Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LỜI MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long , với diện tích khoảng gần 40000 km
2
và là một trong ba
vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đã được nhiều người, không chỉ là người dân Việt
Nam mà còn cả bạn bè thế giới biết đến. Nhưng điểm nổi bật của nơi được mệnh danh là
“Vòi rồng, chín nhánh – Cửu Long” không phải chỉ có thế! Đó là nơi của những cù lao
xanh rì nằm gọn trong vòng tay của những dòng sông mẹ hiền hòa, quanh năm bồi đắp
phù sa màu mỡ và tắm mát cho ruộng đồng. Đó còn là nơi của biết bao nhiêu loại cây,
đặc biệt là cây ăn trái miệt vườn trĩu quả quanh năm. Đó còn là nơi của những người dân
thật thà chất phác, và phóng khoáng nữa.
Miền Tây Nam Bộ trù phú này được
nhiều người trong nước và trên thế giới
biết đến một phần là nhờ vào tiềm năng
du lịch. Du lịch ở đây đang dần khởi sắc
như du lịch trên sông nước, miệt vườn,
hay trên biển đảo. Đó cũng nhờ vào một
phần ở điều kiện tự nhiên.
ĐBSCL có mạng lưới sông ngòi dày
đặc. Và như đã nói, khi xưa những dòng
sông ấy ôm lấy đồng bằng, bồi đắp tình thương cho đồng bằng nhờ những hạt phù sa ngát
hương. Thế nhưng giờ đây, liệu các bạn có thể hình dung ra được những dòng sông ấy đã
từng xinh đẹp như thế nào khi chứng kiến cảnh chúng bị ô nhiễm bởi không biết bao
nhiêu là rác thải và nước thải. Còn đâu những đám lục bình bồng bềnh ngao du trên mặt
nước,…… ? Vì nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nên chúng không thể nào sinh trưởng
và phát triển. Thay vào đó là từng mảng rác rến lừ đừ trôi theo dòng nước bị chất thải từ
các nhà máy làm cho đen hẳn đi. Như vậy thì cá tôm không thể nào mà sống cho được,
và liệu những dòng sông ấy có bị biến thành “môi trường chết” hay không, khi chính
chúng cũng đang là nơi “chôn thây” của bao nhiêu xác động vật ?
Page 1
1.2. Các tác nhân gây ô nhiễm :
1.2.1. Các hợp chất hữu cơ :
- Các hợp chất hữu cơ không bền : các cacbonhydrat, các loại protein, các
chất béo,……
- Các hợp chất hữu cơ bền vững thường là các hợp chất có độc tính sinh học
cao, khó bị phân hủy bởi các tác nhân vi sinh vật : các hợp chất phenol, các loại
chất bảo vệ thực vật hữu cơ, tanin và lignin, các hydrocacbon đa vòng và ngưng
tụ,…….
1.2.2. Các loại kim loại nặng :
- Chì (Pb) : có độc tính đối với não, có thể gây chết người nếu bị nhiễm độc
nặng…
- Thủy ngân (Hg) : rất độc với người và thủy sinh
- Asen (As) : rất độc dễ dàng hấp thụ vào cơ thể qua ăn uống, hô hấp, qua da.
Gây ung thư da, phổi,………
- Các nguyên tố khác có độc tính rất cao như : Niken, Crom,… là tác nhân
gây hại cho người và thủy sinh ngay khi ở nồng độ thấp.
1.2.3. Các chất rắn :Có trong tự nhiên là do quá trình xói mòn, do nước
chảy từ đồng ruộng, do nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Có thể gây trở ngại
cho nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt……
Page 3
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.2.4. Các chất dinh dưỡng : việc sử dụng dư thừa các chất dinh dưỡng vô
cơ (photphat, muối amon, ure, ) trong quá trình sử dụng phân bón cho cây trồng
sẽ gây lên hiện tượng phì dưỡng trong nước bề mặt,
1.3. Các chỉ số chỉ tiêu đo lường:
Các chất gây ô nhiễm trong môi trường thường được cho phép trong khoảng
nồng độ nhất định và có những quy định riêng. Một số chỉ tiêu đo lường đánh giá
sự ô nhiễm là: DO, BOD, COD
- DO: Là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh
vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh, côn trùng v.v ) thường được tạo ra do sự hoà
nước thải sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo ra các giá trị BOD và COD
cao của môi trường nước.
1.4. Các nguyên tắc đạt được hiểu quả trên góc nhìn kinh tế.
Khi nói đến ô nhiễm môi trường dưới con mắt kinh tế thì hiệu quả cũng phải
có một điểm tham chiếu. Điều có hiệu quả đối với một người trong quan điểm cân
bằng giữa chi phí và lợi ích của chính người đó, có thể lại không hiểu quả của
người khác. Khi một nhà máy xả rác thải làm ô nhiễm nước của nguồn sông đó thì
đồi hỏi công ty đó phải chịu một chi phí giảm ô nhiễm. Và quan trọng hơn dưới
góc nhìn kinh tế mức gây ô nhiễm bằng 0 không phải là mức gây ô nhiễm mang
lại hiều quả xã hội.
Xác định mức ô nhiễm hiệu quả xã hội dựa vào nguyên tắc cân bằng biên tức
là chi phí giảm ô nhiễm biên bằng với lợi ích kiểm soát ô nhiễm biên .
PHẦN 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
Page 5
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1.Tổng quan về đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL)
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm phần đất thuộc 12 tỉnh: Long An,
Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang và thành phố Cần Thơ. Là vùng đóng
vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt nam (đóng góp
hơn 50% sản lượng lương thực, 65% sản lượng thủy sản cả nước). Vùng châu thổ
phì nhiêu với sông nước mênh mông, kênh rạch chằng chịt này là một vùng đất
chứa đựng nhiều tiềm năng cho sự phát triển kinh tế cả về nông nghiệp, công
nghiệp, thủy sản và du lịch sinh thái.
Diện tích vùng ĐBSCL khoảng 3,9 triệu ha, với gần 17 triệu dân. Tuy nhiên, hàng
năm một diện tích rộng hơn 2 triệu ha ở phía bắc ĐBSCL bị ngập do lũ sông Mê
Kông, gần 2 triệu ha ven biển bị xâm nhập mặn, gần 1,9 triệu ha bị nhiễm phèn,
vùng sâu vùng xa thiếu nước ngọt, cơ sở hạ tầng của vùng còn yếu kém. Đây là
còn khoảng 200 g/m3. Diễn biến chất lượng nước trong vùng ĐBSCL khá phức
tạp, chịu sự chi phối từ điều kiện tự nhiên, chế độ khí hậu, thủy văn và hoạt động
phát triển kinh tế xã hội của con người.
Page 7
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.2.Tình hình ô nhiễm nước ở ĐBSCL
ĐBSCL có 3 nhóm đất chính là (1) nhóm đất phèn (41%); (2) nhóm đất mặn
(20%); (3) nhóm đất phù sa ngọt (39%). Môi trường
nước chia làm 3 vùng: nước ngọt, nước lợ và nước
mặn với các hệ sinh thái khác nhau, nhìn chung đa
dạng và phong phú. Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên,
tình hình phát triển kinh tế xã hội, tập quán sinh
hoạt…nên chất lượng nước ở ĐBSCL thay đổi khá
mạnh theo cả không gian và thời gian. Trong thời
gian gần đây vấn đề nổi lên rất đáng được quan tâm
là sự ô nhiễm nguồn nước.
Xét về nguồn gây ô nhiễm cho nước trong vùng có thể chia thành:
- Nguồn ô nhiễm tự nhiên:
+ Do nước chua có nguồn gốc từ đất phèn trong vùng, hoặc do nước chua đầu mùa
lũ tràn sang từ đồng bằng Campuchia.
+ Do đất nhiễm mặn, hoặc do nguồn nước mặn theo triều truyền sâu vào các
nhánh sông, rạch của hệ thống sông Cửu long.
- Nguồn ô nhiễm do hoạt động kinh tế, xã hội
+ Chất thải từ sản xuất công nghiệp, dịch vụ
+ Chất thải sinh hoạt, chăn nuôi (gia súc, gia cầm và thủy sản)
+ Chất thải từ sản xuất nông nghiệp.
2.2.1 Chua phèn
Nước chua là vấn đề rất đáng quan tâm ở ĐBSCL, gây ảnh hưởng lớn đến chất
lượng nước và kéo theo các tác động xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Nước chua xảy ra chủ yếu ở các vùng đất phèn hoặc lan truyền từ nơi khác đến.
gây ra những ảnh hưởng đáng kể.
Sự xâm nhập mặn ở ĐBSCL rất phức tạp, mỗi vùng có đặc điểm riêng:
- Trên dòng chính Mêkông phụ thuộc vào lưu lượng thượng lưu chảy về.
- Trên hệ thống sông Vàm cỏ phụ thuộc sự bổ sung lưu lượng từ các nguồn khác
(vào sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông) và việc lấy nước của các khu vực ven
Page 9
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
sông.
- Vùng Tứ giác Long xuyên (TGLX) chịu ảnh hưởng lớn vào khả năng vận
chuyển nước ngọt của hệ thống kênh nối từ sông Hậu sang biển Tây,
-Ở vùng Bán đảo Cà Mau (BĐCM) phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa nội vùng
và sự tiếp ngọt từ kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp.
ĐBSCL có khoảng 790 000 ha đất mặn (20%) trong tổng số gần 2 triệu ha tự
nhiên bị ảnh hưởng mặn, phân bố chủ yếu dọc bờ biển Đông và vùng BĐCM.
Trong đó, đất bị mặn dưới 2 tháng khoảng 100 000 ha (đều đã được sử dụng cho
nông nghiệp), đất mặn từ 2- 4 tháng 520 000 ha (88% sử dụng cho nông nghiệp,
9% cho rừng và 3% đất hoang), và đất mặn quanh năm chiếm khoáng 170 000 ha
(34% cho rừng, 25% nuôi tôm và 36% đất hoang). Trước đây khi công trình thuỷ
lợi chưa phát triển diện tích bị ảnh hưởng mặn 1g/l trở lên khoảng 2,1 triệu ha.
Nếu tính với độ mặn 0,4g/l (tiêu chuẩn cho phép của nước sinh hoạt) thì phạm vi
ảnh hưởng mặn còn rộng hơn. Đến nay do công trình thuỷ lợi phát triển, nhiều
vùng ven biển được ngọt hoá nên diện tích bị ảnh hưởng mặn giảm đáng kể, chỉ
còn 1,5 triệu ha. Tuy nhiên ranh giới mặn trên sông chính, sông÷khoảng 1,3 Vàm
Cỏ Tây và các kênh nối thông ra biển lại có xu thế gia tăng.
Trong những năm khô kiệt, mặn xâm nhập lên cao, gây tác hại lớn. ĐBSCL đã
từng xảy ra những năm khô hạn, mặn gây hại nặng nề cho kinh tế - xã hội như
năm 1977, 1993 và đặc biệt là năm 1998. Năm 2005 cũng là năm hạn hán nên xâm
nhập mặn xẩy ra khá nghiêm trọng. Diễn biến mặn ĐBSCL phụ thuộc vào 3 yếu tố
chính là (a) lưu lượng thượng lưu, (b) lượng nước tích từ mùa lũ năm trước và
lượng mưa tại đồng bằng, (c) sử dụng nước, đặc biệt là nước cho sản xuất nông
triệu con gia cầm, đặc biệt là vịt (thủy cầm- là tác nhân lây truyền H5N1 trong giai
đoạn vừa qua). Số chất thải rắn do chăn nuôi đưa thẳng vào sông rạch khoảng 22
500 tấn/ngày đêm, chất thải lỏng (kể cả nước rửa chuồng trại) chừng 40 000
m3/ngày đêm.
Ước tính tải lượng chất thải gây ra do súc vật và gia cầm cho toàn vùng ĐBSCL:
BOD5 432,9 T/ngàyđêm tương ứng 158.000 T/năm.
COD 1.643,8 T/ngàyđêm tương ứng 600.000 T/năm. Tổng số N 86,8 T/ngàyđêm
Page 11
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
tương ứng 31.700 T/năm.
Tổng số P 40,5 T/ngàyđêm tương ứng 14.800 T/năm.
Ngoài ra, nguồn gây ô nhiễm trực tiếp, đáng kể là các bè cá nuôi trên sông. Theo
thống kê chưa đầy đủ thì lượng thải do các bè cá gây ra khoảng trên 3 triệu
tấn/năm.
Tập quán sinh hoạt nhất là việc thải trực tiếp các chất thải (từ người, gia súc và gia
cầm) vào nguồn nước của cư dân trong vùng làm cho nước mặt ở ĐBSCL có độ
nhiễm vi sinh cao, nồng độ Coliform trung bình khoảng 300.000 - 1.500.000
con/100ml.
Mặt khác khi bị đào đắp ao nuôi thủy sản, đào kinh rạch cấp và thoát nước,
vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi
quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mãnh liệt làm giảm độ
pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm, cá trong nuôi
trồng.
Các nguồn thải ra sông rạch đã tác động làm cho môi trường nước bị biến đổi.
Chất lượng nước trong các ao nuôi thủy sản gồm cá nước ngọt, nuôi tôm ven
biển đặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm
hữu cơ (BOD, COD, nitơ, phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép), có sự xuất hiện
các thành phần độc hại như H2S, NH3+, và chỉ số vi sinh Coliforms, đã cho thấy
nguồn nước thải này cần phải được xử lý triệt để trước lúc thải ra sông rạch. Số
liệu quan trắc môi trường nước trên sông rạch khu vực ĐBSCL cũng đã cảnh báo
trồng thủy sản.
Vì vậy, để giải quyết vấn đề nhằm cải thiện, tiến tới
đảm bảo chất lượng nước trong vùng cần kết hợp nhiều
giải pháp khác nhau.
2.2.4 Nguồn chất thải:
Nhìn chung môi trường nước tại ĐBSCL ngày
càng bị ô nhiễm nặng là do các chất thải bị thải ra trực
tiếp xuống sông ao hồ. Những chất thải đó có nguồn gốc từ các KCN, KCX…. Từ
khi các KCN, KCX phát triển càng mạnh thì môi trường nước tại đây ô nhiễm
càng nặng.
Page 13
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
- Khu công nghiệp (KCN) Mỹ Quí (TP Long Xuyên) có 10 nhà máy chế biến thủy
sản đang ngày đêm thải nước xuống sông Hậu.
-Trên sông Hậu (bờ Long Xuyên) còn một nhà máy chế biến thủy sản có công suất
thuộc loại nhất khu vực ĐBSCL (và cũng gây ô nhiễm nguồn nước sông Hậu nhiều nhất
khu vực) là Công ty Nam Việt.Hàng trăm hộ dân sống dọc sông Hậu gần công ty này
đang khiếu nại đòi bồi thường khắc phục hậu quả. Sông Hậu đang là nơi chứa chất hôi
thối, dơ bẩn của Công ty Nam Việt từ năm năm qua mà không ai xử lý.
- Còn tại các KCN ở Cần Thơ nhiều nhà máy lởm chởm cũng đang xả nước thải đen
ngòm thẳng ra sông. Ở khu vực quận Bình Thủy, hệ thống cống xả nước thải của các nhà
máy “chỉa” ra sông dày đặc.Ông Lê Hùng Dũng, cán bộ Phòng quản lý môi trường (Sở
Tài nguyên & môi trường), chỉ vào một miệng cống và cho biết đó là của Xí nghiệp thức
ăn gia súc Meko. Xí nghiệp có hệ thống xử lý
nước thải nhưng thực tế không đảm bảo được
vệ sinh môi trường. Gần đó một đoạn không xa
là những “miệng thần chết” của Công ty hải sản
404 (QK9) đang ào ạt tuôn nước thải. Theo tài
liệu của Phòng quản lý môi trường thống kê,
Công ty 404 không làm hệ thống xử lý nước thải
3.1. Đối với người dân:
Ô nhiễm môi trường nước nói riêng và môi trường nói chung, vấn đề ô nhiễm
ngày càng nặng không phải chỉ do các nhà máy xí nghiệp mà còn có sự tham gia
của người dân. Sự nhận thức yếu kém về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Họ vô tình
làm hại môi trường và cũng hại chính bản thân….
Để khắc phục tình trạng ấy chúng ta phải tuyên truyền bảo vệ môi trường, nói đến
những tác hại về con người, về kinh tế cho người dân. Cần mở những lớp bảo vệ
Page 15
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
môi trường giữ gìn nguồn nước sạch. Ngoài cách tuyên truyền trực tiếp thì có thể
tuyên truyền qua truyền thông, radio, sách báo…… vì những phương tiện đó hiện
nay rất phổ biến đến người dân. Và còn một biện pháp được nhiều nước trên thế
giới áp dụng để làm giảm bớt sự xả thải mà Việt Nam ta nên áp dụng là biện pháp
ký quỹ-hoàn trả.
3.2. Quản lý nhà nước trong môi trường nước:
Tôn trọng các điều kiện tự nhiên, chỉ tác động để biến đổi khi thấy thật sự có
lợi về kinh tế và môi trường.
Đánh giá và phân tích quy luật tự nhiên của từng yếu tố nguồn nước, từ đó
đề xuất các giải pháp tổng thể mang tính khái quát cao, phù hợp toàn vùng.
Tôn trọng các giá trị lợi ích do chính nguồn nước mang lại (như lũ mang phù
sa, vệ sinh đồng ruộng, nguồn thủy sản; nước mặn có rừng ngập mặn, sinh thái
vùng ven biển, nuôi trồng thủy sản…), cố gắng không làm mất đi hay giảm đến
mức thấp nhất các tác động ngược đối với các lợi ích này.
Tôn trọng các giá trị bảo tồn tự nhiên và công trình thủy lợi sẽ được phân cấp
từ tác hại lớn đến tác hại nhỏ, đảm bảo hòa hợp với môi trường.
Các công trình thủy lợi vừa mang tính hệ thống vừa mang tính đơn lẻ, hiệu
quả tổng thể được phát huy tối đa khi hoàn chỉnh toàn hệ thống.
Mỗi công trình, cụm công trình, hệ thống công trình đề xuất đều phải được xem
xét kỹ các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và môi trường. Ngoài ra, còn phải chú ý
đến mối quan hệ tổng hòa giữa các vùng, các địa phương, giữa giải pháp công
kinh tế môi trường.
Qua quá trình nghiên cứu, có thể khẳng định rằng con người
làm ô nhiễm môi trường bởi vì đó là cách rẻ nhất.
Qua sự tìm hiều, mong muốn rằng những biện pháp thuế, quản
lí chặt chẽ, kí quỷ hoàn trả có thể áp dụng một cách dễ dàng để
khắc phục tình hình môi trường hiên nay.
Page 18