Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo nghèo đa chiều, và những giải pháp nhằm xóa bỏ đói nghèo trên địa bàn thị xã dĩ an, tỉnh bình dương - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HỒ HẢI NAM

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ
NĂNG NGHÈO – NGHÈO ĐA CHIỀU, VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ
AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Đồng Nai, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HỒ HẢI NAM

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ
NĂNG NGHÈO – NGHÈO ĐA CHIỀU, VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ
AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG


thôn ngày càng gia tăng, nhiều hộ gia đình có khoảng thu nhập và chi tiêu quá thấp,
không đảm bảo giải quyết được những nhu cầu cơ bản của cuộc sống, thậm chí
cũng có một bộ phận dân cư có tính ỷ lại hoặc trông chờ vào các chính sách hỗ trợ
của Nhà nước mà thiếu sự tích cực trong việc tự vươn lên để xoá đói giảm nghèo.
Thứ nhì: Công cuộc xoá đói giảm nghèo chưa thật sự bền vững, do đó tỉ lệ
hộ gia đình tái nghèo còn cao.
Thứ ba: Ngân hàng Thế giới – World Bank đã nâng chuẩn nghèo của các
nước đang phát triển, theo Bà Valeri Kozel, đại diện của Ngân hàng thế giới (WB)
cho biết: Chuẩn nghèo quốc tế gần nhất đang được đặt ở mức 1,25 USD/người/ngày.
Chuẩn này được hình thành làm trung bình chuẩn nghèo quốc gia của 15 nước


2

nghèo nhất. Do đó, nước Việt Nam cũng nâng chuẩn nghèo lên để cho phù hợp với
chuẩn nghèo thế giới. Với chuẩn nghèo mới này thì tỷ lệ hộ nghèo của cả nước nói
chung và riêng với thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương sẽ tăng lên.
Những thách thức này đã làm cản trở sự phát triển bền vững, ảnh hưởng đến
việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung, trên địa bàn
tỉnh Bình Dương và thị xã Dĩ An nói riêng.
Theo những quan niệm và cách tiếp cận trước đây, nghèo đói được xem xét
với mức độ đơn chiều. Nghĩa là, một người hay một hộ gia đình được xem như là
nghèo căn cứ vào thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn một ngưỡng tiêu chuẩn tối thiểu
được quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một khoảng thời
gian nào đó.
Theo cách tiếp cận mới hiện nay, nghèo đói được xem xét với nhiều khía
cạnh khác nhau còn gọi là nghèo đa chiều. Đứng trên góc độ của kinh tế phát triển,
nghèo đa chiều là sự thiếu hụt cả về văn hoá, y tế, giáo dục và chất lượng cuộc sống
chứ không phải chỉ riêng về thu nhập hoặc chi tiêu.
Hiện nay, những hiện tượng nghèo mới, hình thức mới của sự đói nghèo là

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn thị xã Dĩ An trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo, nghèo đa chiều của hộ gia
đình trên địa bàn khu vực thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng nghèo đói của hộ gia đình nông thôn
trên địa bàn thị xã Dĩ An. Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo, nghèo đa
chiều của hộ gia đình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp kinh tế chủ yếu, kết
hợp với các giải pháp xã hội để xoá đói giảm nghèo.
Về không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại các hộ gia đình thuộc phạm vi địa bàn
thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.


4

Về thời gian
- Đề tài tập trung thu thập và nghiên cứu số liệu thứ cấp trên địa bàn thị xã Dĩ
An thời kỳ 2010 – 2012.
- Số liệu sơ cấp được điều tra, thu thập ở các hộ gia đình trên địa bàn thị
xã Dĩ An trong năm 2013.
4. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài chia
làm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn nghèo, nghèo đa chiều
Chương 2. Đặc điểm cơ bản ở thị xã Dĩ An và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu

mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu
để tồn tại”.
-Theo quan điểm của ngân hàng thế giới World Bank (WB): Ngưỡng nghèo


6

là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi là
nghèo. Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một
quốc gia. Theo World Bank thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả
cho số hàng hoá lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày.
-Theo Ông Abapia Sen, người được giải Nobel về kinh tế năm 1998, cho
rằng:“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng”
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
nghèo đói, và tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt:
a. Khái niệm nghèo
Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những
nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
b. Khái niệm đói
Đói là một khái niệm dùng diễn đạt tình trạng con người ăn không đủ no,
không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không
đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động.
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các
hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng
đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không có gì đáng kể, nhà
ở tạm bợ, con cái thất học, bình quân lương thực dưới 13 kg gạo/người/tháng.
Tất cả những quan niệm, khái niệm về đói nghèo nêu trên đều phản ánh ba

và sự lựa chọn bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện con người: điều kiện
vật chất, giáo dục, tiếp cận y tế, chăm sóc sức khỏe.
- Năm 2003: UNDP, phát triển khái niệm nghèo khổ đa chiều trên khía cạnh
“Quyền lợi” cơ bản của con người: Quyền tự do, quyền bình đẳng, sự khoan dung.
Vậy, nghèo đa chiều là tình trạng nghèo của một bộ phận dân cư bị thiếu hụt
trầm trọng về các điều kiện vật chất và quyền cơ bản để đảm bảo sự sinh tồn và phát
triển toàn diện của con người.
Nghèo đa chiều là một chuẩn nghèo đang được áp dụng trong việc giảm
nghèo tại nhiều nước nhưng là một khái niệm khá mới mẻ đối với Việt Nam. Nghèo


8

đa chiều là tình trạng nghèo về mặt kinh tế và thiếu hụt ít nhất một trong nhiều nhu
cầu xã hội thiết yếu.
Nghèo đa chiều được đo lường bằng Chỉ số nghèo đa chiều MPI
( Multidimensional Poverty Index).
Tại nhiều nước, những người được tính là nghèo đa chiều khi có thu nhập
bình quân nằm dưới chuẩn nghèo và thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xã
hội như: giáo dục, y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản tại nơi ở, lương thực,
thực phẩm…
+ Nói chung, một hộ gia đình bị coi là nghèo đa chiều nếu thiếu thốn 30%
trên tổng số những chỉ tiêu sau :
Gia đình ở nhà nền đất hay nền gì?
Có nhà vệ sinh không ?
Có điện dùng không ?
Có phải đi bộ hơn 30 phút mới tới được chỗ lấy nước hay không ?
Có trẻ em nào không được tới trường ?
Trong gia đình có ai chưa học xong cấp 1?
Có người nào trong gia đình bị suy dinh dưỡng hay không ?

1.1.1.4. Phân loại nghèo
Tình trạng nghèo đói được đặt trong mối tương quan với mức chuẩn nghèo
đói được xã hội quy định và thừa nhận tại thời điểm đánh giá. Một người có thể
nghèo tương đối nhưng không nhất thiết phải bị rơi vào nghèo tuyệt đối và ngược
lại. Do vậy, cần phải phân biệt các dạng nghèo đói khác nhau.
a. Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,
Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt
đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của
cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
b. Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào


10

hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung
cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Như vậy, nghèo
tuyệt đối là tình trạng mà những người nghèo không đạt được mức sống tối thiểu
theo quy định. Nghèo tương đối để chỉ mức nghèo trong mối quan hệ so sánh giữa
những người nghèo với các nhóm dân cư khác trong xã hội.
c. Nghèo sơ cấp
Hay còn gọi là nghèo hữu hình, là tình trạng mức sống của người được nghiên
cứu thấp đến mức họ không tự đảm bảo được sự tồn tại có tính hữu hình của họ.
d. Nghèo thứ cấp
Là nghèo về tinh thần, là sự thiếu thốn trong lĩnh vực tâm lý xã hội.

độ nghèo và xác định đối tượng nghèo tại Việt Nam. Có thể phân thành các nhóm
sau:
1. Thu nhập của hộ;
2. Chi tiêu của hộ;
3. Bản đồ nghèo;
4. Phân loại của địa phương;
5. Xếp hạng giàu nghèo;
a. Phương pháp dựa vào thu nhập
Phương pháp này có cơ sở khoa học và tính toán đơn giản thường được áp
dụng ở một số nước Châu Mỹ và Châu Á trên cơ sở lý luận cho rằng người nghèo là
người có mức thu nhập rất thấp không đủ để trang trải cho các chi phí về lương thực,
thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác. Do vậy, theo phương pháp này chuẩn nghèo
được xác định bằng khoảng 1/2 mức thu nhập bình quân đầu người. Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội cho rằng “Theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo
có mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội.”
Việc xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 hay bằng 1/3 mức thu nhập bình
quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi
quốc gia và khoảng dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong khoảng từ 1/2 đến 1/3
mức thu nhập bình quân. Đối với các nước phát triển, có thu nhập bình quân cao thì
có thể lấy mức 1/2; Các nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3.


12

Đối với nước ta, là nước đang phát triển nên có thể lấy trong khoảng từ 1/2
đến 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người.
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, ít tốn kém chi phí vì
có thể sử dụng các số liệu có sẵn, các địa phương cũng có thể tự tính toán để xây
dựng chuẩn nghèo cho địa phương mình. Nhưng có nhược điểm là sự điều chỉnh
chuẩn nghèo sẽ nằm trong một khoảng dao động lớn. Do lấy từ 1/2 đến 1/3 mức thu

xác cao. Phản ánh đúng thực trạng của cuộc sống và được nhiều quốc gia sử dụng
và có sơ sở để so sánh với các quốc gia khác.
Nhưng phương pháp này có nhược điểm là việc thu thập các thông tin về mặt
hàng trong từng thời kỳ khác nhau, chi tiêu của hộ dân cư thì rất phức tạp nhiều
khoản chi lớn nhỏ khác nhau nên tốn nhiều thời gian và tốn nhiều chi phí. Khi xác
định mức độ nghèo thì phải tổ chức điều tra chọn mẫu với cỡ mẫu lớn để tránh sai
số. Vì vậy, phương pháp này đáng tin cậy khi xác định đối tượng nghèo ở phạm vi
cấp tỉnh, còn cấp huyện, xã thì không thể áp dụng được.
c. Vẽ bản đồ nghèo
Phương pháp này là kết hợp giữa điều tra hộ gia đình trên phạm vi rộng với
Tổng điều tra dân số. Trong các cuộc điều tra hộ như điều tra mức sống hộ gia đình
sẽ thu thập các thông tin không những chỉ về thu nhập, chi tiêu mà còn bao gồm
hàng loạt các thông tin biến số khác như quy mô hộ, thành phần dân tộc của hộ,
trình độ học vấn, nghề nghiệp của các thành viên trong hộ và tài sản của hộ.
Trong Tổng điều tra dân số, không điều tra chủ yếu về thu nhập, chi tiêu
nhưng lại cũng bao hàm các thông tin của điều tra mức sống của hộ.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là kết hợp hai công cụ thống kê trên và được
tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Xác định các biến số chung giữa điều tra hộ với các thông tin của
cuộc tổng điều tra dân số cùng kỳ.
Bước 2: Tiến hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi
tiêu bình quân đầu người với những biến số.
Bước 3: Sử dụng kết quả phân tích thống kê để dự báo chi tiêu của những hộ
có trong điều tra dân số.
Mức chi tiêu dự báo này sẽ làm căn cứ đánh giá xem một hộ nào đó có phải


14

thuộc diện là hộ nghèo hay không? Về mặt này, vẽ bản đồ nghèo sẽ cho phép tính

15

chịu cố gắng làm ăn.
e. Xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thường được áp dụng nhiều nhất trong PPA (Participatory
Poverty Assessment – Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân), bao gồm một
tập hợp tất cả các nhận xét về hiện trạng của các hộ trong một cộng đồng. Các hộ
trong một cộng đồng được tập hợp lại theo một danh sách có thứ tự và phân loại các
hộ trong số đó. Trong PPA, những người tham dự được chọn lựa sao cho có đủ hai
thành phần giới tính (Nam, nữ), người trẻ, người già, hộ nghèo và hộ không nghèo.
Bên đại diện cho chính quyền địa phương gồm cả trưởng thôn, trưởng ấp. Những
cán bộ làm công tác xã hội từ những tổ chức phi chính phủ, hoặc các tổ chức nghiên
cứu khác trong nước được giao lưu với chính quyền cấp xã/ phường đứng ra làm
đầu mối tổ chức. Trên cơ sở xem xét những vấn đề chính ảnh hưởng đến đời sống
của các hộ dân cư, việc phân loại hộ thường được thực hiện thông qua cách phân
loại theo nhóm nhằm chỉ ra những đặc trưng của hộ nghèo, người nghèo. Sau đó,
phát hành những tờ phiếu có ghi tên tất cả các hộ trên địa bàn và phân phát cho tất
cả các thành viên tham dự để tự họ phân loại hộ vào các nhóm.
Cuối cùng, những hộ được phân loại khác nhau bởi ít nhất hai thành viên sẽ
được đem ra thảo luận chung trong cả nhóm. Từ đó, tìm hiểu nguyên nhân sự khác
nhau và đi đến sự nhất trí liên quan đến sự phân loại phù hợp cho mỗi trường hợp.
Do vậy, phương pháp xếp hạng giàu nghèo mang tính toàn diện hơn những
phương pháp chỉ dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu hay phương pháp tự đánh giá hay
phân loại của chính quyền địa phương. Nhược điểm của phương pháp này là tốn
kém chi phí, do phải tổ chức tham dự của nhiều thành phần tham gia.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường nghèo
a. Chuẩn nghèo (Ngưỡng nghèo)
Chuẩn nghèo là một ranh giới để phân biệt đối tượng người nghèo với những
đối tượng không nghèo khác. Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó tồn tại và
biến đổi theo thời gian và không gian căn cứ vào từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã

Trong luận văn, tác giả đề cập đến chuẩn nghèo áp dụng cho hộ nghèo của
các giai đoạn gần đây nhất của Việt Nam là Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015.
Theo quyết định của thủ tướng Chính phủ Việt Nam số 09/2011/QĐ – TTg ký


17

ngày 30 tháng 01 năm 2011 như sau:
1. Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (Tức 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
2. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (Tức 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
3. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
4. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
b. Các thước đo về nghèo
Để đo lường về nghèo, các nhà nghiên cứu thường tính toán các chỉ tiêu
thống kê mô tả như: Tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo và tính nghiêm trọng của
nghèo.
Theo James E.Foster (Trường Đại học George Washington), Joel Greer và
Erik Thorbacke (Trường Đại học Cornell), Viện chính sách Kinh tế Quốc tế Institute for International Economic Policy (1984), đã chỉ ra rằng 3 chỉ tiêu trên có
thể được tính toán từ một công thức chung như sau:

1
P 
N

 z  yi 


Khi   1 , ta có P là khoảng cách nghèo. Chỉ tiêu này cho biết sự thiếu hụt
trong chi tiêu hoặc thu nhập của người nghèo, và nó biểu hiện như mức độ trung
bình của tất cả mọi người nghèo trong vùng.
 Tính nghiêm trọng của nghèo
Khi   2 , ta có P là chỉ số bình phương khoảng cách nghèo. Chỉ số này
thể hiện mức độ nghiêm trọng của nghèo và có xét đến trọng số về thu nhập hay chi
tiêu của người nghèo, nghĩa là người càng nghèo thì trọng số này càng lớn. Chỉ số
này có ưu điểm là quan tâm nhiều đến nhóm người nghèo nhất.
c. Bất bình đẳng
Một khái niệm khác có liên quan đến khía cạnh về nghèo đói đó là “Bất
bình đẳng”. Mặt dù mối quan hệ giữa nghèo đói và bất bình đẳng không mang tính
cơ học, nhưng nhìn chung nếu tình trạng bất bình đẳng tăng lên thì khoảng cách
chênh lệch về thu nhập giữa những người nghèo và những người giàu càng lớn,
nhưng xét về khía cạnh nghèo tương đối thì tỷ lệ người nghèo sẽ tăng lên. Điều này
cho thấy, nghèo đói và bất bình đẳng có quan hệ với nhau.
Để đo lường mức độ bất bình đẳng, các nhà nghiên cứu thường sử dụng hệ
số Gini. Ký hiệu là: G;
Hệ số Gini là hệ số dùng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập. Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường
cong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối (Đường thẳng hợp với trục hoành một
góc có số đo là 450) với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối trong
hệ trục toạ độ Đề Cac. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người
Ý, Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang
tên "Variabilità e mutabilità".


19

Hệ số Gini có giá trị sau:



Phần trăm thu
nhập cộng dồn
(%)

Đ
ư


ng

ng
hi
ên
g

45 0

80

20

Phần trăm dân số
Cộng dồn (%)

10

30

40

tiền mà còn phản ảnh qua mức sống của người dân. Từ năm 1997, Chương Trình
Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã dùng chỉ số phát triển con người HDI
(Human Development Index) để đo mức sống của người dân gồm 3 yếu tố là tuổi
thọ, giáo dục và lợi tức. Từ năm 2010, Liên Hiệp Quốc áp dụng một phương thức
mới để đo mức nghèo một cách toàn diện hơn gồm các yếu tố tiền tệ và phi tiền tệ


21

gọi là chỉ số nghèo đói đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) do Sabrina
Alkira và Maria Emma Santos, hai chuyên gia của OPHI (Oxford Poverty and
Human Development Initiative) thuộc Đại học Oxford sáng chế.
Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, và ứng dụng bởi OPHI
(Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường đại học
Oxford và được UNDP ủng hộ. Chỉ số này thay thể chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI)
đã được nêu trong các báo cáo phát triển con người thường niên từ 1997.
Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ảnh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói.
Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo
(Incidence of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (Average
Intensity Across the Poor). Một người được xác định là nghèo nếu anh hoặc chị ta
thiếu ít nhất 30% các chỉ báo đã được gia trọng.
Chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay
những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về
sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cung
cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập
giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các
cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ
quốc tế. Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ được
điều chỉnh để sử dụng ở cấp quốc gia ở Mexico và hiện nay đang được xem xét áp
dụng ở Chile và Colombia.

Tử vong ở trẻ em

Gia đình có bất kỳ một đứa trẻ chết.

Dinh dưỡng

Gia đình có người thiếu dinh dưỡng.

Giáo

Số năm đi học

Có người không học hết 5 năm tiểu học.

dục

Bỏ học

Có người không đi học đến lớp 8.

Y tế

Nhiên liệu để nấu ăn Nấu ăn bằng gỗ, phân động vật, than, củi.

Mức
sống

Nhà vệ sinh

Không có nhà vệ sinh.


Chỉ tiêu

Chuẩn nghèo

Số năm học

Người từ 15 tuổi trở lên không học hết tiểu học

Bỏ học

Người từ 6 đến 18 tuổi không đi học

Giáo dục

Y tế

Chi phí y tế

phải ngưng chữa trị vì không đủ tiền.

Điện

Không có điện để sử dụng làm nguồn thắp sáng

Nước sạch

Không tiếp cận được nguồn nước sạch

Vệ sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status