tiểu luận bệnh viêm gan b - Pdf 15

MỤC LỤC
I : Đặc điểm hình thái của virus viêm gan B
II , Các kháng nguyên của HBV
1, HBsAg ( Hepatitis B surface Antigen )
2 , HBeAg ( Hepatitis B e Antigen )
3 , HBcAg (Hepatitis B core Antigen )
4 , HBxAg
III , Biểu hiện của bệnh viêm gan B và chẩn đoán bệnh
1 , Biểu hiện của bệnh
2, Chẩn đoán bệnh viêm gan B
IV , Đặc tính và mức độ nguy hiểm của bệnh viêm gan B
1 :Đặc tính của virus viêm gan B
A :lớp vỏ vững chắc :
B ;ÐẶC TÍNH TĂNG TRƯỞNG và XÁP NHẬP NHIỄM THỂ
2 : Mức độ nguy hiểm của virus viêm gan B
V : cách điều trị và phòng chống bệnh viêm gan B
1 : cách điều trị bệnh
2 : Cách phòng chống bệnh viêm gan B
Kết luận.
MỞ ĐẦU
Từ “bệnh viêm gan” có nghĩa là “tình trạng sưng viêm lá gan " Bệnh viêm gan
B là căn bệnh viêm gan nghiêm trọng và thường gặp nhất trên thường gặp nhất trên thế
giới và do siêu vi viêm gan B (HBV) gây ra (siêu vi này tấn công lá gan). Bệnh viêm gan
B cấp tính (ngắn hạn) có thể chuyển thành viêm gan B mãn tính — một căn bệnh cả đời
có thể gây xơ gan, hoặc sẹo gan, ung thư gan, và suy gan. Viêm gan virus B (VGVR B)
là một trong những bệnh có tần suất mắc và tỷ lệ tử vong cao. Trên thế giới có khoảng 2
tỷ người bị nhiễm vi-rút viêm gan B (VRVGB), trong đó có 360-400 triệu người mang
vi-rút mạn. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 2 triệu
người nhiễm HBV mạn tử vong do xơ gan và ung thư gan nguyên phát. Nguy cơ tương
đối bị ung thư gan nguyên phát ở người nhiễm VRVGB cao gấp 100 lần so với người
không nhiễm VRVGB.Việt Nam nằm trong khu vực có tỷ lệ nhiễm VRVGB rất cao.

12
/ml các hạt HBs hình cầu và một vài hoặc không có hạt hình
ống.Hai cấu trúc này chính là phần KN bề mặt của vi-rút được sản xuất dư thừa tại bào
tương của tế bào gan, cho nên chúng cũng mang những đặc tính như HBsAg. Tuy nhiên
chúng không chứa HBV DNA nên không có tính lây nhiễm.

Cấu trúc hình cầu và hình ống có chứa
các kháng nguyên bề mặt nhưng không
có hạt lõi mang genome nên không có
tính gây bệnh.
3. Cấu trúc bộ gen HBV

Cấu trúc genome HBV
Bộ gen của VRVGB là một phân tử DNA dạng vòng có khoảng 3.200 nucleotide
(3,2 kb). Đây là một chuỗi xoắn kép không hoàn toàn gồm hai chuỗi đơn có chiều dài
khác nhau (Hình 1.1):
- Chuỗi dài nằm ngoài, có cực tính âm (-), tạo nên một vòng tròn liên tục với chiều
dài cố định là 3,2 kb. Chuỗi gen này mã hóa cho tất cả các thông tin di truyền của vi-rút.
- Chuỗi ngắn nằm trong, có cực tính dương (+) với chiều dài thay đổi từ 50 – 100%
chiều dài của bộ gen.
Bộ gen là một DNA có cấu trúc kép gồm 4 gen (còn gọi là 4 khung đọc mở (open reading
frame) S, C, P và X. Đây là các vùng mã hoá để tổng hợp các protein của vi-rút.
Quá trình đọc mã được bắt đầu từ bộ ba nucleotide AUG được gọi là codon khởi đầu
(start codon) và chấm dứt bằng codon kết thúc (stop codon) là TAG.
- Gen S là phần protein chính của vỏ, bao gồm vùng S, pre-S1 và pre-S2 mã hoá để tổng
hợp các protein bề mặt hay kháng nguyên bề mặt HBsAg (“s”:surface). Vùng S và pre-S2
có chiều dài cố định trong khi vùng pre-S1 có chiều dài thay đổi tuỳ theo từng phân týp
khác nhau.
- Gen C là một polypeptid mang kháng nguyên HBcAg và HBeAg. Nếu quá trình đọc mã
được bắt đàu từ codon AUG thứ nhất ở vị trí 1814 và đọc suốt chiều dài của đoạn gen

không muốn đi lại. Triệu chứng này tồn tại ở đa số bệnh nhân với các mức độ
khác nhau. Tuy nhiên, cũng có những bệnh nhân viêm gan virus B chỉ có triệu
chứng mệt mỏi là duy nhất.
Bệnh nhân có thể có rối loạn tiêu hoá, thể hiện: khi ăn vào ậm ạch khó tiêu,
đi ngoài phân lỏng, nát… Đặc biệt, với những trường hợp viêm gan B có ứ mật
nặng thì phân bị bạc màu.
Bệnh nhân có nước tiểu vàng. Có nhiều bệnh nhân bị viêm gan B không
thể hiện những triệu chứng trên mà chỉ có hai triệu chứng là mệt mỏi và đi tiểu
vàng.
Một số bệnh nhân có biểu hiện đau tức vùng gan.
Triệu chứng vàng da. Điều này rất có ý nghĩa thúc đẩy người bệnh nghĩ
đến việc mình bị viêm gan và đi khám bệnh. Tuy nhiên, có rất nhiều bệnh nhân bị
viêm gan B mà không hề bị vàng da. Lúc này, cần để ý tới các triệu chứng khác để
nghĩ đến khả năng bị viêm gan B.
Triệu chứng vàng da ở bệnh nhân viêm gan B
Khi bệnh nhân có các triệu chứng nêu trên mà xét HBsAg (+) dương tính
và men gan tăng thì khả năng chắc chắn là bị viêm gan do virus viêm gan B.
Các triệu chứng thường xuất hiện 4-6 tuần sau khi nhiễm HBV và có thể từ
nhẹ đến nặng, gồm một số hoặc đủ các triệu chứng sau đây: chán ăn, buồn nôn
và nôn, ốm yếu và mệt mỏi, đau bụng vùng gan, vàng da và vàng mắt, đau khớp,
nước tiểu sẫm màu. Viêm gan B mạn tính: 90% trường hợp nhiễm HBV ở tuổi
trưởng thành sẽ hồi phục hoàn toàn, còn 10% chuyển thành nhiễm khuẩn mãn
tính.
Trong khi nếu trẻ em bị nhiễm HBV sau khi sinh thì khoảng 90% số trẻ này
sẽ bị nhiễm khuẩn mãn tính. Thời kỳ này kéo dài nhiều năm, thường không có triệu
chứng gì, nhưng sẽ dẫn tới hậu quả nặng nề như xơ gan, xuất huyết tiêu hóa, ung
thư gan
Xét nghiệm máu, HBsAg dương tính trong các trường hợp: nhiễm HBV
mạn tính tiến triển gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan; Những người đã từng
nhiễm HBV, cơ thể đã tạo ra miễn dịch và thải trừ hoàn toàn HBV nhưng hiện tại

hiện. Những anti- HBs tạo nên miễn dịch trong những lần nhiễm trùng HBV sau này.
Đồng thời, những người được chủng ngừa bằng vacxin thành công cũng được đo anti-
HBs trong máu.
Anti- HBc
Kháng nguyên lỏi của vi rút viêm gan B chỉ được tìm thấy trong gan và không thể phát
hiện được trong máu. Sự hiện diện số lượng lớn kháng nguyên lõi của vi rút viêm gan B
cho thấy vi rút đang trong quá trình sinh sản. Điều này có nghĩa là vi rút đang hoạt
động. Kháng thể kháng lại kháng nguyên lõi (anti- HBc) được phát hiện trong máu. Từ
vấn đề đó, có hai loại kháng thể anti-HBc ( IgM và IgG) được tạo ra.
IgM anti- HBc là dấu hiệu nhiễm trùng HBV cấp. IgM anti- HBc được thấy trong máu
trong giai đoạn viêm gan cấp và tồn tại tối đa 6 tháng kể từ lúc khởi phát triệu chứng.
IgG anti- HBc xuất hiện trong giai đoạn viêm gan cấp và tồn tại sau đó, dấu hiệu chỉ
điểm ở những người hồi phục hay qua giai đoạn viêm gan mạn. Theo đó, chỉ IgM anti-
HBc mới được dùng để chẩn đoán nhiễm viêm gan B cấp . Hơn nữa, chỉ xác định anti-
HBc toàn phần ( không xác định hai thành phần ) thì không giúp ích cho chẩn đoán.
HBeAg, anti- HBe và thể biến chủng
Kháng nguyên e của HBV và kháng thể của nó, anti- HBe để xác định sự lây nhiễm của
vi rút ở người nhiễm HBV mạn. Sự phát hiện cả hai HBeAg và anti- HBe thường riêng
rẽ nhau. Theo đó, sự hiện diện HBeAg nghĩa là vi rút đang hoạt động và có khả năng
lây nhiễm cho người khác, còn sự hiện diện anti- HBe dấu hiệu tình trạng vi rút không
hoạt động và ít nguy cơ lây nhiễm hơn.
Ở một vài người bị nhiễn HBV, chất liệu di truyền của vi rút đã bị biến đổi một phần gọi
là thể biến chủng. Kết quả của sự biến chủng này là không khả năng tạo ra HBeAg,
ngay cả khi vi rút đang giai đoạn sinh sản. Điều này có nghĩa là mặc dù không phát hiện
HBeAg trong máu ở người nhiễm thể biến chủng thì vi rút HBV vẫn còn hoạt động ở
những người này và vẫn có thể lây nhiễm cho người khác.
HBV ADN
Đánh dấu đặc biệt nhất sự sinh sản vi rút HBV là đo lường HBV DNA trong máu. DNA
là chất liệu di truyền của HBV. HBV DNA có nồng độ cao cho thấy vi rút đang ở giai
đoạn sinh sản và hoạt động. Nồng độ thấp hay không phát hiện được HBV DNA là ứng

vòng 3 đến 4 tuần lễ, vi khuẩn viêm gan B vẫn giữ nguyên khả năng tàn phá tế bào gan
khi xâm nhập vào cơ thể chúng ta.

B ;ÐẶC TÍNH TĂNG TRƯỞNG và XÁP NHẬP NHIỄM THỂ
Gan là mục tiêu chính của vi khuẩn viêm gan Bợ. Khi xâm nhập vào cơ thể, chúng sẽ đi
thẳng vào từng tế bào của gan và sinh trưởng rất nhanh chóng. Với đặc tính vi khuẩn hóa,
chúng sẽ trưng dụng và điều khiển "nhân công" của tế bào gan một cách triệt để. Sau đó,
chúng dần dần chiếm lấy chủ quyền và từ đó phát huy nhiều mệnh lệnh liên tục. Sự thay
đổi sở hữu chủ này có thể gây ra nhiều hậu quả tai hại sau này. Không những chỉ "xâm
nhập gia cư" một cách bất hợp pháp, chúng còn có thể trà trộn với chất ADN của tế bào
gan, thay đổi đặc tính di truyền của "chủ nhà" một cách ngang nhiên. Sự xáp nhập nhiễm
thể này được thấy rõ ràng nhất ở các tế bào ung thư gan gây ra từ bệnh viêm gan B kinh
niên.
2 : Mức độ nguy hiểm của virus viêm gan B
Khoảngmột phần ba dân số thế giới, tương ứng với 2 tỷ người, có tiền sử (đã từng bị) nhiễm
virus viêm gan B. Trong đó hiện nay có trên 350 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B mãn tính.
Tại sao 2 tỷ người có tiền sử nhiễm mà chỉ có khoảng 350 triệu người nhiễm vi rút mãn tính: khi
nhiễn virus viêm gan B cấp tính trong cơ thể chúng ta sẽ có cơ chế đáp ứng tự nhiên nhằm đào
thải virus Khả năng đào thải virus tự nhiên phụ thuộc vào độ tuổi nhiễm virus viêm gan B, nhiễm
ở độ tuổi càng nhỏ thì khả năng đào thải virus tự nhiên càng thấp và khả năng chuyển thành
nhiễm virus mãn tính càng cao. Ngược lại nhiễm ở lứa tuổi trưởng thành thì khả năng đào thải
virus tự nhiên cao hơn và khả năng chuyển thành nhiễm virus mãn tính thấp hơn . Ngoài ra mức
độ nhiễm viêm gan B còn có sự khác nhau giữa nam và nữ trong từng lứa tuổi khác nhau
Tổng số bệnh nhân Việt Nam đã bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn
viêm gan B, tùy theo tuổi tác và phái giới (2003)
Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mãn tính có tính chất địa lý khác nhau .Khu vực Đông Nam Á–
trong đó Việt Nam, Trung quốc, một số nước trung Á, Ả rập, miền trung và miền nam châu Phi,
khu vực bắc nam Mỹ, Alaska và bắc Canada là những vùng đại dịch nhiễm nhiễm virus viêm gan
B mãn tính, với tỷ lệ người nhiễm virus mãn tính trên 8% dân số. Với mật độ dân cư lớn, nên
trên 50% số người nhiễm virus viêm gan B mạn tính sinh sống tại khu vực Đông Nam Á và

Thuốc điều trị chủ yếu là Interferon alpha
Interferon alpha là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, được sản xuất bởi một số tế
bào khi cơ thể nhiễm virut. Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh.
Như vậy, khi dùng Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự nhiên
của cơ thể.
Interferon alpha được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp
thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi trong vài
giờ,gọi là hội chứng giả cúm. Những biểu hiện này là do Interferon khởi động đáp ứng
của cơ thể chống lại siêu vi giống như khi mắc bệnh cúm vậy. Về sau, tác dụng phụ này
sẽ bớt dần. Uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó
Trong thời gian điều trị, nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc
điều trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nữa, bởi vì một số bệnh nhân có thể bị tái phát
sau khi ngưng thuốc.
Một số thuốc kháng sinh chống siêu vi hiện đang được nghiên cứu phối hợp với
Interferon alpha .
2 : Cách phòng chống bệnh viêm gan B
* Những biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu
Các biện pháp vệ sinh
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với máu dịch tiết từ người nhiễm bệnh:
Không dùng chung chén bát, đũa, ly,…với người bệnh.
- Áp dụng phương pháp quan hệ tình dục an toàn, sử dụng bao
cao su là tốt nhất.
- Không sử dụng chung kim tiêm và các vật dụng cá nhân khác.
- Sử dụng găng tay khi tiếp xúc với máu người bệnh.

* Những biện pháp phòng bệnh đặc hiệu
- Globulin miễn dịch kháng HBV: Tiêm bắp liều 0,08ml/kg cho người
có nguy cơ lây nhiễm VRVGB, liều 0,3 ml/kg cho trẻ sơ sinh có mẹ
mang HBsAg.
- Tiêm vắc-xin phòng viêm gan: Có thể nói đây là cách phòng tránh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status