa học: Chúng ta nên tận dụng tối
đa sự giúp đỡ và hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài cũng như các nhà
khoa học Việt kiều. Đó là một nguồn lực sẵn có và là một nguồn tri thức cần
được khai thác. Tiếp nhận ý tưởng mới, dẹp bỏ sự đố kỵ trong khoa học là xu
hướng tất yếu để rèn lưyện một moi trường khoa học và giáo dục lành mạnh. Sự
trao đổi hợp tác có thể bắt đầu ngay từ những cá nhân mà không nhất thiết chờ
đợi hoặc kỳ vọng sự trợ giúp chính thức được ký kết.
Chấp nhận thử nghiệm hệ thống giảng dạy và tính điểm có khả năng cạnh
tranh cao: các kỳ thi tuyển lựa vào đại học ở Việt nam thường rất khó khăn, có
thể còn khó khăn hơn nhiều nước phương Tây. Nhưng khi đã trở thành sinh viên,
nhìn chung tất cả đều tốt nghiệp, cho dù kết quả học tập thấp hoặc thi lại nhiều
lần. Điều này tạo nên một áp lực học tập rất thấp. Trong một môn học ở Việt
nam, điểm trung bình trên 5/10 được coi như hoàn thành, nhưng ở các trường
đại học khác trên thế giới, ít nhất cần đạt được 70-75%. Và mỗi sinh viên chỉ có
quyền đựoc điểm thấp hơn mức này 2 lần trong suốt một chương trình đào tạo
Tiến sĩ, nếu không muốn bị buộc thôi học. Trong các lớp học thường thì khoảng
30% sinh viên đứng đầu lớp được điểm A, 40% đạt điểm B, còn lại đạt điểm C.

ảnh hưởng đến kết quả của toàn cục. Đánh giá kết
quả học tập theo quá trình có nhiều lợi ích cho việc
đào tạo sinh viên ưu tú. Sinh viên không phải chịu
áp lực lớn cho kỳ thi cuối kỳ như ở Việt Nam. Do
phải làm nhiều bài tập; thực hành; dự án, sinh viên
được áp dụng ngay những kiến thức thu thập trong
quá trình học tập. Kết quả học tập phản ánh khách
quan hơn việc tiếp thu, áp dụng kiến thức của sinh
viên. Việc đánh giá kết quả học tập chỉ dựa vào duy
nhất kỳ thi cuối kỳ đễ tạo thói quan cho sinh viên "nước đến chân mới nhảy", kết
quả học tập mang tính đầy may rủi do chỉ được phản ánh trong kỳ thi cuối cùng.
Sinh viên chỉ cần "ôn thi" để qua "kỳ thi" chứ chưa quan tâm đến việc áp dụng và
tìm tòi và phát triển những kiến thức mới. Thậm chí việc chấp nhận cho thi lại, ôn
thi, luyện thi ở Việt nam một cách tương đối thoải mái, điểm thi lại được công
nhận chính thức trong bảng điểm vừa mang tính tiêu cực vừa thiếu sự công
bằng.
Đẩy mạnh năng lực viết và xuất bản: Năng lực công bố, xuất bản các công
trình nghiên cứu khoa học là thước đo tri thức của các nhà khoa học.
Chúng ta có một tỷ lệ xuất bản trên các tạp chí khoa học uy tín quá thấp so với
các nước khác trong khu vực và thế giới. Chúng ta cần bắt buộc (với đội ngũ
giáo sư) và khuyến khích (với đội ngũ sinh viên) tham gia việc xuất bản các công
trình khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế và viết sách. Đó là một thách
thức lớn, nhưng cũng là sự vinh dự cho bất kỳ nhà khoa học nào. Sự thiếu tự tin
vào bản thân, cũng như thiếu tự tin ở kết quả nghiên cứu là một rào cản đáng kể
cho việc xuất bản.
Ngoại ngữ là một yêu cầu bắt buộc: Tiếng Việt không phải là một ngôn ngữ
phổ thông trên thế giới, vì thế biết ít nhất một ngoại ngữ phổ biến ở mức độ cao
(đọc, viết, giao tiếp thành thạo) là yêu cầu không thể thiếu với một giáo sư hay
một sinh viên có tham vọng trở thành nhà khoa học trong thời kỳ Việt Nam trao
đổi, hợp tác quốc tề về khoa học. Nếu không có chiếc chìa khoá này, mọi ngả

doanh giành được thắng lợi. Bà Mai đã có cuộc trao đổi về vấn đề này với
VietNamNet trong buổi ra mắt Công ty Âu Lạc chiều 21/12.
- Chỉ trong một thời gian rất ngắn đã có hàng loạt công ty chứng khoán
(CTCK) được thành lập, như một phong trào, tranh thủ thời gian trước khi
Luật Chứng khoán có hiệu lực 01/01/2007 với những quy định khắt khe
hơn. Việc thành lập hàng loạt như vậy có phải là theo phong trào?
- Chúng tôi luôn tin rằng TTCK Việt Nam sẽ phát triển. Và những diễn biến
sôi động chúng ta thấy ngày hôm nay chỉ là sự khởi đầu. Ngay từ khi TTCK
bắt đầu có sự phục hồi và phát triển, đồng thời với những tín hiệu lạc quan
từ nền kinh tế như việc gia nhập WTO, chúng tôi nhận định TTCK sẽ có
những bước đột phá. Đây chính là cơ hội có một không hai cho cho các
nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính chứng khoán.
Vì vậy, hàng loạt CTCK thành lập trong một thời điểm vẫn không phải là
phong trào, mà là sự nắm bắt cơ hội của các nhà đầu tư tài chính và chứng
khoán Việt Nam.
- Theo dự kiến, có thể sẽ có quy định CTCK thành lập mới sau này phải có
vốn điều lệ ít nhất 200 tỷ đồng. Các công ty hiện nay với số vốn nhỏ có bị
áp lực bị bất lợi khi cạnh tranh với các công ty thành lập sau?
- Ngoài một vài CTCK có số vốn điều lệ tương đối, như SSI 500 tỷ, HSC 100
tỷ, còn lại hầu hết các CTCK hiện nay có số vốn khá khiêm tốn, vài chục tỷ.
Quả thật với số vốn như vậy, các công ty đã bắt đầu khó khăn với việc thị
trường ngày càng mở rộng do DN lên sàn niêm yết ngày càng nhiều với số
vốn điều lệ ngày càng lớn. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu khi lượng khách
hàng chưa lớn, công ty nhỏ vẫn có thể đảm đương được và tiếp tục chiến
lược mở rộng.
Chúng tôi tin rằng, trước khi đưa ra quy định này,
UBCKNN cũng đã nghiên cứu để đưa ra mức phù
hợp với tình hình phát triển của TTCK Việt Nam.
Ngoài ra, UBCK cũng đã đề xuất một lộ trình tăng
vốn hợp lý đối với các CTCK đã được thành lập

Tư bản
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tư bản hay vốn trong kinh tế học là những hàng hóa sẵn có để sử dụng làm yếu tố sản
xuất. Với vai trò là yếu tố sản xuất, tư bản có thể là mọi thứ như tiền bạc, máy móc, công
cụ lao động, nhà cửa, bản quyền, bí quyết, v.v nhưng không bao gồm đất đai và người
lao động.
Tư bản ở dạng hàng hóa có được nhờ mua bằng tiền hoặc tư bản vốn. Trong lĩnh vực tài
chính và kế toán, khi đề cập đến tư bản là nói đến nguồn lực tài chính, đặc biệt là để bắt
đầu hoặc duy trì một công việc kinh doanh.
Mục lục
[giấu]
• 1 Tư bản theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
• 2 Tư bản trong kinh tế học cổ điển
• 3 Những câu nói nổi tiếng về tư bản
• 4 Xem thêm
[sửa] Tư bản theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Trong kinh tế học cổ điển, tư bản/vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất. Ba yếu tố còn lại
là đất đai, lao động và doanh nghiệp. Những hàng hóa có đặc điểm sau được coi là tư
bản:
• Có thể sử dụng để tạo ra hàng hóa khác (đây chính là đặc điểm khiến hàng hóa đó
trở thành tư bản)
• Có để tạo ra được, đối lập với đất đai là nguồn lực tồn tại tự nhiên với các đặc
điểm như vị trí địa lí, khoáng sản bên dưới.
• Không bị sử dụng hết ngay lập tức trong quá trình sản xuất như nguyên liệu hoặc
bán sản phẩm. (Có một ngoại lệ ở đây là khấu hao, giống như bán sản phẩm, khấu
hao được coi là chi phí doanh nghiệp).
Những đặc trưng này được kinh tế học tân cổ điển (neoclassical economics) kế thừa với
một chút thay đổi cho phù hợp với thời đại. Đó là đưa thêm mục hàng hóa trong kho vào
tư bản. Giá trị tư bản lưu kho có thể được xác định tại những thời điểm cụ thể, ví dụ ngày

cần được xây dựng, bổ sung.
Các nghiên cứu đi đến thống nhất giữa các nhà kinh tế rằng vốn tự nhiên và vốn xã hội
đều là tư bản/vốn giống như vốn cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và chúng là những dạng
tư bản tách biệt. Chúng được sử dụng, phát huy để tạo ra hàng hóa khác và không tiêu
dùng hết ngay trong quá trình sản xuất, hơn thế chúng có thể được tạo ra, làm giàu thêm
bởi nỗ lực của con người.
Cũng có các nghiên cứu về vốn trí tuệ và luật tài sản trí tuệ. Song, những nghiên cứu này
đi vào phân biệt đầu tư tư bản với việc thu thập các giá trị tiềm năng của bản quyền (vốn
sáng tạo hoặc vốn cá nhân), bằng phát minh và những dạng nhãn hiệu đăng ký (nguồn
vốn xã hội).
[sửa] Tư bản trong kinh tế học cổ điển
Trong kinh tế học cổ điển, David Ricardo phân biệt tư bản cố định với tư bản để quay
vòng. Đối với một doanh nghiệp, chúng đều là tư bản hoặc vốn.
Karl Marx bổ sung một sự phân biệt mà thường bị lẫn với khái niệm của Ricardo. Trong
học thuyết kinh tế chính trị của Marx, tư bản lưu động là khoản đầu tư của nhà tư bản vào
lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá trị thặng dư. Nó được coi là “lưu động” vì lượng
giá trị mà nó tạo ra khác với lượng giá trị nó tiêu dụng, có nghĩa là tạo ra giá trị mới. Nói
một cách khác, tư bản cố định là khoản đầu tư vào yếu tố sản xuất không phải con người
như máy móc, nhà xưởng, những tư bản, mà theo Marx, chỉ tạo ra lượng giá trị để thay
thế chính bản thân chúng. Nó được coi là cố định theo nghĩa giá trị đầu tư ban đầu và giá
trị thu hồi ở dạng các hàng hóa do chúng tạo ra là không đổi.
Đầu tư và tích tụ tư bản trong kinh tế học cổ điển là việc tạo ra tư bản mới. Để khởi động
quá trình đầu tư, hàng hóa phải được tạo ra nhưng không để tiêu dùng ngay, thay vào đó,
chúng trở thành công cụ sản xuất để tạo ra hàng hóa khác. Đầu tư liên quan chặt chẽ với
tiết kiệm, nhưng không phải là một. Theo Keynes, tiết kiệm là không sử dụng ngay thu
nhập vào hàng hóa hoặc dịch vụ, trong khi đó đầu tư là việc tiêu dùng khoản tiết kiệm đó
vào những hàng hóa vốn.
Nhà kinh tế học Áo Eugen von Böhm-Bawerk cho rằng tích tụ tư bản được xác định bằng
quá trình tái đầu tư tư bản. Bởi tư bản theo định nghĩa của ông là hàng hóa có thứ bậc
cao, hoặc hàng hóa để tạo ra hàng hóa khác và thu hồi giá trị của chúng từ hàng hóa được

trở thành nhân bản học - một học thuyết toàn diện về con người, về mối quan hệ của nó
với thế giới. Trong triết học mới (triết học nhân bản), hình ảnh con người sẽ được trình
bày cả trên cơ sở của các dữ liệu khoa họe cũng như trên cơ sở của học thuyết về Chúa.
Con người trong nhân bản học không chỉ được hiểu như là một bộ phận của giới tự nhiên
mà còn là một sinh thể tự nhiên toàn năng. Triết học môi có sức mạnh truy tìm lời giải
đáp hiện thực để giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Triết học cũ là hệ thống
triết học gắn liền với thần học, chứng minh cho sự tồn tại hợp lý của chúa trời, còn triết
học mới kết hợp chặt chẽ với khoa học tự nhiên, thực hiện sứ mệnh cao cả của mình là
giúp con người: 1) nhận diện chính mình như một bộ phận, như là cọn đẻ của giới tự
nhiên, 2) nhận ra chân giá trị của cuộc sống, 3)nhằm nỗ lực phấn đấu cho hạnh phúc ngay
trong thế giới trần gian. Và để thực hiện được sứ mệnh lịch sử thiêng liêng đó thì "triết
học cần thiết phải liên hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, còn khoa học tự nhiên phải liên
hệ chặt chẽ với triết học".
Vốn là người có tư tưởng cách tân, Feuerbach mơ tới việc thiết kế những đồ án cho việc
cải cách triết học và ông thực sự đã làm như vậy trong 2 tác phẩm: Những luận điểm dự
thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Những luận đề cơ bản của triết học tương lai
(1843). Trong các tác phẩm đó ông đã khai mở một hướng đi mới cho các nhà triết học
hậu thế, đó là truy tìm bí mật của triết học ngay trong giới tự nhiên và con người: “Hãy
quan sát giới tự nhiên và con người, bạn sẽ thấy trong đó những bí mật của triết học".
“Quan điểm của tôi chỉ có thể biểu đạt trong hai từ: Giới tự nhiên và con người". Với
cách đặt vấn đề như vậy, người thiết kế đồ án triết học mới này đi sâu vào việc nghiên
cứu bản chất con người bắt đầu từ việc truy tìm: 1) mối quan hệ giữa con người và giới tự
nhiên, 2) mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, 3) mối quan hệ giữa người và người, để rồi
từ đó ông đi đến kết luận về 4) mối quan hệ giữa người và thần.
Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật nhân
bản, Feuerbach cho rằng, con người không phải là sản phẩm của thượng đế như các nhà
Thông tin liên
quan:
 “ Trà dư tửu
hậu” và triết học

con người
[08/10/2006]
 Một con tàu và
những con người
[22/08/2006]
 Giá trị đạo đức
truyền thống và
những yêu cầu đạo
đức đối với nhân
cách con người Việt
Nam hiện nay
[10/08/2006]
 Sự hình thành
con người với tư
cách chủ thể sáng
tạo [30/07/2006]
 Nghiên cứu
phức hợp về con
người
[05/07/2006]
 Những vấn đề
con người và tu
dưỡng trong Phật
giáo [12/05/2006]
 Immanuel Kant
từ triết học phê
phán đến nghiên
cứu con người
[12/04/2006]
 Quyền con

triển đất nước
[18/10/2005]
 Tiến tới một
triết học về hợp tác
vì sự giải phóng
con người
[16/10/2005]
 Lời mở: Văn hoá
học lấy con người
làm trung tâm
[14/09/2005]
 A.C. Ernst và
Arthur Young -
Những con người
rất khác nhau
[20/08/2005]
 Tiếp cận tính
toàn vẹn về con
người và thế giới
con người
[19/07/2005]
 Để Phát Triển
Con Người Một
Cách Bền Vững
[19/07/2005]
 Giữa con người
và con vật khác
nhau ở điểm nào?
[21/07/2005]
 Giáo dục như

đoạn mới
[06/01/2007]
 Con người văn
hóa trong tư tưởng
của một số doanh
nhân dân tộc
[01/01/1900]
 Triết học văn
hóa - Một tiềm
năng nghiên cứu
văn hóa con người
[29/10/2006]
 Cái gốc vẫn là
con người
[08/10/2006]
 Một con tàu và
những con người
[22/08/2006]
 Giá trị đạo đức
truyền thống và
những yêu cầu đạo
đức đối với nhân
cách con người Việt
Nam hiện nay
[10/08/2006]
 Sự hình thành
con người với tư
cách chủ thể sáng
tạo [30/07/2006]
 Nghiên cứu

[07/01/2006]
 Vì con người
hãy giúp con người
[31/12/2005]
 Ảnh hưởng triết
học phương Tây
trong quan niệm
của Phan Bội Châu
về con người
[22/10/2005]
 Nghiên cứu con
người Việt Nam
trước yêu cầu phát
triển đất nước
[18/10/2005]
 Tiến tới một
triết học về hợp tác
vì sự giải phóng
con người
[16/10/2005]
 Lời mở: Văn hoá
học lấy con người
làm trung tâm
[14/09/2005]
 A.C. Ernst và
Arthur Young -
Những con người
rất khác nhau
[20/08/2005]
 Tiếp cận tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status