Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP, phân tích trường hợp ninh thuận tt - Pdf 49

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP là một xu hướng của
thời đại, nó vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, vừa bảo vệ
sức khỏe cho người sản xuất và bảo vệ môi trường. Ninh thuận là một địa phương
có truyền thống trồng cây ăn quả nhất là Nho và Táo, theo xu hướng chung thì các
nông hộ ở Ninh Thuận cũng bước đầu tham gia sản xuất theo tiêu chuẩn GAP,
nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn như sự hiểu biết về sản xuất theo tiêu chuẩn
GAP còn hạn chế, thị trường tiêu thụ còn nhỏ lẻ, đầu tư manh mún,... chưa tạo
thành một phong trào rộng lớn trong quần chúng.
Điều đó cho thấy vấn đề ĐTPT SXNN theo tiêu chuẩn GAP đang được đặt
ra một cách bức thiết hiện nay trong cả nước cũng như từng địa phương. Trên thế
giới cũng như ở trong nước đã có nhiều nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp theo
GAP, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về ĐTPT
SXNN theo tiêu chuẩn GAP trong đó có đầu tư của nông hộ. Ở Việt Nam thì nông
hộ giữ một vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Để góp phần thúc
đẩy nông hộ ĐTPT SXNN theo tiêu chuẩn GAP, NCS lựa chọn đề tài: “Nghiên
cứu những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của
nông hộ theo tiêu chuẩn GAP - Phân tích trường hợp Ninh Thuận” làm đề tài luận
án tiến sĩ.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Làm rõ những vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm về đầu tư và các nhân
tố ảnh hưởng đến ĐTPT SXNN của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP; phân tích thực
trạng đầu tư và những nhân tố tác động đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP tại Ninh Thuận; đề xuất các giải pháp thúc đẩy
nông hộ đầu tư phát triển nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng tới ĐTPT SXNN của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP.

nhân tố có tác động mạnh nhất là lợi nhuận bình quân, hiểu biết về GAP của chủ
hộ, hỗ trợ của nhà nước và doanh nghiệp hỗ trợ.
- Có 6 nhân tố tác động đến hiệu quả đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
của nông hộ là thời tiết, số lao động, diện tích, vốn đầu tư, lợi nhuận bình quân và
quyết định tham gia GAP của hộ. Trong đó, quyết định đầu tư theo GAP có tác
động tích cực tới hiệu quả đầu tư của nông hộ.
Tóm lại, đóng góp cơ bản về mặt lý luận của luận án là bằng mô hình đã
lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp của nông hộ theo GAP dưới ba góc độ.


3
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

Luận án đã đề xuất 4 nhóm giải pháp góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, đặc
điểm nông hộ, thị trường và sự liên kết sản xuất nhằm thúc đẩy nông hộ đầu tư phát
triển sản xuất nông nghiệp theo GAP. Đó là: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện quy
hoạch vùng sản xuất an toàn phù hợp với điều kiện từng địa phương, (2) Nâng cao sự
hiểu biết và trình độ sản xuất của nông hộ theo GAP, (3) Phát triển thị trường tiêu
thụ sản phẩm đạt GAP, (4) Thực hiện liên kết giữa bốn nhà. Trong các nhóm giải
pháp đó, luận án khẳng định nhóm giải pháp thứ 4 là quan trọng nhất, là căn cứ để
xác định mục tiêu và phương thức triển khai cụ thể các nhóm giải pháp còn lại. Điều
đó có ý nghĩa giúp các nhà hoạch định chính sách xác định đúng thứ tự ưu tiên các
giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững đầu tư sản xuất theo GAP của nông hộ.
5. Kết cấu luận án:
Luận án kết cấu gồm 5 chương.

4

trong sản xuất cũng được Reardon and Farina (2001) khẳng định là sẽ tạo ra lợi

vực nông nghiệp nông thôn đã ảnh hưởng không nhỏ đến đầu tư phát triển sản
xuất nông nghiệp của nông hộ, gây khó khăn cho phát triển sản xuất theo GAP
(Janvry and Sadoulet, 2000; WB, 2007; Ellis, 1992; Bienabe và cộng sự, 2004;
Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền, 2013; Stevens and Jabasa, 1988;…)

Một số nghiên cứu lại tập trung phân tích ảnh hưởng của thị trường trong
đến đầu tư nông nghiệp của nông hộ theo GAP: Yêu cầu về sản phẩm GAP từ
khách hàng, đặc biệt là hộ gia đình, siêu thị, cửa hàng bán lẻ và các nhà máy chế
biến ảnh hưởng lớn đến khả năng đầu tư sản xuất rau theo GAP (Nguyễn Thị
Hồng Trang, 2016). Về vấn đề tiếp cận thị trường có bảy vấn đề lớn khiến thị
trường trong khu vực kinh tế nông nghiệp kém phát triển (Griffon và cộng sự,
trích dẫn trong Nguyễn Đức Thành, 2008). Các nông hộ vừa thiếu nguồn lực cho
sản xuất, lại vừa phải đối diện với các điều kiện khó khăn trong khâu lưu thông
(Bienabe và cộng sự, 2004).

1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP

Tác động của hỗ trợ của nhà nước tới khả năng đầu tư nông nghiệp của nông
hộ theo GAP ít nhiều cũng đã được đề cập đến ở một số nghiên cứu trên thế giới
(Deng và cộng sự, 2010; Nguyễn Văn Hùng, 2015; Nguyễn Thị Hồng Trang, 2016).

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án

Các nghiên cứu tập trung xây dựng mô hình lý thuyết cho đầu tư của nông
hộ (Weitz, 1971; Mendola, 2007; Velazco & Zepeda, 2001;…). Vai trò của GAP

Vai trò của việc hỗ trợ từ doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng trong đầu tư

2007; Dasgupta, 1993;…), tiếp cận theo hướng thể chế và hành vi (Morduch, 1994,
1995; Duflo, 2003; …). Phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào phương pháp định tính, bên cạnh đó cũng không ít nghiên cứu sử dụng
phương pháp định lượng (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008; Nguyễn Văn Hùng
và Nguyễn Minh Hà, 2016; Nguyễn Thị Hồng Trang, 2016;…).
1.1.5. Tóm lược kết quả tổng quan và khoảng trống nghiên cứu
1.1.5.1. Tóm lược kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ĐTPTSXNN
của nông hộ
Kết hợp các nghiên cứu từ nghiên cứu tổng quan cho thấy có thể phân chia
thành năm nhóm nhân tố tác động đến ĐTPTSXNN của nông hộ theo tiêu chuẩn
GAP là (1) nhóm nhân tố về điều kiện sản xuất, (2) nhóm nhân tố về đặc điểm
nông hộ, (3) nhóm nhân tố về thị trường, (4) nhóm nhân tố về đầu tư doanh nghiệp
và (5) nhóm nhân tố về hỗ trợ của nhà nước.
1.1.5.2. Khoảng trống nghiên cứu
Tính đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu tác động đầy đủ của
các nhóm nhân tố đến ba nội dung chính của ĐTPTSXNN của nông hộ theo tiêu
chuẩn GAP là quyết định đầu tư, quy mô đầu tư và hiệu quả đầu tư, đồng thời
cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ năm nhóm nhân tố tác động đến
ĐTPTSXNN của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP là (1) nhóm nhân tố về điều kiện
sản xuất, (2) nhóm nhân tố về đặc điểm nông hộ, (3) nhóm nhân tố về thị trường,
(4) nhóm nhân tố về đầu tư doanh nghiệp và (5) nhóm nhân tố về hỗ trợ của nhà

1.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận theo phân tích liên
kết chuỗi giá trị và thị trường cho người nghèo – công cụ phân tích chuỗi giá trị,
tiếp cận theo góc độ của nông hộ.
Mô hình nghiên cứu tổng quát: Y = f (X1; X2; X3; X4; X5) trong đó (Y) là
đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP bao gồm
quyết định đầu tư (GAP), quy mô đầu tư (VDT) và hiệu quả đầu tư (hiệu quả kinh
tế tổng hợp – TE, mức thay đổi của năng suất tổng hợp – TFPCH); (X1) điều kiện

EurepGAP là tiêu chuẩn GAP đầu tiên ra đời vào cuối thập niên 1990 đã đáp
ứng được yêu cầu của người tiêu dùng. Đến năm 2007 đã đổi tên thành
GlobalGAP, kể từ đó, tiêu chuẩn GAP của các khu vực và các quốc gia lần lượt ra
đời. VietGAP cũng được ra đời vào năm 2008 đã đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu
dùng ở Việt Nam.

NCS sử dụng kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng để
trả lời các câu hỏi nghiên cứu của luận án. Cụ thể: phương pháp phỏng vấn sâu 10
cá nhân, phát phiếu khảo sát 250 hộ cả theo GAP và không theo GAP (sau khi loại
bỏ các phiếu thiếu thông tin thì mẫu còn lại là 200 hộ). Sử dụng các phương pháp
thống kê mô tả, so sánh nhóm, so sánh khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá
thực trạng đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển nông nghiệp của
nông hộ theo GAP; sử dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA) để
tính toán hiệu quả đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ bao gồm
hiệu quả kinh tế tổng hợp và mức thay đổi của năng suất tổng hợp; sử dụng
phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để tìm ra các nhân tố mới; hồi
quy mô hình logistics để đánh giá tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư
theo GAP của nông hộ, hồi quy OLS để đánh giá tác động của các nhân tố đến quy
mô vốn đầu tư của các nông hộ theo GAP và hiệu quả đầu tư phát triển sản xuất
nông nghiệp của nông hộ.
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ
THEO TIÊU CHUẨN GAP
2.1. Nông hộ và đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo GAP
2.1.1. Nông hộ và vai trò của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp
Nông hộ là một đơn vị kinh tế có đất đai, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở
hữu của gia đình, sử dụng lao động chủ yếu của gia đình để sản xuất kinh doanh và
tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nông hộ vừa là nhân tố đầu vào vừa là yếu tố đầu ra tác động đến sự tăng
trưởng của nền kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông hộ là lực

trợ từ doanh nghiệp nông nghiệp, vốn từ định chế tài chính trung gian (ngân hàng
thương mại) và vốn hỗ trợ nước ngoài cho nông hộ.
Đầu tư sản xuất theo GAP của nông hộ đòi hỏi phải đầu tư một cách đồng bộ
cho tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất bao gồm đầu tư cho nguồn lực con


9

người, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu tư vật tư nông nghiệp và đầu ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ.
Để có thể phát triển sản xuất nông nghiệp theo GAP thì việc đánh giá kết quả
và hiệu quả ĐTPT SXNN của nông hộ theo GAP là vấn đề rất quan trọng, các chỉ
tiêu được sử dụng để đánh giá bao gồm tổng vốn đầu tư thực hiện, doanh thu bình
quân, năng suất bình quân, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân/tổng vốn đầu tư,
hiệu quả kinh tế tổng hợp TE và mức thay đổi năng suất tổng hợp TFPCH.
2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
của nông hộ theo GAP
2.2.1. Nhóm nhân tố điều kiện sản xuất
Điều kiện sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng đầu tư nông
nghiệp theo tiêu chuẩn GAP. Điều kiện sản xuất bao gồm điều kiện về tự nhiên (như
vị trí địa lý, địa hình, đất đai; thời tiết khí hậu; nguồn nước, thuỷ văn;…) và điều kiện
kinh tế - xã hội (như diện tích đất sản xuất của hộ; mức độ thuận lợi tiếp cận cơ sở hạ
tầng; khoảng cách từ cơ sở đến trung tâm thành phố lớn gần nhất,…)
2.2.2. Nhóm nhân tố đặc điểm nông hộ
Nông hộ đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
Muốn xây dựng thành công mô hình đầu tư sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn
GAP thì cần quan tâm nghiên cứu rất kỹ về đặc điểm nông hộ. Các đặc điểm nông
hộ bao gồm tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, kinh nghiệm của chủ hộ, thành
phần dân tộc, trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, số lao động của
hộ, trình độ trung bình của hộ.

triển về nông nghiệp theo GAP cũng có nhiều thành tựu nhưng cũng tồn tại nhiều
hạn chế tương tự ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích những mặt đạt được, những
mặt hạn chế, những giải pháp mà ba quốc gia trên đã áp dụng nhằm rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và cho Ninh Thuận nói riêng để có thể tăng
cường những tác động tích cực và hạn chế được tác động của các nhân tố đến
ĐTPT SXNN của nông hộ theo GAP.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ
THEO TIÊU CHUẨN GAP Ở TỈNH NINH THUẬN
Ninh Thuận đứng thứ ba cả nước về số nhóm sản xuất đầu tư theo tiêu chuẩn
GAP. Đây là nơi hội tụ nhiều nhất các đặc điểm khó khăn chung thuộc các nhóm
nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của ĐTPT SXNN của nông hộ theo GAP.
Như vậy, Ninh Thuận được lựa chọn làm điển hình trong nghiên cứu là hoàn toàn
phù hợp cho việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu, là minh chứng rõ nhất cho bài
toán đầu tư của nông hộ theo GAP đặt ra ở chương trước.
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Ninh Thuận.
Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với điều kiện tự nhiên
khá khắc nghiệt, hơn 63% diện tích là đồi núi, thời tiết hai mùa rõ rệt (mùa mưa và


11

12

mùa khô) với nhiệt độ trung bình 26 -270C. Điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khó
khăn với người dân tộc thiểu số chiếm gần 24% dân số, người dân chủ yếu sống
bằng nghề nông với hơn 51% lao động hoạt động trong ngành này.

theo GAP và không theo GAP. Vốn đầu tư của nhóm GAP cao hơn không GAP,
nguyên nhân chính là do tổng diện tích của GAP lớn hơn khoảng 7 đến 8 ha.

(190,02 triệu đồng/ha).
Tổng vốn đầu tư vật tư nông nghiệp thời kì đầu tư kiến thiết cơ bản (9 tháng – 1
năm) là 251,29 triệu đồng/ha, trong đó bao gồm 216,98 triệu là đầu tư cho phân bón
thuốc trừ sâu; 37,31 triệu/ha là đầu tư cho phân chuồng. Vốn đầu tư cho giai đoạn
này thấp hơn 18,41 triệu đồng/ha so với đầu tư sản xuất không theo tiêu chuẩn GAP.
Nông hộ chỉ tiến hành đầu tư khu tạo và xử lý phân vi sinh như khu vực ủ
hoai, khu vực chứa,... để phục vụ cho quá trình sản xuất nông nghiệp. Đây là một
trong những lĩnh vực còn nhiều hạn chế trong đầu tư của nông hộ.
3.2.4. Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ
theo GAP ở Ninh Thuận

Nguồn: Kết quả tính toán từ số liệu khảo sát với sự trợ giúp của phần mềm SPSS22.0

Qua thực trạng cho thấy, việc nông hộ đầu tư sản xuất nông nghiệp theo tiêu
chuẩn GAP sẽ làm tăng lượng vốn đầu tư ban đầu (14,826 triệu đồng/sào) và vốn
đầu tư hằng năm (1,245 triệu đồng/sào) cũng như chi phí sản xuất bình quân hằng
năm (4,767 triệu đồng/sào/năm) nhưng bù lại sẽ đạt được năng suất và lợi nhuận cao
hơn (0,615 tấn/sào/năm và 13,546 triệu đồng/sào/năm) so với nhóm còn lại. Do đó,
đứng ở góc độ đầu tư nếu hộ nông dân có điều kiện sản xuất thuận lợi và có thể huy
động được nguồn vốn đầu tư bổ sung lượng vốn chênh lệch thì nên đầu tư sản xuất
theo tiêu chuẩn GAP vì sẽ tạo ra được mức lợi nhuận cao hơn hẳn so với sản xuất
không theo tiêu chuẩn GAP.

Qua sơ đồ 3.1 ta thấy quy mô vốn đầu tư có xu hướng biến động qua các
năm trong đó cao nhất là năm 2016 và năm 2013 ở cả hai nhóm nông hộ đầu tư

Đối với đánh giá hiệu quả đầu tư theo chỉ tiêu lợi nhuận bình quân/ tổng vốn
đầu tư cho thấy rằng đầu tư theo tiêu chuẩn GAP có tỷ suất lợi nhuận bình quân

Sơ đồ 3.1: Quy mô vốn ĐTPT SXNN của nông hộ tại Ninh Thuận

và 4,4 cao hơn nhóm còn lại với kết quả lần lượt là 3,7 và 4,0. Diện tích bình quân
của nhóm GAP đạt 3,0 sào, cao hơn nhóm không GAP 0,8 sào.
Phương pháp DID và phương pháp so sánh bình quân nhóm cũng cho kết
luận tương tự. Cụ thể, phương pháp DID cho kết quả là việc sản xuất theo tiêu
chuẩn GAP đã tác động đến việc thúc đẩy cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
và tạo ra mức khác biệt 0,59 điểm. Và phương pháp so sánh bình quân cho thấy
các hộ sản xuất theo tiêu chuẩn GAP thường có quy mô diện tích lớn hơn các hộ
không theo tiêu chuẩn GAP với bình quân 0,8417 sào, mức thuận lợi về thời tiết
cũng được đánh giá cao hơn 0,23 điểm

14

3.3.2. Nhóm nhân tố đặc điểm nông hộ
Theo phân tích định tính cho kết quả: đặc điểm nông hộ có ảnh hưởng rất
lớn đến ĐTPT SXNN của nông hộ theo GAP. Tư duy sản xuất kiểu cũ vốn tồn tại
từ rất lâu của nông hộ sẽ ảnh hưởng tiêu cực và làm kìm hãm sự phát triển của
nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn GAP.
Đa số các nông hộ sản xuất theo GAP thì có liên kết với các nông hộ
khác(LKND) (chiếm 96%) còn nhóm còn lại thì chỉ sản xuất đơn lẻ, không có sự
liên kết với các hộ khác trong sản xuất nông nghiệp.
So sánh trung bình giữa nhóm hộ sản xuất theo GAP với không theo GAP
cho thấy tuổi của chủ hộ không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Năm kinh nghiệm
của nhóm sản xuất theo GAP thấp hơn 2,44 năm, số lao động lớn hơn 0,4 người và
mức hiểu biết về GAP cao hơn 1,644 điểm/5 điểm.
3.3.3. Nhóm nhân tố thị trường
Phân tích định tính cho kết quả thị trường có nhiều nhân tố tác động mạnh
đến đấu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP.
Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đạt GAP được đánh giá khá cao 4,9
điểm trong khi sản phẩm không đạt GAP chỉ đạt bình quân 3,5 điểm. Giá của sản
phẩm GAP cũng cao hơn nhóm còn lại với giá bình quân 18,9 triệu đồng/tấn. Tuy

do đó về cơ bản các hộ được khảo sát đều có khả năng tham gia sản xuất theo tiêu
chuẩn GAP không bị giới hạn bởi điều kiện sản xuất. Về hỗ trợ doanh nghiệp thì
hiện tại Ninh Thuận có số lượng doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo tiêu chuẩn GAP
rất hạn chế, các doanh nghiệp chỉ hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho các hộ sản xuất đã
sản xuất theo tiêu chuẩn GAP mà hoàn toàn không hỗ trợ gì cho nhóm còn lại do đó
hỗ trợ này không ảnh hưởng đến các hộ không sản xuất theo tiêu chuẩn GAP.

3.3.5. Nhóm nhân tố hỗ trợ của nhà nước
Theo khảo sát cho thấy, có sự chênh lệch giữa hai nhóm trong đánh giá của
các nông hộ về hỗ trợ của nhà nước trong đó nhóm theo GAP đánh giá tốt hơn về sự
hỗ trợ của nhà nước bao gồm hỗ trợ về mặt kỹ thuật 4,0 điểm (cao hơn 0,6 điểm) và
hỗ trợ về vốn 3,3 điểm (cao hơn 0,5 điểm). Qua số liệu cũng cho thấy nhà nước tập
trung hỗ trợ cho nông hộ về mặt kỹ thuật còn hỗ trợ về vốn còn tương đối hạn chế
hơn. Riêng các hộ theo GAP cũng đã đánh giá mức độ quan trọng và mức độ phù
hợp của nhà nước hỗ trợ trên mức trung bình với mức điểm bình quân của các đánh
giá lần lượt là 3,8 điểm và 3,7 điểm
Kết quả phân tích DID cũng đã cho thấy việc tham gia GAP đã giúp cho các
hộ sản xuất theo GAP nhận được sự hỗ trợ gia tăng tốt hơn từ nhà nước về kỹ
thuật với mức chênh lệch 0,76 điểm/5điểm (với mức ý nghĩa 99%), và nhận được
sự hỗ trợ trung bình về vốn cao hơn nhóm không sản xuất theo GAP với chênh
lệch 0,49 điểm
Bên cạnh nghiên cứu định lượng thì nghiên cứu định tính cũng khẳng định
rằng sự hỗ trợ của nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự thành công
của đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP, tuy nhiên nhà
nước chỉ có thể hỗ trợ bước đầu, không thể trông chờ mãi vào nhà nước.
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ
THEO TIÊU CHUẨN GAP
4.1. Phân tích tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư theo GAP của
nông hộ

theo tiêu chuẩn GAP
4.2.1. Phân tích nhân tố khám phá
Sau khi thực hiện phân tích nhân tố thì kết quả cuối cùng có 8 thành phần
với 26 biến quan sát đại diện cho các nhân tố tác động đến ĐTPT SXNN theo tiêu
chuẩn GAP là QTHTNN (tầm quan trọng của hộ trợ nhà nước) bao gồm 7 biến;


17

18

PHHTNN (mức độ phù hợp của hỗ trợ của nhà nước)bao gồm 7 biến; HBGAP
(Hiểu biết về GAP của chủ hộ) bao gồm 5 biến; DNHT (hỗ trợ của doanh nghiệp
cho nông hộ sản xuất theo tiêu chuẩn GAP) bao gồm 2 biến; NNHT (hỗ trợ của
nhà nước cho nông hộ sản xuất theo tiêu chuẩn GAP) bao gồm 2 biến; TT (sự phù
hợp của thời tiết) bao gồm 1 biến; NCTT (Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đạt
GAP) bao gồm 1 biến; và CSHT (sự phù hợp của cơ sở hạ tầng) bao gồm 1 biến.

làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,233% (β1= -0,233), (2) Lao động trong hộ
- khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,164% (β6= -0,164), (3)
Diện tích- khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,083% (β3= -0,083)
và Tuổi của chủ hộ - khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,103%
(β4= -0,103).
Kiểm tra tính tương quan giữa số liệu khảo sát và số liệu công bố
Để đảm bảo độ tin cậy của số liệu khảo sát, tác giả thực hiện kiểm định mối
quan hệ tương quan giữa dữ liệu khảo sát của tác giả và dữ liệu công bố từ niên giám
thống kê tỉnh Ninh Thuận, tác giả sử dụng dữ liệu năng suất bình quân/sào/năm của
Nho và Táo theo thống kê và được tính toán của tác giả từ dữ liệu khảo sát để thực
hiện phép toán này.


tư của nông hộ theo GAP là (1) Thời tiết - khi tăng 1 điểm thời tiết thuận lợi sẽ

Hình 4.1: Tương quan mối quan hệ giữa số liệu khảo sát và số liệu thực tế
Nguồn: Kết quả tính toán từ số liệu khảo sát và số liệu thực tế trích trong niên
giám thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2016 với sự trợ giúp của phần mềm Excel
Kết quả kiểm tra tính tương quan cho thấy, số liệu khảo sát và số liệu thực tế
có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau, hệ số tương quan pearson = 0,984
(Sig. =0,000
Ba phương hướng chính trong việc thúc đầy đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp của nông hộ theo GAP cần được quan tâm đúng mức: một là, ĐTPT SXNN
của nông hộ theo GAP phải có quy hoạch và tiến hành theo lộ trình, đảm bảo phát
triển bền vững; hai là, ĐTPT SXNN của nông hộ theo GAP cần gắn với quá trình
xây dựng nông thôn mới; và ba là, tiếp tục phát huy mặt tích cực và hạn chế các mặt
tiêu cực của các nhân tố tác động đến đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của
nông hộ theo GAP.

4.4. Đánh giá các nhân tố tác động đến đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp của nông hộ

5.2. Các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy nông hộ đầu tư phát triển nông
nghiệp theo GAP

Nhìn chung, nhu cầu thị trường, giá bán và hỗ trợ của nhà nước tác động
mạnh đến quyết định tham gia đầu tư sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP
trong khi hiểu biết về GAP lại có tác động khá yếu nhất đến quyết định này, điều
này có thể lý giải cho một hiện trạng đầu tư của nông dân Việt Nam nói chung và
Ninh Thuận nói riêng, đó là người nông dân quyết định đầu tư nói chung và theo
GAP nói riêng chủ yếu theo xu hướng chạy theo đám đông, nhìn vào thực tế diễn
ra trước mắt mà ít tính đến hiệu quả lâu dài, đồng thời phụ thuộc rất lớn vào hỗ
trợ của nhà nước, nhưng lại ít dựa trên những hiểu biết thực tiễn về GAP và nhận
ra các giá trị cốt lõi khi tham gia GAP. Điều này dễ dẫn đến một tình trạng mà
nông nghiệp Việt Nam đang thường xuyên mắc phải đó là “được mùa mất giá,
được giá mất mùa”.

5.2.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng sản xuất an toàn phù hợp
với điều kiện từng địa phương

Quy mô vốn đầu tư chịu sự tác động mạnh từ các nhân tố lợi nhuận, khả

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ phục vụ sản xuất.
5.2.2. Nâng cao sự hiểu biết và trình độ sản xuất của nông hộ theo GAP
Theo kết quả nghiên cứu điển hình tại Ninh Thuận, sự hiểu biết của nông hộ
về GAP ảnh hưởng tích cực tới khả năng chuyển đổi đầu tư sản xuất nông nghiệp
sang đầu tư theo GAP. Muốn kích thích đầu tư của nông hộ theo GAP trước hết
cần phải làm cho họ hiểu về những lợi ích do GAP mang lại. Bên cạnh đó, cần
nâng cao trình độ sản xuất của nông hộ đáp ứng yêu cầu sản xuất theo GAP. Giải
pháp cụ thể bao gồm:
Đối với nhà nước: Tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người nông dân
về những lợi ích và hiệu quả của đầu tư phát triển sản xuất theo tiêu chuẩn GAP;
tăng cường tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật cho nông hộ thay đổi phương thức canh tác
và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP; khuyến khích lực lượng lao động đã qua đào tạo
tham gia ĐTPT SXNN theo GAP.

Đối với nông hộ: Tăng cường liên kết giữa các hộ nông dân để tạo ra
mạng lưới đầu tư đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi mở rộng quy mô sản xuất; chủ
động liên kết với các doanh nghiệp nhằm tạo ra chuỗi liên kết sản xuất bền vững
Đối với doanh nghiệp: Chủ động trong việc liên kết với nông dân, có kế
hoạch đầu tư hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và vốn cho nông hộ; mở rộng và tìm
kiếm thị trường mới; tuân thủ hợp đồng hợp tác sản xuất kinh doanh, xây dựng
hợp đồng dựa trên cơ sở có lợi cả hai bên.

Đối với nông hộ: Chủ động tìm hiểu về quy trình sản xuất theo GAP và
những hữu ích của nó mang lại trong sản xuất nông nghiệp; tuân thủ nghiêm quy
trình và giải pháp kỹ thuật sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Đối với nhà khoa học: Nghiên cứu phát triển các loại vật tư nông nghiệp
phục vụ sản xuất đặc biệt là sản xuất theo GAP; hỗ trợ xây dựng quy trình sản
xuất, hỗ trợ về công nghệ sản xuất,…



24

KẾT LUẬN

trợ của nhà nước – khi tăng 1 điểm làm tăng lượng vốn theo GAP lên 0,138%
(β14=0,138). Đồng thời, có bốn nhân tố tác động ngược chiều tới quy mô vốn đầu
tư của nông hộ theo GAP là (1) Thời tiết - khi tăng 1 điểm thời tiết thuận lợi sẽ
làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,233% (β1= -0,233), (2) Lao động trong hộ
- khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,164% (β6= -0,164), (3)
Diện tích- khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,083% (β3= -0,083)
và Tuổi của chủ hộ - khi tăng 1% làm giảm lượng vốn theo GAP xuống 0,103%
(β4= -0,103).

Đầu tư phát triển nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP là hướng đi tất yếu để
phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần đảm bảo an toàn cho người sản xuất,
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Sản
xuất nông nghiệp theo GAP của các hộ nông dân hiện còn khá hạn chế, vì vậy
nghiên cứu này tập trung tìm hiểu những nhân tố tác động đến đầu tư phát triển
nông nghiêp của nông hộ theo tiêu chuẩn GAP, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải
pháp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và khảo sát bằng bảng
hỏi 200 hộ sản xuất Nho, Táo tại Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6
nhân tố tác động tích cực đến quyết định đầu tư theo tiêu chuẩn GAP của nông hộ
là (1) Nhu cầu thị trường, khi tăng 1 điểm làm tăng khả năng đầu tư theo GAP lên
44,968%, (2) Giá bán sản phẩm – giá tăng 1% làm tăng khả năng đầu tư theo GAP
lên 37,742%, (3) Hỗ trợ của Nhà nước – khi hỗ trợ tăng 1 điểm làm tăng khả năng
đầu tư theo GAP lên 28,805%, (4) Hiểu biết về GAP của chủ hộ tăng - khi tăng 1
điểm làm tăng khả năng đầu tư theo GAP lên 10,365%, (5) Lợi nhuận bình quân lợi nhuân tăng 1% làm tăng khả năng đầu tư theo GAP lên 8,316%, (6) Tuổi chủ
hộ -khi tuổi tăng 1% làm tăng khả năng đầu tư theo GAP lên 3,336%; và một nhân

với tình huống địa bàn nghiên cứu tỉnh Ninh Thuận và hai loại sản phẩm là Nho và
Táo. Các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét nghiên cứu tại các vùng và các
ngành hàng nông sản khác ...để có được một bức tranh toàn diện hơn về đầu tư
nông nghiệp theo GAP, giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý có
cơ sở khoa học đầy đủ để đề xuât các giải pháp thúc đẩy nông nghiệp phát triển
bền vững.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status