ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA PHÁT TRIỂN CƠ
SỞ HẠ TẦNG: “ĐẬP ĐÊ, ĐÀO KINH, XÂY ĐẬP
THỦY LỢI TRÊN MÔI TRƯỜNG CHÂU THỔ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VIỆT NAM”
1
Ả
Ả
n
n
h
hh
h
ư
ủ
a
ap
p
h
h
á
á
t
tt
t
r
r
i
i
ể
ể
n
nc
c
ơ
ậ
p
pđ
đ
ê
ê
,
,đ
đ
à
à
o
ok
k
i
i
n
n
h
h
,
l
ợ
ợ
i
il
l
ê
ê
n
nm
m
ô
ô
i
it
t
r
r
ư
ư
ờ
n
g
gb
b
ằ
ằ
n
n
g
gs
s
ô
ô
n
n
g
gC
C
ử
ử
u
m H
H
u
u
ỳ
ỳ
n
n
h
hL
L
o
o
n
n
g
M
M
.
.
S
S
c
c
,
,P
P
h
h
D
D ác châu thổ đồng bằng đóng một vai trò quan trọng trong sự sống còn của loài người, ngay từ
thời tiền sử. Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì những xã hội nông thôn, các
đô thị văn minh đã được sinh ra và phát triển trên những vùng đất trù phú của các châu thổ
với những đề nghị dành cho những kế họach phát triển các cơ sở hạ tầng trong tương lai ở châu thổ
Cửu Long.
Bài biên khảo giới hạn những phân tích trong phạm vi vùng châu thổ đồng bằng Cửu Long Việt
Nam.
C
C
2
1. Phát triển cơ sở hạ tầng ở châu thổ đồng bằng Cửu Long và những ảnh hưởng
đến đặc tính lý sinh của môi trường.
1.1 Nhập đề
Điều kiện thiên nhiên của châu thổ đồng bằng Cửu Long tạo ra nhiều cơ hội đồng thời gây ra không
thiếu những khó khăn cho cuộc sống con người. Đồng bằng Cửu Long liên tục trải qua những biến
đổi. Tuy nhiên đáng kể nhứt trong khoảng thời gian tương đối gần đây, đặc biệt từ sau 1975, mà nhịp
độ, tầm vốc và không gian của những biến đổi đã gia tăng một cách đáng kể; những thay đổi này
được thúc đẩy bởi nhu cầu chánh trị và kinh tế và xảy ra dưới dạng những phát triển cơ sở hạ tầng từ
không gian của một nông trại đến toàn vùng châu thổ; đây là kết quả của những quyết định cá nhân,
cấp tỉnh thành, quốc gia và quốc tế. Mặc dù một số dự án phát triển thực sự đem lại lợi ích kinh tế
cho người dân, đúng theo ý định, nhưng ảnh hưởng đến môi trường thường không được tìm hiểu hay
để ý đến; trong khi những sáng kiến mới được tiếp tục đem ra áp dụng.
Vùng đất phèn (acid sulphate soils, ASS) rộng lớn trong Đồng Tháp, khu Tứ giác Long Xuyên và
bán đảo Cà Mau, từ trước không được sử dụng trong canh tác nông nghiệp, nay được cải thiện và
đưa vào trồng lúa thuỷ lợi, nhờ mạng lưới kinh đào bành trướng, các hợp tác xã nông nghiệp thiết
lập, và chương trình định cư những nông dân nghèo từ các nơi khác đến (MDDRC,1993; Sanh et
al.,1998). Sự bành trướng nhanh chóng này được biểu hiện qua sự gia tăng gần 4 lần tổng số diện
tích (1.1 triệu ha) đất canh tác trong châu thổ, trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1995 (Son, 1998).
Hầu hết lúa được trồng hai mùa mỗi năm và ở một vài nơi 3 mùa.
3 Mặc dù những giống lúa cổ truyền được thay thế bằng những giống lúa có năng xuất cao, gia tăng sử
dụng phân bón, hoá chất nông nghiệp và kỹ thuật canh nông giúp gia tăng sản lượng; tuy nhiên chính
việc áp dụng công trình thuỷ lợi qui mô vào mùa khô và những biện pháp kềm chế ngập lụt và tháo
nước ở mùa mưa đã làm cho nền nông nghiệp thâm canh được thực hiện trên hầu hết các nơi trong
châu thổ. Những kế hoạch thuỷ lợi được bành trướng nhanh chóng nhờ mạng lưới kinh đào rộng rãi
sẵn có, được hợp nhứt thành một hệ thống hoàn chỉnh hơn, gồm những kinh đào cấp 1 (cấp vùng)
đến những kinh đào cấp 3 (cấp địa phương/ nông dân).
Trước thập niên 1990’s, điều hòa thuỷ lợi được áp dụng một cách rất phân tán, thiếu phối hợp. Điển
hình là những biện pháp kiểm soát lũ lụt thường được dành cho những vùng đất rộng từ 10
2
-
10
3
ha,
bao bọc bởi những kinh cấp 1 và cấp 2, các kinh đào cấp 3 được dùng vào công tác dẫn và tháo nước
cho những vùng đất nhỏ hơn 10
4 Ở vùng ven biển, kinh rạch là những đường dẫn nước mặn cần thiết cho rừng đước và nuôi trồng
thuỷ sản. Thêm một ích lợi kinh tế khác của kinh rạch là tạo ra nguồn thuỷ sản; đây là một nguồn lợi
ích phụ trội cho người dân địa phương trong thời gian sau mùa gặt. Kinh có kích thước thay đổi, to
rộng như những kinh cấp 1, dành cho những tàu đò trọng tải 2000 tấn, đến nhỏ cạn như các mương,
rảnh trong nông trại. Những kinh cấp 1 được xem như đường dẫn nước giữa những nguồn nước thiên
nhiên (các sông chánh, biển) và những vùng nằm trong kế hoạch kiểm soát nguồn nước, trong khi
những kinh cấp 2 nối liền các kinh cấp 1. Kinh cấp 3 dẫn nước ra, vào các cánh đồng.
Đê được đắp lên từ đất do đào kinh hay vét những đường nước thiên nhiên, các kinh đào cấp 1 và
cấp 2. Công dụng của đê là đề phòng hay trì hoãn nước tràn ngập vào các cánh đồng hay lũ lụt vùng
ven biển. Những đê lớn được đắp cao và dùng như các trục lộ giao thông ở những vùng chưa phát
triển. Một vài kinh đào cấp 3 cũng có đê, với kích thước nhỏ và có ít tác dụng giảm lụt
(NEDECO,1991b).
Vì các kinh rạch nối thông với nhau nên đê thực sự chia vùng đồng bằng châu thổ thành những ô đất
lớn nhỏ khác nhau. Chiều cao và vị trí cuả các con đê trong châu thổ xác định mức độ phòng chống
lụt và từ đó, loại mùa màng được khai thác. Ở những vùng được bao bọc bởi những con đê, thấp hơn
mực nước lụt, lúa được gặt vào đầu mùa nước lụt và ở đây thường trồng lúa hai mùa; các cánh đồng
ngập nước là nơi cá sinh sản, đem lại lợi tức khác cho người dân địa phương. Những vùng có đê cao
hơn mực nước lụt, được xem như quanh năm được che chở khỏi lụt, và ở đây lúa được trồng 3 mùa.
Nước chảy ra, vào các con kinh được điều hòa bằng các cửa đập. Chức năng rõ rệt của các cửa đập
thay đổi tùy theo từng nơi . Ở vùng trên của châu thổ, tức những nơi bị ngập lụt sâu và kéo dài, các
cửa đập được dùng để ngăn chận nước lụt tràn vào các cánh đồng, từ các sông chánh, từ đầu mùa lụt
đến khi vụ mùa hè thu được thu hoạch. Các cửa đập được mở ra sau mùa gặt, thường vào giữa tháng
1.2.2 Ảnh hưởng lên môi trường và những quan ngại.
1.2.2.1 Những ảnh hưởng thuỷ học: mùa lụt
Sự bành trướng của những biến đổi cấu trúc liên quan đến các biện pháp kiểm soát dòng nước gần
đây, có nghĩa là những tiến trình thuỷ học hiện nay trong châu thổ đồng bằng Cửu Long, không còn
giống như thời nguyên thuỷ. Môt cách tổng quát, đào thêm kinh, đắp đập, phân chia môi trường
thành từng mảnh và khiến cho mô hình của dòng chảy và hiện tượng“nước tràn bờ” trong vùng châu
thổ, trở nên phức tạp.
Trong điều kiện thiên nhiên, nước lụt vào mùa mưa là một tiến trình tăng từng bực, bắt đầu ở vùng
thượng nguồn tràn dần xuống phần hạ nguồn của châu thổ. Mực nước trước tiên dâng cao trong các
sông chánh, lên ngang mặt bờ sông và từ từ tràn bờ bao phủ các cánh đồng. Tiếp theo đó, toàn thể
đồng bằng châu thổ là lộ trình chánh để nước di chuyển xuống phần dưới của châu thổ. Những cấu
trúc kiểm soát nguồn nước làm gián đoạn tiến trình kể trên dưới hai hình thức:
Trước hết, làm trì hoãn hay hoàn toàn ngăn trở hiện tượng tự nhiên”nước ngập tràn bờ”,
điều này làm gia tăng khối nước trong các dòng sông chánh và những kinh đào không có các cửa
đập (kinh đào cấp 1). Đối với những con sông thiên nhiên, gia tăng độ chảy làm thay đồi hình
dáng và động tính của con sông: sạt bờ, nhiều chất rắn, phù sa được vận chuyển xuống hạ nguồn
khiến những đoạn sông ở hạ nguồn bị lắng bùn và cạn dần. Trong trường hợp này, chỉ một khối
nước tối thiểu thoát khỏi dòng sông chánh, thì phần dưới của châu thổ có thể bị ngập thường
xuyên hơn, sâu hơn và gây nên những thiệt hại to lớn, vì phần dưới của châu thổ (ít khi bị nạn
“nước ngập tràn bờ” ) chỉ có những hệ thống phòng chống những trân lụt nhỏ. Đối với những
kinh đào, dòng nước chảy mạnh, làm soi mòn bờ kinh và gia tăng khối lượng chất trầm tích
chuyên chở trong kinh chánh. Khi vào đến các kinh cấp 3, hầu hết khối lượng chất trầm tích này
sẽ lắng đọng vì dòng nước đột ngột giảm sức chảy, gây nên nhiều tốn kém để bảo quản kinh rạch.
Nhóm những hậu quả thứ hai, liên quan đến cách di chuyển của dòng nước khi vào đến những
khu vực bị ngập do nước tràn bờ. Ở vùng trên của châu thổ, kinh đào và đê thường có cùng
giác Long Xuyên) sẽ gây ra những ảnh hưởng đáng kể đối với thuỷ lượng của dòng sông chánh, vì
một khối lượng nước khổng lồ từ các con sông chánh được thu rút để rửa đất, xả phèn.
Một hậu quả tức thời của giảm thuỷ lượng các dòng sông chánh là kéo dài thời gian nước biển xâm
nhập vào nội địa và bành trướng phạm vi của vùng bị ngập mặn. Những dữ kiện thu thập được từ
thập niên 1980’s cho thấy thời gian nước mặn xậm nhập vào các con sông Tiền và sông Hậu đã kéo
dài thêm.
Tuy nhiên hiện tượng nước biển xâm nhập sâu hơn vào của châu thổ khó tránh khỏi vì trong tương
lai sẽ có thêm nhiều cấu trúc kiểm soát nguồn nước, thêm vào đó dân số gia tăng, đô thị hoá và kỹ
nghệ hoá vùng châu thổ sẽ tạo thêm sức ép lên nguồn nước. Hiện nay nhiều điểm thu rút nước, dọc
theo các đoạn của con sông chánh, đã bị ảnh hưởng bởi nước mặn theo mùa, và nếu có thêm nhiều kế
hoạch kiểm soát nguồn nước ở châu thổ thượng nguồn, thì trong tương lai không xa, phạm vi vùng
ngậm mặn trở nên rộng lớn hơn, như thế sẽ đe doạ sự tồn tại của các chương trình dẫn thuỷ ở hạ
nguồn. Thêm một mối đe dọa ngày càng trầm trọng hơn do xây dựng các đập thuỷ điện và các hồ
chứa nước ở lưu vực thượng nguồn sông Cửu Long.
Một ảnh hưởng thuỷ học khác gây nên bởi cấu trúc của các cơ sở hạ tầng kiểm soát nguồn nước, tuy
không giới hạn, nhưng trầm trọng hơn vào mùa khô là tình trạng xả nước yếu, kém trong các con
kinh. Một nguyên nhân của nước bị ứ đọng trong các con kinh là địa hình nghèo nàn của mạng lưới
kinh rạch: các kinh xuyên qua các đầm lầy trong vùng sâu ở Đồng Tháp và khu Tứ giác Long Xuyên,
được đào theo hướng dễ gây nước ứ đọng; độ chảy của dòng nước, từ các sông chánh khi vào đến
đầu kinh, giảm đi rất nhiều do sự chuyển hướng đột ngột của dòng nước. Ngoài ra, trong khu Tứ giác
Long Xuyên, thuỷ triều tràn vào từ vịnh Thái Lan làm ngăn trở nước chảy ra vịnh, đặc biệt vào cuối
mùa khô, khi dòng nước từ sông Hậu chảy rất yếu (Tin and Ghassemi, 1999). Ở vùng bán đảo Cà
Mau, hệ thống kinh rạch, bao gồm rất nhiều con rạch nước thiên nhiên dọc theo bờ biển Nam Hải và
Vịnh Thái Lan, ăn thông với phần trong của bán đảo Cà Mau nhờ những kinh đào nằm vắt ngang; vì
thế vùng bán đảo Cà Mau cũng dễ bị ứ đọng nước vì hướng chảy đối ngược giữa thuỷ triều chảy vào
và dòng nước trong các con kinh nằm ở phần trong của bán đảo Cà Mau. Thiết kế nhiều cống thủy
lợi để kiểm soát độ mặn vào mùa khô cũng gây nên tình trạng nước ứ đọng trầm trọng ở nhiều nơi,
toàn bị khống chế, đất đai không được bồi lấp, trở nên kém hiệu xuất). Tuy nhiên ở đây cần phải đặt
câu hỏi về giá trị thật sự của thói quen này, vì trong nhiều trường hợp, tất cả khối lượng chất trầm
tích có thể bị giữ lại trong các con kinh, trước khi nước lũ tràn vào các cánh đồng; do độ chảy giảm
sút của dòng nước trong kinh vì cách bố trí nghèo nàn của hệ thống kinh đào. Thêm vào đó, khối
nước của đợt lũ đầu mùa đến từ thượng lưu, thường chứa nhiều chất trầm tích hơn khối nước tràn đê
vào cao điềm của mùa lũ (Miller, trao đổi trực tiếp).
Mặc dù các kế hoạch kiểm soát nguồn nước làm giới hạn bồi lấp, nhưng đồng bằng châu thổ vẫn giữ
được chức năng của những bồn chứa, hứng lấy những chất trầm tích từ mạng lưới kinh đào rộng lớn
ngày nay, chảy xuyên qua các cánh đồng.
Hình 2a. Vài yếu tố góp phần gia tốc chất trầm tích làm nghẽn các kinh đào: các eo thắt và bố trí
nghèo nàn (vùng thuỷ lợi Tam Phương, tiểu dự án Nam Măng Thít).
Nguyên nhân chánh của chất trầm tích bị nghẽn lại trong các kinh đào là dòng nước bị ứ đọng, gây
nên bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Lắng bùn là vấn đề đặc biệt của những kinh đào nhỏ, cấp 2 và
cấp 3, nằm cách xa sông chánh, tiết diện nhỏ hẹp, có nhiều xây cất làm gián đoạn dòng chảy (giáp
nối, khúc ẹo, góc cạnh và hóc chết; Hình 2a), nhà cửa xây cất dọc theo bờ kinh (Hình 2b) và nhiều
cây cỏ trong kinh, tất cả làm cho dòng nước chảy yếu dần. Ở những vùng đất phèn, dưới điều kiện
acid, nhiều chất nhuyễn quến cục và lắng đọng trong kinh.
Trong những con kinh lớn hơn, nước chảy mạnh nên các chất trấm tích ít lắng đọng, không làm
nghẽn lưu thông. Những kinh nối liền các sông chánh và biển hoặc giữa các sông chánh, có thể di
chuyển một khối lượng khổng lồ chất trầm tích ra khỏi sông chánh. Đó là trường hợp một khối lượng
đáng kể chất trầm tích nhuyễn mịn của sông Hậu dường như được chuyển dòng bởi những kinh cấp 1
dọc theo khu Tứ giác Long Xuyên ra vịnh Thái Lan. Một phần lớn chất trầm tích bị chuyển hướng,
tuy nhiên, dường như bị giữ lại ở những vùng nước đọng, nơi tiếp giáp của nước thủy triều và nước
trong kinh chảy ngược chiều.
Dòng nước các sông chánh thay đổi hướng nơi giáp nối với các con kinh, gây nhiều ảnh hưởng đến
bồi lấp. Phân chia dòng nước tạo nên những vùng nước đứng yên, nơi giáp nối của các con kinh với
dòng sông chánh, điều này khơi nguồn cho sự hình thành những voi đất, ở những nơi trước kia bị sạt
lở trong điều kiện thiên nhiên (ở phần lõm của chổ rẽ). Những voi đất mới được tạo nên ở một phía
của bờ sông, trái lại sẽ gây nên sạt lở ở phần bờ đối diện. Hơn thế nữa, một số ít trầm tích to hạt có
thể được chuyên chở từ sông chánh vào các kinh, nơi đây vì nước chảy yếu, nên sẽ lắng đọng rất
nhanh, làm cạn các con kinh. Dù ở bất cứ trường hợp nào, khối lượng trầm tích to hạt cung cấp cho
các dãy đất ngầm hiện có và những nơi có khả năng tồn trữ trầm tích to hạt sẽ giảm đi, điều này làm
chậm lại nhịp độ bồi lấp và soi mòn của những vùng này. Thay đổi vùng được bồi lấp và soi mòn ở
trong các con sông và kinh rạch có thể gây thiệt hại và tốn kém để bảo quản các trục thuỷ lộ. Tình
trạng này trở nên phức tạp hơn, vào đầu mùa lũ lụt, với khối lượng chất trầm tích gia tăng gây nên
bởi nạn lở đất (vì vào thời điểm này, toàn thể khối lượng nước lũ bị kềm giữ trong lòng sông chánh
và kinh đào, nên độ chảy của dòng nước gia tăng khiến các bờ sông bị bào mòn) ( đoạn 1.2.2.1).
Phần chất trầm tích nhuyễn tích luỹ ở châu thổ đồng bằng Cửu Long sẽ tăng thêm, vì sự bành trường
của trồng lúa thâm canh cùng mật độ và tính phức tạp của mạng lưới kinh rạch gia tăng. Bên cạnh sự
gia tăng khối trầm tích bị giữ lại trong kinh, gia tăng rút nước nhiều vào mùa khô để canh tác sẽ làm
9
gia tăng sự chuyên chở chất trầm tích nhuyễn mịn từ ngoài biển vào các đoạn sông gần cửa biển, do
ảnh hưởng của dòng chảy tạo nên bởi sự tiếp xúc đột ngột của nước ngọt và nước mặn (Wolanski et
al.,1998). Gia tăng bồi lấp trong mùa khô, phối hợp với gia tăng suốt năm của lượng nước chảy vào
các kinh đào, có thể làm cho những đoạn sông ở phần dưới của châu thổ trở thành những nơi được
bồi lấp bởi những trầm tích nhuyễn mịn. Chuyển một khối nước khổng lồ của sông Hậu theo kinh
VĩnhTế ra vịnh Thái Lan nhằm giảm lụt đầu mùa, là một kế hoạch gây nhiều tranh cải, vì trong bối
cảnh ấy lượng phù sa nhuyễn mịn chảy ra biển Nam Hãi sẽ giảm một cách đáng kể, và bờ biển phía
đông sẽ bị soi mòn. Ảnh hưởng sẽ được nhận thấy một cách rõ rệt dọc theo vùng ven biển của bán
đảo Cà Mau, vì vùng này hiện được bồi lấp bởi phù sa đổ ra từ các cửa sông (Ảnh hưởng trực tiếp
của các kinh đào lên vùng ven biển được thảo luận ở đoạn 1.3.2.2 ).
chảy xuống hạ nguồn sẽ gây ra những hậu quả tác hại cho vùng hạ lưu. Ở Đồng Tháp, nước sông
Tiền được dùng rửa phèn vùng đất phía tây và lượng acid phóng thích do xả phèn, theo dòng nước
chảy về hướng đông trước khi đổ vào sông Vàm Cỏ Tây (NEDECO, 1994a; Tin and Ghassemi,
1999). Đúng theo dự đoán, khối lượng acid phóng thích vào sông Vàm Cỏ Tây gia tăng từ khi
chương trình kiểm soát nguồn nước được áp dụng ở Đồng Tháp. (NEDECO,1993b & 1994a).
Ở nhiều vùng mà dòng nước không luân chuyển, gây ra bởi chương trình kiểm soát nguồn nước (xây
các cửa đập thủy lợi, kinh đào bố trí không đúng cách), tình trạng đất ngậm phèn không những không
được cải thiện nhưng trái lại tệ hại hơn. Các cửa đập có tác dụng tiêu cực lên hệ môi sinh do sự đột
ngột phóng thích một khối lượng lớn acid khi cửa đập được mở ra; thời điểm và chu kỳ đóng mở cửa
đập tùy theo ý thích của người quản lý hệ thống thuỷ lợi. 10 1.2.2.5 Những ảnh hưởng khác đến phẫm chất của nguồn nước và ô nhiễm
Các kế hoạch kiểm soát nguồn nước ảnh hưởng đến phẫm chất của nguồn nước trong các kinh rạch
và các đường nước nhỏ hơn trong đồng bằng sông Cửu Long do những thay đổi về thuỷ tính của
dòng nước và động tính của các chất trầm tích, kết hợp với sự bành trướng và gia tăng sinh hoạt của
con người, đặc biệt là trồng lúa thâm canh. Trong nhiều trường hợp, nhiều ảnh hưởng tác hại có tính
chồng chất, làm cho phẫm chất của nguồn nước tồi tệ hơn .
Những chất gây ô nhiễm cho dòng nước của châu thổ đồng bằng Cửu Long, ngoài khối lượng acid
phóng thích từ xả rửa đất phèn, còn có những chất hữu cơ, hoá tố (nitrogen và phosphorus), thuốc trừ
sâu bọ và mầm gây bệnh (vi trùng coliform có trong phân người và động vật) xuất phát từ những phế
thải của các nông trại và các hộ gia cư. Hầu hết nguồn nước trên mặt của châu thổ, trừ các sông
chánh, ít nhiều đều có chứa nhiều chất hữu cơ và hoá tố (NEDECO,1993b).
tom góp tất cả những chất phế thải của các hộ gia cư, các chất bẩn rắn và các chất ô nhiễm khác; và
khi mực nước ở các dòng sông bắt đầu rút thấp, nước ngập trong các cánh đồng vẫn không thoát ra
được do các con đê (Hình 3). Do đó, người dân địa phương phải sống chung với nguồn nước dơ bẩn
ô nhiễm trong suốt thời gian “nước lũ tràn bờ”, gây nguy hại đến sức khoẻ. Đứng trên phương diện
này, liệu lũ lụt hàng năm có hiệu quả và giá trị tẩy trừ chất bẩn, độc tố, thuốc trừ sâu rầy khỏi đồng
ruộng như người ta thường nghĩ. 11 1.2.2.6 Những ảnh hưởng đến môi sinh
Ành hưởng đầu tiên của các kế họach qui mô kiểm soát và phân phối nguồn nước lên môi sinh của
châu thổ đông bằng Cửu Long là làm giảm diện tích những vùng có hệ sinh thái tương đối thiên
nhiên. Những dấu vết còn sót lại của những vùng nước ngọt, đất thấp (rừng tràm và đầm cỏ) ở vùng
ngoại biên của châu thổ đồng bằng như:
khu Tứ giác Long xuyên và Đồng Tháp, ít người lui tới vì môi trường khắc nghiệt, khó sống vì
đất phèn, đầm lầy, ngập lụt sâu kéo dài 6 tháng mỗi năm
vùng ven biển của bán đảo Cà Mau với rừng đước, rừng mấm dày đặc, ngày nay được mở ra cho
con người cải biến và sử dụng.
Những vùng môi sinh hiếm hoi còn sót lại này bị đặt dưới áp lực nặng nề và nguy cơ ngày càng tăng
do sự xâm nhập của con người, biến những khu thiên nhiên thành những “tiểu đảo” giữa “biển cả”,
khiến nhiều hệ sinh thái còn sót lại (tuy hiện nay là những khu được bảo vệ cấp quốc gia), luôn luôn
bị đe doạ bởi những sinh hoạt trong những vùng lân cận như:
những thay đổi về dòng chảy của các con sông
kế hoạch chống lũ
những ảnh hưởng gián tiếp hơn như: thay đổi độ chảy dòng nước, thời gian, phạm vi và chiều sâu
của ngập lụt vào mùa mưa, động tính của chất trầm tích và acid phóng thích từ những vùng đất phèn.
Tính đa dạng của môi trường sống giảm dần: thí dụ những chỗ sâu, cạn khác nhau của dòng sông
thiên nhiên được thay thế bằng những kinh đào được bố trí theo hình chử nhựt và cùng một độ sâu.
Xa hơn nữa, mức độ an toàn của môi trường sống cũng biến đổi, điển hình là làm gián đoạn thường
xuyên hệ thuỷ sinh trong các kinh đào, do nạo vét và xả phèn định kỳ, từ những vùng đất phèn ASS,
có diện tích ngày càng gia tăng. Mặc dù đào kinh tạo thêm nhiều môi trường sống cho thuỷ sản và
được xem như thêm một lợi ích của kế hoặch kiểm soát và phân phối nguồn nước (thật thế, cá trong
các kinh đào là một nguồn lợi khác của người dân vùng châu thổ), tuy nhiên nhận định này cần được
xét lại vì môi trường sống trong các kinh đào có tính kém đa dạng và thiếu ổn định. Những điều kiện
sinh thái trên dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học trong vùng, vì chỉ những loại sinh vật có khả
năng thích ứng cao nhứt và sống thành đàn được tồn tại, trong khi các giống khác bị huỷ diệt.
Áp dụng kế hoạch kiểm soát nguồn nước làm tăng chất ô nhiễm trong môi trường, điều này có thể
xuất phát từ:
gia tăng sử dụng các loại phân bón hoá học trong nông nghiệp thâm canh
gia tăng diện tích đất phèn
gia tăng khối lượng acid phóng thích do khả năng rửa đất của các dòng nước bị suy giảm
hay vì
gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ môi sinh do tiêu diệt các vùng sinh vật, giảm năng
xuất sinh học, giảm đề kháng bệnh tật và hạ thấp tính đa dạng sinh học (MDDRC,1996). Một
điều cần được quan tâm đặc biệt ở đây là nguy cơ của độc chất tích luỹ dần dần trong môi trường
thiên nhiên, vì các chương trình kiểm soát nguồn nước không chỉ gia tăng khối lương chất ô
nhiễm, nhưng còn có tiềm năng gia tăng khối lượng chất ô nhiễm tồn đọng trong môi trường và
được hấp thụ bởi sinh vật.
Giới hạn nước tràn bờ ngập châu thổ đồng bằng, ngăn cản nước tràn bờ, gia tăng acid hoá đất
đai và dòng nước do thành lập thêm nhiều vùng đất phèn AASS, dòng nước không luân chuyển
và gia tăng bồi lấp trong các kinh rạch, giảm độ chảy vào mùa khô của các con sông chánh bởi
Vùng ven biển của châu thổ đồng bằng Cửu Long tượng trưng một trong những hoàn cảnh địa dư
đầy thách thức đối với định cư và sử dụng của con người. Nơi đây tập trung những điều kiện thiên
nhiên chủ yếu có tính khắc nghiệt làm hạn chế những phát triển kinh tế, như tính mặn, đất phèn và
thoát nước nghèo nàn. Ở vùng tây nam bán đảo Cà Mau, nằm cách xa ảnh hưởng trực tiếp của nước
ngọt của các sông chánh, do tính chất nghịch lý thiếu nước ngọt ở vùng đầm lầy nên không nhiều
người đặt chân vào, mãi đến thời gian tương đối gần đây. Môi trường không chịu những ảnh hưởng
biến đổi đáng kể vì nơi đây chỉ có một số nhỏ cộng đồng, dân cư thưa thớt sống còn nhờ bắt cá, hầm
than đước, canh tác chuyển vùng và làm muối (Hong and San,1993; Sanh et al., 1998). Ở những nơi
có nhiều nguồn nước ngọt, canh tác cổ truyền được điều chỉnh để thích hợp với những thay đổi theo
mùa của môi trường: trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô; đây là một dạng thích ứng
với hoàn cảnh thiên nhiên, dựa trên cơ hội luân chuyển của mùa nước ngọt và nước mặn. Cách thức
sử dụng đất đai có từ lâu đời này tương đối ít gây ra những hậu quả tiêu cực đối với môi trường: vào
mùa khô, dẫn nước mặn vào các cánh đồng để nuôi tôm giúp đất không ngậm phèn, rửa xả độc chất,
ngăn ngừa đất phóng thích acid và mặt đất không bị dẽ rắn (Miller, 2000).
Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho môi trường thiên nhiên nhưng cho cả người dân đã bỏ ra công
sức, đồng thời giảm được những rủi ro mất mùa, nhờ độc tính của đất được giảm bớt vào thời điểm
cấy mạ non. Vùng đất ven biển nằm trong kế hoạch kiểm soát và phân phối nước ở châu thổ đồng
bằng Cửu Long, phần lớn ngậm mặn theo mùa, hiện được cải biến nhờ các công trình thuỷ lợi, nên
mỗi năm trồng được 2-3 mùa lúa. Ngược lại dãy đất nắm giữa bờ biển và ranh giới (ở mặt quay về
biển) của vùng được trồng lúa thuỷ lợi, một cách tiếp cận hoàn toàn trái ngược được dùng cho vùng
đất này (ngập mặn suốt năm hay theo mùa). Trên các dãy đất này, nước mặn là nguồn sản xuất có giá
trị về mặt kinh tế và vùng đất được phát triển trong những năm gần đây để nuôi trồng thuỷ sản: nuôi
tôm và trồng đước.
1.3.1.2 Nuôi tôm và rừng đước
Nuôi trồng thuỷ sản là một phần trong toàn bộ đời sống nông nghiệp lâu đời của người dân vùng
châu thổ đồng bằng Cửu Long. Phối hợp nuôi cá/tôm trong các thửa ruộng bỏ hoang vào mùa khô
đước là nơi sinh sản con giống và cũng là nguồn dinh dưỡng chánh của tôm (NEDECO, 1991d; Linh
and Binh, 1995). Thêm một yếu tố khác khiến nuôi tôm có năng xuất thấp là cách phát hoạ và quản
lý các ao tôm rất nghèo nàn, đưa đến những điều kiệu không thích hợp cho tôm tăng trưởng: nhiều
ao quá cạn, khiến nhiệt độ của nước trong ao thay đổi nhiều (Koopmanschap and Vullins, 1996;
Jonhston et al., 1998), trong khi một số ao khác quá sâu hoặc thiếu cống thoát nước để nước được
hoán đổi (Hong and San., 1993). Để bù đấp vào những giảm sút về năng xuất và lợi tức, mốt số nông
dân bỏ những ao cũ, phá thêm rừng, đào thêm những ao mới, đem đến hậu quả là cả một vùng rừng
đước, trong nhiều trường hợp vẫn còn đang trong tình trạng phục hồi sau những tàn phá bởi chiến
tranh Việt Nam, trở thành vùng đất hoang đầy cỏ dại loại Acanthus illicifolius. Trong khoảng thời
gian từ năm 1983 đến 1995, Cà Mau và Bạc Liêu mất một nửa diên tích rừng đước (từ 117.745 ha
giảm còn 51.492 ha), con số này cho thấy những hậu quả tác hại và không lường của phong trào
nuôi tôm nước mặn đối môi trường của châu thổ.
Đến đầu thập niên 1990’s, ảnh hưởng của nuôi tôm theo phong trào và hậu quả tàn phá rừng đước
trở nên rõ rệt ở cấp địa phương. Mặc dù gia tăng diện tích vùng nuôi tôm được tiếp tục, nhưng năng
xuất có dấu hiệu suy giảm. Sản xuất có chiều hướng tiếp tục giảm hơn do bộc phát và tái phát các
bệnh nhiễm vi khuẫn, như bệnh đốm trắng; bệnh này tràn lan do các điều kiện không thích hợp trong
ao và nhiều nông trại dùng chung đường nước ra, vào (Koopmanschap and Vullings, 1996; MDDRC,
1996; Benthem,1998; Phuong and Hai, 1998).
Sản lượng nuôi tôm giảm sút thúc đẩy việc tìm kiếm những phương cách khác ít dựa vào các nguồn
thiên nhiên. Môt số nông dân nuôi tôm theo quảng canh cải thiện và bán thâm canh, vẫn dùng nước
thuỷ triều, nhưng chọn con giống sản xuất nhân tạo theo tỷ lệ và thứ tự 1-3, và 3-6 con giống cho
mỗi m
2
(Phuong and Hai,1998) và dùng thức ăn hạng thấp, trong khi một số nhỏ theo phương pháp
thâm canh tốn kém hơn với vốn đầu tư nước ngoài và chuyên viên có nhiều kinh nghiệm; con giống
được cung cấp từ những nơi ương trứng, thực phẫm có chất lượng cao và nguồn nước được thường
xuyên bôm ra, vào (Koopmanschap and Vullings, 1996; Phuong and Hai, 1998). Điều đáng ghi ở đây
là trong khi cách nuôi tôm quảng canh cải thiện và bán thâm canh được phát triển nhanh chóng trong
sản quảng canh cải thiện và rừng đước Rhizophora apiculata.
Trong hệ thống này, rừng được giử 70% tổng số diện tích và phần còn lại dành cho nuôi trồng thuỷ
sản và các canh tác nông nghiệp khác. Nhiều đề án của hệ thống tổng hợp này được đem ra áp dụng:
hệ thống phân chia rỏ rệt giữa vùng nuôi thuỷ sản và đồn điền; hệ thống hợp nhứt trong đó đước
được trồng ngay trong hay xung quanh ao nuôi tôm; hệ thống gồm những ao được đào giữa đồn điền
rừng đước (Hong and San, 1993; Linh and Binh, 1995). Thiết lập những đồn điền rừng đước đem
đến nhiều lợi ích cho môi trường và an sinh xã hội. Hồi phục rừng đước trên những vùng đất phèn
giúp giảm thiểu acid trong đất và cải thiện cấu trúc, lượng chất hữu cơ của đất; và ở nơi như Cần
Giờ, khối lượng thuỷ sản gia tăng rõ rệt sau khi rừng được tái tạo khoảng vài thập niên (Hong and
San, 1993). Trồng cây đước trong hay xung quanh các ao nuôi tôm giúp cải thiện những điều kiện để
tôm tăng trưởng nhờ những rác rưởi dồi dào chất hữu cơ, nhiều dinh dưỡng và bóng mát ngăn nhiệt
độ của nước trong ao tăng cao quá đáng. Tuy nhiên trồng đước cũng gây ra một số những ảnh hưởng
tiêu cực: nhiều bóng mát làm giảm sút năng xuất của tôm (Linh and Binh, 1995). Thu nhập từ trồng
rừng đước rất chậm và thấp so với nuôi tôm (Johnston et al.,1998), vì mỗi chu kỳ từ lúc trồng đến khi
thu hoạch cây củi khoảng 20 năm (Hong and San,1993; Johnston et al., 1998). Vì thế, xảy ra những
16
chuyện đốn rừng bất hợp pháp và những sai lầm trong phần quản lý rừng đước, đưa đến những qui
định chặt chẻ hơn như hoàn toàn cấm đốn rừng đước ở Tỉnh Cà Mau, vào năm 1996 (Johnston et al.,
1998). Những quan tâm khác về thời hạn người dân được quyền chiếm hữu đất dành để trồng rừng
đước: do nhiều tin đồn gây hoang mang trong quần chúng, rằng đất tư nhân chiếm hữu chỉ được
dùng vào các canh tác nông ngư nghiệp, đây chính là những lý do vì sao các kế họach trồng rừng
không được mấy thành công (Miller, trao đổi cá nhân).
1.3.1.3 Thuỷ lợi và trồng lúa
Mặc dù diện tích nuôi trồng thuỷ sản gia tăng một cách phổ biến trong thời gian gần đây, tuy nhiên
những vùng ở phía mặt trong giáp đất liền, được thay thế dần dần bởi sự phát triển của trồng lúa thuỷ
Thêm vào đó, đóng cửa đập thuỷ lợi, tạo ra những vùng nước tù ở hai bên cửa đập và từ đó phẫm
chất nước trong kinh bị suy giảm.
Mặt khác, nước mặn xâm thực có thể trở nên trầm trọng hơn, dọc theo các con kinh có những nhánh
hai bên và cùng lúc bị đóng bởi các cửa đập. Những trường hợp này thường xảy ra khi con kinh nằm
ở vùng giữa hai kế họach thuỷ lợi riêng biệt.
Ở vùng ven biển của châu thổ Cửu Long, địa hình thiên nhiên bị biến đổi một cách rộng rãi và trở
nên phức tạp hơn do đào ao nuôi tôm (tạo nên những bờ/đập, ụ đất), đào những đường nước ra, vào.
Trong một khu vực nhỏ, nhưng cùng lúc có nhiều cách sử dụng khác nhau, nên gây ra nhiều vấn đề
phức tạp. Ngoài ra hệ thống tiêu thoát nước cũng bị biến đổi một cách sâu rộng. Những vùng đất
17
thấp rộng lớn, chằng chịt với những rạch thuỷ triều ngoằn ngoèo được thay thế bằng hệ thống những
kinh đào thẳng; ảnh hưởng của những biến đổi về cấu trúc này thay đổi tuỳ nơi; một mặt, thoát nước
và thuỷ triều hoán chuyển ở nhiều nơi được cải thiện do sự thiếp lập của hệ thống kinh đào, nhưng
những cấu trúc như bờ đê, ụ đất gây nên úng nước ở nhiều nơi khác. Những nơi gần các bờ đê
thường bị úng nước, tích luỹ các chất ô nhiễm và ngập lụt ở địa phương vào mùa mưa trở nên trầm
trọng hơn. Tạo ra những tiểu đảo để gia tăng canh tác nông nghiệp sẽ làm trầm trọng và phức tạp
thêm những ảnh hưởng tiêu cực về thuỷ học.
1.3.2.2 Ảnh hưởng trên động tính của các chất trầm tích và hiện tượng bồi lấp
Ảnh hưởng của đào kinh ở vùng ven biển của châu thổ đồng bằng lên động tính của chất trầm tích có
phần khác hơn so với vùng thượng của châu thổ, vì trước hết ở ven biển không có những hệ thống đê
trị thuỷ to lớn và thứ đến do sự khác biệt về chiều hướng di chuyển của chất trầm tích. Những kinh
đào ở vùng ven biển làm gia tăng đường thuỷ triều vận chuyển chất trầm tích từ biển đông, như thế
làm gia tăng cung cấp chất trầm tích cho châu thổ đồng bằng. Mặc dù kinh đào giữ lại một khối
lượng trầm tích đáng kể, tuy nhiên tương đối ít so với những rạch nước thiên nhiên ngoằn ngoèo, tích
thể được làm giảm đi bằng những qui định về cách sử dụng đất dọc theo bờ kinh, tàu bè chạy trong
kinh và trồng cỏ dọc theo bờ. Sạt lở bờ làm cạn kinh và từ đó phải nạo vét. Tuy nhiên nếu nạo vét
kinh không đúng cách lại có thể tạo nên phản hồi tiêu cực tiếp theo, có nghĩa là nạo vét đất sạt lở dẫn
đến sạt lở thêm.Trước hết, nạo vét quá gần bờ và đất nạo vét lại vứt ngay lên bờ, làm cho bờ kinh
dốc đứng nên dễ bị sạt lở; tuy nhiên trên thực tế đây là điều cố ý của một số người, để dễ cất nhà bên
cạnh bờ sông và tiện việc làm bến ghe, tàu gần bờ. Bờ kinh có dốc thẳng đứng khiến không thể trồng
18
cỏ để gia cố. Tiếp tục nạo vét khiến kinh lớn dần và phơi trần loại đất PASS trở thành đất phèn. Bùn
nạo đổ đống lên bờ kinh trở thành những nơi tích luỹ các chất ô nhiễm; các chất độc này sau đó thải
vào kinh, ngoại hấp lên những chất trầm tích nhuyễn ở đáy kinh.
Tính ổn định của bờ biển có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những kinh đào vùng ven biển. Những
kinh đào dọc theo bờ biển Nam Hải ở Cà Mau tạo ra nhiều mối lo ngại vì các kinh đào thực sự làm
gián đoạn hệ thống chuyên chở phù sa dọc theo bờ biển: vì những kinh đào có tác dụng như những
bồn tồn trữ chất trầm tích, dần dần làm giảm khối lượng trấm tích chuyển xuống phía nam. Khối
lượng phù sa mà hệ thống chuyên chở mất đi rất lớn vì sức chảy của thuỷ triều vào các con kinh rất
mạnh, do ảnh hưởng trực tiếp của biên độ và đặc tính không cân bằng của thuỷ triều khi dâng lên và
lúc rút xuống. Ngoài ra các kinh đào còn có ảnh hưởng tiêu cực lên sự tăng trưởng của cây đước mọc
dọc bờ biển. Thí dụ đước không mọc nơi cửa kinh Cai Cùng giáp bờ biển ở Bạc Liêu, nhưng mọc
nhiều hơn ở những nơi xa cửa kinh. Mặc dầu nguyên nhân không rỏ, tuy nhiên có thể kinh tạo ra
những điều kiện khó khăn cho hạt bám đất, đâm chồi vì phơi trần trước gió, mặt trời và thuỷ triều.
Những bải bồi trơ trọi xung quanh các cửa kinh rạch khiến cho bờ biển dễ bị soi mòn vì thiếu những
cây đước bám giữ đất.
Do phạm vi bành trướng rộng lớn dọc theo vùng bờ biển của châu thổ đồng bằng Cửu Long, những
ao nuôi tôm gây ảnh hưởng rất lớn lên động tính bồi đắp của phù sa trong châu thổ đồng bằng. Ao
nuôi tôm là những vùng khiếm khuyết của bề mặt châu thổ “nơi châu thổ, xem như, bị bòn rút” và
những vùng này cần được bồi đắp nhanh chóng hơn. Vì vùng đất ven biển có khuynh hướng được
Thêm vào đó, nuôi tôm có thể làm sạt lở bờ kinh, vì nước xả thải từ ao chảy thẳng xuống các bờ kinh
với tốc độ cao. Sau cùng sự bành trướng của ngành nuôi tôm sẽ làm trầm trọng thêm nhiều vấn đề
liên quan đến môi trường trong những năm sắp tới.
20
Hình 6. Soi mòn dưới dạng mương rảnh trên bải bồi gần kinh Cai Cùng, Tỉnh Bạc Liêu . Dốc đứng
phân chia bề mặt của bải bồi và mặt nước trong kinh vào lúc nước ròng.
Những ảnh hưởng của rừng đước lên địa hình và đặc tính lắng đọng sẽ được phân tích trong đoạn
1.3.2.5 dưới đây.
1.3.2.3 Ảnh hưởng lên đất phèn ASS và phóng thích acid vào môi trường
Nhiều khu đất dọc theo bờ biển của châu thổ đồng bằng Cửu Long là loại đất ngậm phèn PASS.
Động tác chánh của phát triển các cơ sở hạ tầng ở nhưng nơi này là đào quật các chất PASS, và như
thế làm rộng thêm phạm vi cùng tính ác liệt của các vấn đề thuộc đất phèn ASS: đào kinh, đắp đê.
Đóng các cửa đập thuỷ lợi tạo thêm nhiều lượng đất AASS: vào mùa khô mực nước ngọt ở bên trong
cửa đập hạ thấp và nhiều phần đất PASS của vách lòng sông tiếp xúc với không khí và bị oxid hoá
thành đất AASS. Thói quen dùng đất PASS từ đào ao nuôi tôm, để làm đê và bờ sông, không những
làm gia tốc tiến trình thành lập đất acid AASS, đồng thời làm tích luỹ acid trong ao làm chết tôm
(Hong and San, 1993). Ngoài ra acid có trong đất và trong nước khiến các cây đước giảm tăng
trưởng và như thế hạn chế sự tái tạo của cả hai hệ nuôi tôm-rừng đước hỗn hợp và rừng đước
(MDDRC, 1996). Tình trạng này trở nên nguy hại hơn với chất bẩn hữu cơ tồn trữ dưới đáy hồ biến
thành sulphides, tạo thêm một nguồn acid khác.
1.3.2.4 Ô nhiễm và phẫm chất của nước
khiến cho các đường nước trên toàn thể vùng châu thổ bị ô nhiễm bởi hoá chất. Một vài thuốc diệt
trừ sâu bọ thông dụng như các loại pyrethroids và methyl-parathion, ngay ở nồng độ rất thấp khoảng
0,0005mg/l hay ít hơn cũng đủ làm chết tôm, cá nhỏ và những vi sinh vật (NEDECO, 1994b). Vì
những vùng trồng lúa thuỷ lợi và nuôi tôm thường nằm cạnh bên nhau, nhứt là khi có thêm những
tiểu đảo trồng lúa trong vùng nước mặn, chắc chắn năng xuất của ngành nuôi tôm sẽ giảm sút nhiều
hơn bởi những hoá chất ô nhiễm. Ô nhiễm gây nên bởi các hoá chất nông nghiệp sẽ gây những ảnh
hưởng một cách rộng rãi lên những hệ sinh thái của nguồn nước và đất đai cũng như nhu cầu nước
sạch, ngày càng gia tăng, cho sinh hoạt gia đình và canh tác.
1.3.2.5 Ảnh hưởng lên hệ sinh thái
Do đặc tính thiên nhiên của môi trường, nên vùng ven biển của châu thổ đồng bằng Cửu Long là một
trong những nơi ẩn trú bản sơ sau cùng còn sót lại. Đặc biệt là những rừng đước trong châu thổ có
tính đa dạng rất cao và có cấu trúc phức tạp nhứt trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Hong and San, 1993),
với vẻ bên ngoài như bất khả xâm nhập nên ít người dám vào khai phá. Tuy nhiên, những năm chiến
tranh và tiếp đến là sự phát triển mạnh mẽ của các kế hoạch hạ tầng trong thời gian gần đây, đặc biệt
do nuôi trồng thuỷ sản, nên rừng đã bị phá huỷ một cách nhanh chóng. Một thay đồi bi thảm nhứt đã
xảy ra ở phía nam bán đảo Cà Mau, với toàn vùng từng được bao phủ bởi rừng vào giữa thập niên
1960’s (rừng đước và tràm) nhưng đến giữa thập niên 1990’s giảm xuống còn khoảng 30%
(Benthem, 1998). Phá rừng ở mức độ khủng khiếp, nên những rừng đước thiên nhiên hiện có, được
xếp loại như đợt rừng thứ nhì.
Những phát triển cơ sở hạ tầng gần đây trong châu thổ Cửu Long làm phân mảnh hệ lý sinh học của
môi trường và đặc biệt gây ra những hậu quả trầm trọng nhứt cho vùng ven biển. Không nơi nào
trong châu thổ mà đất đai của một khu vực nhỏ hẹp lại được sử dụng cùng lúc cho nhiều mục đích
khác nhau, với những lợi ích mâu thuẫn và địa hình thiên nhiên vùng biển bị biến đổi nhiều hơn các
nơi khác trong châu thổ. Dưới điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái của vùng ven biển được sắp xếp gần
như theo từng vùng nằm cạnh bên nhau, song song bờ biển, phản ảnh tính tăng dần về độ cao của nền
đất so với mực nước biển và tương ứng với độ mặn giảm dần theo sự gia tăng khoảng cách từ bờ
ra bởi con người, là đất dùng trong sản xuất, cần những độ cao và độ mặn rất khác nhau (các ao nuôi
tôm nước mặn và các vùng trồng lúa thuỷ lợi) nhưng lại nằm cạnh bên nhau hay xen kẽ; vì thế nên
hầu như vùng ven biển ngày nay là một hình ảnh chấp vá của những mẫu đất được sử dụng cho nhiều
mục đích khác nhau và hệ sinh thái biểu hiện rõ rệt những thay đổi phức tạp về độ cao của nền đất và
độ mặn của nguồn nước. Trong một không gian gò bó, hệ sinh thái vùng dọc bờ biển, trải nghiệm
những sức ép vô cùng to lớn và từ đó dễ bị tổn thương trước những thay đổi khác trong tương lai
(trình bày trong đoạn 2).
Hệ sinh thái của vùng ven biền bi suy thoái phần lớn vì những cấu trúc làm ngăn cản nước thuỷ triều
hoán chuyển tự nhiên và từ đó phẫm chất nguồn nước bị giảm đi. Vùng rừng đước và các rạch thiên
23
nhiên, nơi thuỷ triều và nước thoát rút luân chuyển tự do, được thay thế bằng khối nước đứng yên
của các ao nuôi tôm, trong đó chỉ tồn tại những giống sinh vật khoẻ mạnh. Điều này được phản ảnh
qua sự hiệu hữu của rất ít loại sinh vật và rất ít loại zoobenthos trong ao tôm so với những đường
nước lân cận (MDDRC, 1996). Sức ép mạnh mẽ áp đặt lên các vùng sinh vật, gây ra bởi các ao tôm,
được thấy rỏ qua những đợt bộc phát, tái phát các bệnh, dịch và nhiều trường hợp tôm trong ao chết
hàng loạt (Linh and Binh, 1995; MDDRC, 1996; Phuong and Hai, 1998). Điều kiện dơ bẩn trong ao
nuôi tôm cũng là một mầm móng nguy hại đối các hệ thuỷ sinh bên ngoài, vì ao nuôi tôm là vườn
ương các loại rong độc, theo nước xả từ ao đến các vùng khác, thu hút hết dưỡng khí trong nước và
sau khi chết, trở nên mục nát, phóng thích khí SH
2
và ammonia độc (MDDRC, 1996). Điều kiện ở
trong các con kinh cũng không tốt đẹp hơn vì nguồn nước trong kinh bị những ảnh hưởng tích luỹ từ
nước xả của các ao nuôi tôm, hoá chất ô nhiễm từ ruộng đồng và nước trong kinh không được
chuyển đổi (do thuỷ triều và cửa đập bị đóng lại). Như thế hệ thuỷ sinh và những khu vực chịu ảnh
hưởng của thuỷ triều, trong vùng ven biển của châu thổ, đã trở nên kiệt màu.
Bên ngoài các ao nuôi tôm và các kinh đào, nước ứ đọng do những bờ đất bao quanh ao và đê dọc
Ngoài ra, những đồn điền trồng đước thường được thiết lập để thay thế những khu rừng đước hiện
có, mà một số được phân loại như đã bị hạ cấp. Những cây cối còn lại bị đốn sạch và được thay thế
bằng chỉ một giống cây. Nếu có vài cây còn được giữ lại, đó là những cây cùng loại của đồn điền
(Hong and San, 1993). Như thế, dưới dạng hiện tại, công tác trồng đước thật sự làm giảm hơn là
phục hồi tính đa dạng của hệ sinh thái rừng đước trong châu thổ. Đất được chuẩn bị trước khi trồng
đước bằng cách dọn dẹp các lớp rác có chứa chất hữu cơ và cầy xới. Cấy xới khiến cho lớp đất trên
mặt có than bùn bị oxid hoá và dọn dẹp các lớp rác, làm mất đi những chất dinh dưỡng của hệ sinh
24
thái. Hơn nữa dọn dẹp và làm sạch lớp đất trên mặt có thể làm đất trở thành đất phèn AASS tạo thêm
những hậu quả tiêu cực cho rừng đước và các hệ sinh thái lân cận. Cấu trúc đồng nhứt về hình thể
của rừng, xuất phát từ trồng rừng cùng lúc trên một diện tích khai quang rộng rãi và bảo quản bằng
cách tiả xén, cắt gọn và diệt những cây cỏ không muốn, trong khi đem lại nguồn cây gỗ có giá trị
thương mại, nhưng góp phần rất nhỏ vào sự tái tạo một hệ sinh thái có thể tồn tại, khoẻ mạnh và đa
dạng. Tính độc nhứt và đồng dạng của đồn điền đước khiến cho rừng dễ bị thiệt hại trước những điều
kiện bất lợi của thời tiết, côn trùng và bệnh tật; vì những dịch và bệnh tật thường lan tràn nhanh
chóng trong những đồn điền thuần nhứt, do đó nên cần phải được theo dõi thường xuyên.
Một mối quan tâm khác xoay quanh ảnh hưởng lâu dài của đồn điền đước trên hệ sinh thái. Đước ở
châu thổ đồng bằng Cửu Long là thực vật, sống tùy cơ, bám vào mặt đất có chiều cao được tiếp tục
nâng lên. Và như thế, rừng đước là một hệ sinh thái phù du, tạm thời, ở trong trạng thái biến đổi liên
tục và sau cùng được nối tiếp bằng rừng tràm Melaleuca hoặc hệ sinh thái tạo nên bởi những đồng cỏ
và đầm lầy (sẽ trình bày chi tiết trong đoạn 2.2.3). Đồn điền với một loại đước, theo thời gian sẽ
giảm năng xuất, vì mặt đất sẽ tiếp tục cao dần đến lúc vượt quá mức độ chịu đựng của loại cây được
trồng. Sự thay đồi về độ cao của nền đất có thể xảy ra trong thời gian từ 1 đến 10 năm, đặc biệt nếu
một khối lượng to lớn chất rắn hay phù sa mang đến từ trận lụt lớn làm bồi lấp nền đất cao thêm
nhiều hơn. Thêm vào đó, những thay đổi về tính năng động của chất trầm tích gây nên bởi những kế
hoạch phát triển các cơ sở nông nghiệp hạ tầng trong vùng ven biển của châu thổ, sẽ làm gia tăng
mức độ bồi lấp ở một số nơi (đoạn 1.3.2.2), như thế làm ngắn đi tuổi thọ của đồn điền.
Những biến đổi của môi trường thiên nhiên gây ra bởi các kế hoạch phát triển các cơ cấu hạ tầng đã
làm thay đổi tư thế(!) của “nguồn chất liệu và bồn chứa” trong châu thổ. Trở lại trường hợp chất trầm
tích bồi lấp các đầm lầy do “nước ngập lụt tràn bờ”, những đê chống lụt làm giảm khối lượng trầm